PHÂN TÍCH ĐA DẠNG NGUỒN GEN DƯA LEO (Cucumis sativus L.) BẰNG KỸ THUẬT EST - MICROSATELLITE (eSSR)
DOI:
https://doi.org/10.71254/xyeq2d23Abstract
For each of the 12 quantitative traits, the mean, range (maximum and minimum), standard deviation, coefficient of variation (CV), mean standard error and F value were calculated for 20 cucumbers. Results show that most of the quantitative traits are highly variable. The average morphological parameters of characteristics related to the date of flowering, high plants, number of leaves, number of flowers of genotypes over 20 varieties of cucumbers were analyzed. The Phung Tuong has a very early appearance of 50% of flowering female flowers (20.92 days after sowing seeds), while the Indonesia is recorded as the longest flowering time (41.11 days after sowing seeds). Dai Loan varieties have a maximum fruit weight (265 g), the maximum number of fruits per plant is Binh Phu cucumber (8.70 day). The tallest fruit length is the Thai Variety (00L) long (21.2 cm). The width ranges from 10.2 cm to 13.5 cm. The yield fluctuates from 0.53 kg/plant to 2.14 kg/plant. The tallest variety is Thai green cucumbers (2.14 kg/plant). Genetic Divergence of cucumber (Cucumis sativus L.) by EST - microsatellite (eSSR). Analysis of 20 cucumber of the Mekong detla is cultivated in to analyse the genetic and diversity of these varieties. The recorded result has 20 varieties for eSSR markers for have been used to genetic diversity among 20 varieties and a distant outgroup was analysed. Out of the 44 primers for eSSR 24 primers reproducte a total 186 bands of which 75 alen were polymorphic. The average number of fragment amplified by SSR marker across the cucumber have been 180 bp - 400 bp. EST - SSR markers across that from 90% - 100% polymorphism. Information contents: PIC (0.07 to 0.46). Genetice diversity - H (= 0.23) and allele/locus. Shannon I (0.88). Band spetra analysied by UPMGA (Unweighted pair group method with arithmetic Mean) showed 4 major Clusters and close relatedress amond 20 varieties. This is maybe significant for designing breeding program towards. Some markers good for efficient breeding for rice varieties such as CSJCT266, EC47, EC49.
Keywords:
Efficient breeding, EST - microsatellite (eSSR), genetic parameters SSR markers, UPGMA.Tóm tắt
Đánh giá 12 đặc điểm định lượng, trung bình, phạm vi (tối đa và tối thiểu), độ lệch chuẩn, hệ số biến thể (CV), trung bình chuẩn và giá trị F đã được tính toán thống kê của giống dưa leo (Cucumis sativus L.). Kết quả cho thấy, hầu hết các đặc điểm định lượng về kiểu hình là rất khác nhau. Kiểu gen giống dưa Phụng Tường có sự xuất hiện rất sớm của 50% hoa được trỗ (20,92 sau khi gieo hạt), trong khi đó, giống dưa du nhập từ Indonesia được ghi nhận thời gian ra hoa là dài nhất 41,11 ngày sau khi gieo hạt). Giống dưa Đài Loan có khối lượng trái tối đa là 265 g, số lượng trái tối đa cho mỗi dây cao nhất là giống dưa Bình Phú là (8,70 trái/dây). Chiều dài trái cao nhất là giống dưa Thái Lan (00L) dài 21,2 cm. Chiều rộng biến động từ 10,2 cm - 13,5 cm. Năng suất biến động từ 0,53 kg/dây đến 2,14 kg/dây. Giống cao nhất vẫn là giống dưa Thái Lan (xanh) (2,14 kg/dây). Chỉ thị phân tử đã được sử dụng để nghiên cứu sự khác biệt di truyền với 20 giống dưa leo khác nhau. Trong số 3 cặp mồi SSR và 21 cặp mồi eSSR được sao chép với tổng số 186 băng trong đó có 75 alen là đa hình. Số lượng trung bình các mảnh gen được khuếch đại bằng chỉ thị phân tử eSSR (kích thước 180 bp đến 400 bp). Cặp mồi eSSR được sử dụng trong nghiên cứu, sản phẩm sản xuất PCR cho tỷ lệ biến động từ 90% đến 100%, hệ số PIC biến động từ 0,07 đến 0,47. Kết quả thu được chỉ số đa dạng Shannon I trên các tính trạng (0,88), chỉ số đa dạng di truyền (H= 0,23) và băng điện di được phân tích bằng phương pháp UPMGA chia thành 4 nhóm chính có mối liên quan di truyền, trong đó đặc biệt chú ý đến chương trình nhân giống hiệu quả với mục tiêu cải tiến giống. Dựa vào số lượng và tần số ghi điểm của các đoạn ADN, tỷ lệ đa hình và các thông số hiệu quả khác sau khi tổng hợp lại thì dường như CSJCT266, EC 47, EC 49 là những chỉ thị phân tử có hiệu quả và có thể được sử dụng để sàng lọc phân tử trong nguồn gen cây dưa leo.








