Số 15 (2022)

					Xem Số 15 (2022)
Đã Xuất bản: 15-08-2022

Bài viết

  • PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ DI TRUYỀN CỦA MỘT SỐ MẪU GIỐNG GẤC (Momordica cochinchinensis (Lour.) Spreng) THU THẬP Ở VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ TRÌNH TỰ VÙNG ITS

    Abstract : 0 PDF: 0
    Phạm Hồng Minh, Nguyễn Văn Khiêm, Phạm Xuân Hội
    3-11

    Trong nghiên cứu này, mối quan hệ di truyền của 40 mẫu giống gấc (Momordica cochinchinensis) thu thập từ 18 tỉnh/thành ở Việt Nam đã được đánh giá trên cơ sở trình tự vùng ITS. Vùng ITS dài 654 bp, có mức bao phủ 100% và tương đồng di truyền cao nhất từ 93,9 - 99,69% so với vùng ITS đã công bố trên GenBank với mã số AY606266. Kết quả phân tích cho thấy vùng biến đổi có 74/654 vị trí, chiếm 11,31% và vùng bảo tồn có 580/654, vị trí chiếm 88,69%. Gen 5.8S bảo tồn cao nhất với chỉ 5 vị trí sai khác, trong khi vùng ITS1 có 10 vị trí sai khác, vùng ITS2 có sự thay đổi nhiều nhất với 59 vị trí sai khác. Khoảng cách di truyền trong số 40 mẫu nghiên cứu dao động từ 0,0 - 0,076. Tổng cộng 40 mẫu giống gấc được chia làm 3 nhóm chính trên sơ đồ cây quan hệ di truyền. Kết quả nghiên cứu góp phần bảo tồn, chọn tạo giống và phát triển gấc ở Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/mnkkss66
  • KẾT QUẢ PHỤC TRÁNG GIỐNG DONG RIỀNG ĐỎ NGUYÊN BÌNH TẠI CAO BẰNG

    Abstract : 1 PDF: 1
    Lê Thị Loan, Nguyễn Thị Ngọc Huệ, Hoàng Thị Nga, Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Thị Bích Thủy, Nguyễn Thị Doan, Vương Thị Ánh Tuyết
    12-19

    Quá trình phục tráng giống dong riềng đỏ Nguyên Bình bằng phương pháp chọn lọc quần thể kết hợp chọn lọc cá thể với mục đích cải thiện năng suất và hàm lượng tinh bột được thực hiện từ năm 2019 đến năm 2021 tại xã Vũ Nông, huyện Nguyên Bình, Cao Bằng. Từ kết quả đánh giá các tính trạng nông sinh học trên đồng ruộng và trong phòng, đối chiếu với bảng mô tả tính trạng đặc trưng của giống gốc ở vụ 1 từ 615 dòng S0 dong riềng đỏ Nguyên Bình có cùng thời gian sinh trưởng, đã chọn được 550 dòng S1. Ở vụ 2, tiếp tục chọn lọc, đánh giá 550 dòng S1 chọn được 310 dòng S2 cùng thời gian sinh trưởng 290 ngày, có sự đồng đều về các yếu tố cấu thành năng suất dùng để so sánh và nhân dòng thế hệ S2. Vụ 3, từ 310 dòng S2 chọn được 200 dòng S3 đạt tiêu chuẩn cho hỗn dòng thành giống phục tráng và tạo ra củ giống siêu nguyên chủng. Giống dong riềng đỏ Nguyên Bình phục tráng cho năng suất trung bình đạt 71,5 tấn/ha, có hàm lượng tinh bột 28,60%, cao hơn giống chưa phục tráng 25,5%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/8zrefb53
  • ẢNH HƯỞNG CỦA TỈA QUẢ ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT MÃNG CẦU TA (Annona squamosa L.) TẠI NAM TRUNG BỘ

    Abstract : 1 PDF: 1
    Mai Văn Hào, Nguyễn Văn Sơn, Trịnh Thị Vân Anh, Phạm Trung Hiếu, Dương Việt Hà
    20-24

    Mãng cầu ta (Annona squamosa L.) là cây ăn quả có khả năng chịu hạn được trồng phổ biến ở các tỉnh Nam Trung bộ. Một trong những biện pháp kỹ thuật canh tác để nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế của cây mãng cầu ta là biện pháp tỉa thưa quả. Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của tỉa thưa quả đến năng suất và phẩm chất của mãng cầu ta trong 2 năm 2018 và 2019 trên vườn cây 5 năm tuổi tại vùng Nam Trung bộ, khoảng cách trồng 3 m x 4 m. Các công thức thí nghiệm tỉa quả, giữ lại 50, 40, 35, 30 quả/cây và công thức đối chứng không tỉa quả. Kết quả cho thấy, tỉa thưa quả làm tăng đáng kể kích thước quả (28,1 - 35,7%), trọng lượng quả (29,3 - 42,9%) và tỷ lệ thịt quả (18,9 - 22,9%), tăng tỷ lệ quả loại I lên 287,8 - 453,7%, quả loại II lên 187,0 - 216,7%. Năng suất quả của cây mãng cầu ta có xu hướng giảm khi tỉa thưa quả ở các mức khác nhau nhưng khi tỉa thưa và để lại 50 quả/cây cho hiệu quả kinh tế cao nhất với lợi nhuận đạt được 54,156 triệu đồng/ha/vụ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/19qzxd32
  • PHÂN LẬP VI KHUẨN HÒA TAN LÂN (P-NHÔM) TRÊN VÙNG ĐẤT PHÈN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 1 PDF: 1
    Châu Thị Anh Thy, Nguyễn Hoàng Kim Nương, Nguyễn Thị Kiều Anh, Dương Minh Viễn
    25-32

    Sự thiếu hụt lân là trở ngại phổ biến trên một số loại đất, đặc biệt là đất phèn khi lân bị cố định bởi nhôm và sắt. Vi khuẩn hòa tan lân được quan tâm nghiên cứu gần đây nhờ khả năng chuyển hóa lân từ dạng không hữu dụng thành hữu dụng cho sự hấp thu của cây trồng. Trong nghiên cứu này, việc phân lập các dòng vi khuẩn có khả năng hòa tan lân dưới dạng phức hợp với nhôm cũng như đánh giá khả năng hòa tan lân và định danh các dòng vi khuẩn phân lập đóng vai trò quan trọng trong việc giảm sử dụng phân hóa học, tối ưu khả năng cung cấp lân từ đất. Kết quả phân lập được 75 dòng vi khuẩn có khả năng hòa tan lân trên các ruộng trồng lúa và mía/dứa ở vùng đất phèn tại Hậu Giang và Đồng Tháp và chia làm ba nhóm hình thái tế bào khác nhau gồm: hình cầu, hình que và hình cầu dẹt. Đánh giá khả năng hòa tan lân của các dòng vi khuẩn chọn lọc cho thấy hàm lượng lân hòa tan đạt cao nhất đến 73,25 ± 0,57 mg/L P và thấp nhất đạt 9,72 ± 0,59 mg/L P. Các nghiệm thức có vi khuẩn đều có hàm lượng lân hòa tan cao hơn nghiệm thức đối chứng, khác biệt ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Các dòng vi khuẩn được định danh (với mức độ tương đồng đạt 99%) chủ yếu nằm trong nhóm vi khuẩn Serratia marcescens (70%), còn lại thuộc nhóm Burkholderia vietnamensis.

    DOI: https://doi.org/10.71254/y6p9b202
  • ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ XỬ LÝ NẤM Penicillium sp. PHÒNG TRỪ BỆNH HÉO VÀNG DO NẤM Fusarium oxysporum VÀ BỆNH ĐỐM LÁ DO NẤM Cercospora sp. Ở CÂY ỚT

    Abstract : 1 PDF: 0
    Mai Châu Nhật Anh, Nguyễn Chí Bình, Dương Ngọc Hồ, Lê Thanh Toàn
    33-40

    Cây ớt (Capsicum sp.) được trồng phổ biến ở nước ta và trên thế giới. Loại cây gia vị này mang lại giá trị kinh tế cao cho nhiều nông dân. Hiện nay, việc canh tác ớt đang gặp khó khăn do tác hại của bệnh héo vàng do nấm Fusarium oxysporum và bệnh đốm lá do nấm Cercospora sp.. Bên cạnh đó, việc lạm dụng phân bón, thuốc hóa học và chất điều hòa sinh trưởng trong quá trình sản xuất nhằm tăng năng suất ớt đã để lại dư lượng hóa chất trong sản phẩm vượt ngưỡng cho phép. Ngoài ra, việc canh tác cây trồng theo một số chương trình nông nghiệp sạch và hạn chế sử dụng thuốc hóa học như VietGAP, Global GAP đang trở nên phổ biến ở nước ta. Việc sử dụng các vi sinh vật có lợi để thay thế thuốc hóa học là rất cần thiết. Do đó, nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của nấm có lợi vùng rễ Penicillium đối cây ớt. Trong đó, thí nghiệm đánh giá hiệu quả của nấm Penicillium sp. đối với cây ớt đã cho thấy khả năng thúc đẩy hàm lượng IAA ở giai đoạn nảy mầm của hạt ớt khi ngâm hạt trong huyền phù nấm Penicillium sp. mật số 106 cfu/ml cho hiệu quả cao về chiều dài rễ (19,66 mm), chiều dài thân (19,87 mm), khối lượng rễ (0,31 g) và khối lượng thân (0,42 g). Tiếp tục thí nghiệm trong điều kiện nhà lưới, nấm Penicillium sp. thể hiện khả năng giúp cây ớt chống chịu đối với mầm bệnh khi được xử lý với mật số bào tử 106 cfu/ml và có hiệu quả cao giúp cây ớt chống chịu với bệnh héo vàng do nấm Fusarium oxysporum và đốm lá do nấm Cercospora sp.. Kết quả ghi nhận nấm Penicillium sp. có tác dụng làm giảm tỷ lệ bệnh héo vàng trên ớt từ 60,29-66,17% và chỉ số bệnh từ 66,08-70,53% ở nghiệm thức T- tưới 25 so với đối chứng. Tương tự, đối với bệnh đốm lá làm giảm tỷ lệ bệnh từ 0-9,37% và chỉ số bệnh từ 0-15,88% ở nghiệm thức T- phun 25,30 so với đối chứng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/e7tdzz68
  • NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG VISCOZYME® L VÀ PECTINEX® ULTRA SP-L NHẰM GIA TĂNG HIỆU QUẢ CHUYỂN HÓA BÃ ĐẬU NÀNH

    Abstract : 1 PDF: 1
    Mai Thị Vân Anh, Nguyễn Thị Xuân Sâm, Nguyễn Kim Loan, Nguyễn Thanh Hằng
    41-48

    Bã đậu nành, một phụ phẩm của ngành công nghiệp chế biến sữa đậu nành, đã được xác nhận còn chứa một lượng đáng kể protein, chất béo, chất xơ và một phần các nguyên tố khoáng, các vitamin, isoflavone... Tận dụng được nguồn phụ phẩm này sẽ hứa hẹn đem lại nhiều lợi ích kinh tế, khả năng đa dạng hóa sản phẩm đồng thời giúp giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường. Với mục đích gia tăng hiệu quả chuyển hóa bã đậu nành, thu dịch thủy phân cho lên men làm đồ uống, nghiên cứu đã ứng dụng hai carbohydrase là Viscozyme® L và Pectinex® Ultra SP-L để chuyển hóa tiếp dịch bã đậu đã qua thủy phân sơ bộ bằng protease Alcalase® 2.4 L. Kết quả, đã chọn được nồng độ enzym Viscozyme® L và Pectinex®Ultra SP-L là 10,5 U/g và 0,45 U/g chất khô tương ứng, pH thích hợp 4,5 trong 3 giờ, phản ứng enzym được thực hiện ở nhiệt độ 50oC, dịch thủy phân thu được có hàm lượng chất xơ không tan giảm, các thành phần hòa tan trong dịch thủy phân đều tăng so với đối chứng, với hàm lượng các thành phần như sau (mg/100 ml): đường khử 960, protein 628; protein tan trong TCA 571; polyphenol (GAE) 31,4; isoflavone tổng số 7,2; tổng lượng chất khô hòa tan vào dịch thủy phân là 2.172.

    DOI: https://doi.org/10.71254/hdrhk952
  • ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ NGUYÊN LIỆU/NƯỚC VÀ ĐẬU PHỘNG RANG ĐẾN CÁC ĐẶC TÍNH HÓA LÝ VÀ CẢM QUAN CỦA NƯỚC UỐNG TỪ QUẢ HỒNG QUÂN

    Abstract : 1 PDF: 0
    Nguyễn Duy Tân, Võ Thị Xuân Tuyền, Phan Uyên Nguyên, Lê Thị Thúy Diễm, Võ Quan Huy
    49-57

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ nguyên liệu/nước (1/6, 1/7, 1/8 và 1/9 g/mL) và tỷ lệ đậu phộng rang bổ sung (12, 14, 16, 18% w/v) đến hàm lượng các hoạt chất sinh học (phenolic, flavonoid và tannin), khả năng chống oxy hóa (DPPH, FRAP, AAI), hàm lượng các thành phần hóa học (protein tổng, lipid tổng, đường tổng và axit tổng), các thông số màu sắc (L*, a*, b* và DE) và giá trị cảm quan của sản phẩm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nước uống Hồng Quân có các đặc tính hóa lý và cảm quan tốt ở tỷ lệ nguyên liệu/nước 1/8 (g/mL) và đậu phộng rang bổ sung 14% w/v. Tại điều kiện tối ưu này, sản phẩm có điểm đánh giá cảm quan cao về màu sắc, mùi vị, trạng thái và mức độ ưa thích. Các thông số màu sắc ở giá trị thích hợp (L* 47,78; a* 2,67; b* 9,91 và độ khác màu tổng DE 46,34). Hàm lượng các hoạt chất sinh học (phenolic 10,55 mgGAE/100 g; flavonoid 6,28 mgQE/100 g và tannin 75,01 mgTAE/100 g); hoạt động chống oxy hóa (DPPH 81,88%, FRAP 5,66 µM FeSO4/g và AAI 2,03). Bên cạnh đó, hàm lượng các thành phần hóa học như protein, lipid, đường và axit tổng trong sản phẩm lần lượt là 2,14 mg/g; 2,85%; 76,25 mg/g và 0,22%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/8mbqsb41
  • ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CHẤT NGỌT TỔNG HỢP TRONG MỘT SỐ SẢN PHẨM THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẮC KÝ LỎNG HIỆU NĂNG CAO

    Abstract : 1 PDF: 1
    Đỗ Thị Bích Thủy, Trương Thị Hải Âu
    58-65

    Các chất ngọt nhân tạo acesulfam kali, aspartam, saccharin hay còn gọi là các chất siêu ngọt được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới. Nếu các chất này được sử dụng vượt quá liều lượng cho phép sẽ gây ra nhiều tác dụng không mong muốn đối với sức khỏe. Bằng phương pháp phân tích HPLC, nghiên cứu này khảo sát hàm lượng các chất ngọt tổng hợp trong các mẫu ô mai và nước ngọt trên thị trường thuộc địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, làm cơ sở dữ liệu để đưa ra những khuyến cáo về ngộ độc thực phẩm, các bệnh do thực phẩm gây ra ảnh hưởng đến sức khỏe. Kết quả cho thấy, đối với các mẫu ô mai: (1) có  36,7% số lượng mẫu phân tích có hàm lượng acesulfam K vượt quá giới hạn cho phép; hàm lượng trong các mẫu này nằm trong khoảng từ 1006±4,93 mg/kg đến 3963±1,71 mg/kg; (2) 80% mẫu phân tích có sử dụng saccharin nằm trong khoảng từ 18 đến 1949 mg/kg. Trong đó, có đến 79,2% các mẫu vượt ngưỡng cho phép; (3) khác với tình trạng sử dụng acesulfam K và saccharin, trong 30% mẫu ô mai có sử dụng aspartam đều có hàm lượng trong giới hạn cho phép (từ 24±2,95 mg/kg đến 143±0,69 mg/kg). Có đến 70% mẫu phân tích không phát hiện hàm lượng hợp chất này. Trong khi đó, đối với tất cả các mẫu nước ngọt đã được phân tích, hàm lượng các chất ngọt tổng hợp (acesulfam K, saccharin và aspartam) đều đạt dưới ngưỡng cho phép. Trong đó, phần trăm số mẫu không sử dụng acesulfam K, saccharin và aspartam lần lượt là 70%, 80% và 70%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/y6nw5j17
  • ỨNG DỤNG PHỔ CẬN HỒNG NGOẠI NIR KẾT HỢP VỚI CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU CHEMOMETRICS ĐỂ XÁC THỰC NHANH CÀ PHÊ ĐẠT CHUẨN CHỈ DẪN ĐỊA LÝ Ở VÙNG BUÔN MA THUỘT

    Abstract : 1 PDF: 1
    Tô Phan Chiêu Đan, Nguyễn Quốc Cường, Lê Nguyễn Đoan Duy
    66-75

    Cà phê là một mặt hàng quan trọng, chiếm 3% GDP của Việt Nam và kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam đã đạt trên 3 tỷ đô la Mỹ trong nhiều năm. Trong những năm gần đây, mặc dù kinh tế thế giới trải qua nhiều giai đoạn khó khăn dẫn đến sức mua giảm nhưng xuất khẩu cà phê của Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng đáng khích lệ, do đó để đảm bảo chuỗi cung ứng cà phê cần có biện pháp bảo vệ thương hiệu cà phê và ngăn chặn các hành vi gian lận về chất lượng sản phẩm. Nghiên cứu nhằm sử dụng phổ cận hồng ngoại NIR cùng với các phương pháp xử lý số liệu Chemometrics để xác thực và bảo vệ thương hiệu của cà phê đạt chỉ dẫn địa lý (GI) vùng Buôn Ma Thuột. Trong nghiên cứu, số mẫu cà phê nhânđạt chuẩn GI (n = 49) và cà phê nhân không đạt chuẩn GI (n = 103) bằng cách phân tích trực tiếp mà không cần phá hủy mẫu. Sau đó, PLS-DA và SIMCA được sử dụng để xây dựng các mô hình. Mô hình kết hợp PLS-DA với tiền xử lý MC, SNV cho kết quả tốt nhất, độ chính xác của mô hình 87,96%, độ nhạy 81,25% và độ đặc hiệu 95,23%. Đồng thời, mô hình kết hợp SIMCA với tiền xử lý MC, 2nd Der, SNV đạt được độ chính xác của mô hình chỉ 85,76%. Do đó, các phương pháp đề xuất có thể hữu ích cho cả người tiêu dùng và cơ quan quản lý trong việc đăng ký GI cho sản phẩm vì nó khẳng định tiêu chuẩn chất lượng của cà phê đặc sản Đắk Lắk (GI), ngăn ngừa gian lận nhãn mác, phương pháp thân thiện với môi trường, kỹ thuật nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và tiền bạc.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tqz29s57
  • ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HẤP PHỤ METYLEN XANH, PHỐT PHÁT CỦA DIATOMITE VÀ DIATOMITE BIẾN TÍNH

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Thị Hiển, Hà Văn Tú, Nguyễn Thành Trung, Nguyễn Thu Hà
    76-86

    Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá khả năng hấp phụ của diatomite và diatomite biến tính với metylen xanh (MB) và phốt phát (PO43-), hướng tới các nghiên cứu ứng dụng trong nông nghiệp và xử lý môi trường. Diatomite tự nhiên được biến tính bằng dung dịch FeSO4 cùng với nhiệt. Khả năng hấp phụ MB và phốt phát của vật liệu trước và sau biến tính được xác định ở những nồng độ dung dịch và thời gian khác nhau. Hàm lượng MB và phốt phát được xác định bằng phương pháp so màu. Kết quả cho thấy, quá trình biến tính diatomite tạo ra vật liệu mới có màu đỏ nâu, bề mặt xù xì, có nhiều tinh thể hình hạt dài và các lỗ trống trên khung tảo diatom bị bao phủ kín. So với diatomite, giá trị pH, CEC và độ xốp của diatomite biến tính đều giảm trong khi khối lượng riêng tăng. Vật liệu diatomite biến tính có khả năng hấp phụ MB kém hơn so với diatomite (dung lượng hấp phụ cực đại Qmax tương ứng là 82,2 và 113,8 mg/g) nhưng lại thể hiện khả năng hấp phụ ion PO43- vượt trội so với vật liệu ban đầu, với dung lượng hấp phụ cực đại Qmax đạt 26,8 mg/g, tăng 21,4 lần, so với giá trị của diatomite tự nhiên. Kết quả nghiên cứu chứng tỏ diatomite biến tính được hứa hẹn là vật liệu tiềm năng trong xử lý ô nhiễm phốt phát trong môi trường nước.

    DOI: https://doi.org/10.71254/jwsnzz13
  • KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT PHỤC VỤ TƯỚI TIÊU NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH SÓC TRĂNG TRONG BỐI CẢNH XÂM NHẬP MẶN

    Abstract : 1 PDF: 0
    Võ Thị Phương Thảo, Trịnh Phước Toàn, Trần Huỳnh Minh Ngọc, Nguyễn Thạch Sanh, Hồ Thanh Long, Nguyễn Phương Thịnh, Nguyễn Phúc Lộc, Lữ Trương Ngọc Khuê, Nguyễn Thị Hải Yến, Nguyễn Châu Thanh Tùng, Ngô Thụy Diễm Trang
    87-95

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định hiện trạng chất lượng môi trường nước kênh nội đồng ở huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng nhằm làm cơ sở cho việc lập quy hoạch và chiến lược sinh kế cho người dân bị ảnh hưởng bởi mặn xâm nhập. Nghiên cứu được thực hiện tại 3 xã Long Phú, Long Đức và Tân Hưng thuộc huyện Long Phú từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2021. Kết quả ghi nhận hàm lượng TDS, EC, độ mặn, hàm lượng Na+ và K+ trong nước cao vào cuối mùa khô tháng 3 và 4 ở vị trí gần sông lớn và giảm khi đi sâu vào nội đồng và bắt đầu giảm dần ở tháng 5 và 6. Giá trị EC, độ mặn và hàm lượng Na+ trong nước mặt ở xã Long Đức (6,60 mS/cm, 4,1‰ và 1.057,0 mg/L) cao hơn 2 xã còn lại, cao nhất ở đợt 1 (10/3/2021) không phù hợp cho nước tưới. Hàm lượng COD (92,32 mg/L) và NH4-N (0,99 mg/L) trong nước mặt ở xã Long Đức cao hơn cột B1 của QCVN 08-MT:2015/BTNMT (nước dùng cho tưới tiêu). Bên cạnh nước bị nhiễm mặn, chất lượng môi trường nước kênh ở xã Long Đức có dấu hiệu ô nhiễm dinh dưỡng và hữu cơ. Tuy hệ thống đê, cống ngăn mặn trong vùng thủy lợi đã được chính quyền huyện Long Đức quan tâm và nâng cấp để hạn chế sự xâm nhiễm mặn nhưng vẫn có dấu hiệu nước bị nhiễm mặn vào những tháng mùa khô, do đó, người dân có thể thay đổi lịch xuống giống, gieo sạ hoặc thay đổi cơ cấu cây trồng chịu mặn trong khoảng tháng 3 đến tháng 6.

    DOI: https://doi.org/10.71254/rey66b29
  • XÂY DỰNG MÔ HÌNH TÍNH TOÁN SỰ THAY ĐỔI NƯỚC DƯỚI ĐẤT CHO KHU VỰC VEN BIỂN TỈNH BÌNH THUẬN

    Abstract : 1 PDF: 0
    Trần Thành Long, Nguyễn Thị Thanh Duyên, Nguyễn Hồng Quân
    96-105

    Bài báo này cung cấp thông tin về mực nước dưới đất (NDĐ) vùng ven biển tỉnh Bình Thuận theo các kịch bản bơm hút NDĐ định hướng đến năm 2030 và năm 2040. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là xây dựng mô hình NDĐ đới thổ nhưỡng tỉnh Bình Thuận (GMS – Modflow). Dựa vào nhu cầu dụng khai thác sử dụng nước cho sinh hoạt, tưới tiêu cho thanh long và phục vụ khai thác titan, 2 kịch bản khai thác NDĐ được xây dựng. Mực NDĐ vùng ven biển biển Bình Thuận có dấu hiệu suy giảm từ năm 2012 ở những nơi có sự phát triển thanh long. Với kịch bản 1, NDĐ chỉ phục vụ sinh hoạt và tưới tiêu thanh long, lượng NDĐ sẽ suy giảm nhẹ và sau đó ổn định đến năm 2030. Mực NDĐ sẽ giảm từ 1 - 2 m so với trung bình mực nước hiện tại. Với kịch bản 2, NDĐ phục vụ sinh hoạt, tưới tiêu thanh long và phục vụ hoạt động khai thác titan, lượng NDĐ suy giảm rất lớn và phá vỡ tình trạng cân bằng mực nước khu vực. Mực NDĐ ở các khu vực khai thác titan sẽ hạ xuống từ 10 – 20 m, điều này sẽ dẫn đến suy kiệt nguồn nước sạch khu vực ven biển Bình Thuận và kéo theo sự xâm nhập mặm từ biển vào tầng chứa nước.

    DOI: https://doi.org/10.71254/5n8wd412
  • CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔ HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG - LÂM NGHIỆP CHÍNH VÙNG VEN BIỂN TỈNH SÓC TRĂNG

    Abstract : 1 PDF: 0
    Phan Thị Ngọc Thuận, Lý Trung Nguyên, Văn Phạm Đăng Trí
    106-113

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đất nông - lâm nghiệp vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng. Đã sử dụng phương pháp phỏng vấn nông hộ và phương pháp tính trọng điểm nhằm xác định các yếu tố tác động đến việc lựa chọn mô hình sử dụng đất, đồng thời đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong việc sử dụng mô hình sử dụng đất. Kết quả đánh giá thực trạng canh tác nông - lâm nghiệp tại vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng cho thấy, hiện tại trên địa bàn nghiên cứu có 4 mô hình sử dụng đất nông lâm nghiệp chính là lúa 2 vụ, chuyên màu, chuyên tôm và tôm rừng. Mô hình sử dụng đất tôm rừng được đánh giá là có sự cân bằng giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường. Mô hình lúa 2 vụ tuy đảm bảo về các yếu tố xã hội và môi trường nhưng hiệu quả kinh tế thấp. Mô hình chuyên tôm được xác định là mô hình sử dụng đất không bền vững nhất trong 4 mô hình sử dụng đất do có rủi ro cao và tác động môi trường rất lớn. Mô hình chuyên màu đem lại hiệu quả kinh tế không cao nhưng đáp ứng tốt về môi trường tự nhiên, rủi ro thấp nhất. Nhìn chung, mô hình tôm rừng cho thấy có sự cân bằng tốt dưới góc nhìn về kinh tế, xã hội, môi trường và thích ứng tốt trong điều kiện xâm nhập mặn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/06mbrr16
  • NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ ĐẦU TƯ CÔNG CHO SẢN XUẤT NHÃN Ở TỈNH HƯNG YÊN

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Đức Trung, Nguyễn Viết Đăng, Quyền Đình Hà
    114-123

    Nghiên cứu này nhằm mục tiêu đánh giá thực trạng đầu tư công, phân tích hiệu quả đầu tư công cho sản xuất nhãn ở tỉnh Hưng Yên, từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp về đầu tư công cho phát triển sản xuất nhãn. Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp kết hợp với nguồn số liệu sơ cấp từ các vùng, đối tượng trồng nhãn khác nhau trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đầu tư công đã mang lại những hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao giá trị sản phẩm nhãn. Vùng trồng nhãn tập trung được hỗ trợ đầu tư công mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với vùng trồng nhãn phân tán, nhỏ lẻ; cơ sở trồng nhãn được hỗ trợ tham gia mô hình liên kết mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với cơ sở không được hỗ trợ tham gia mô hình liên kết; năng lực bên tiếp nhận kết quả đầu tư công ở các tổ chức kinh tế khác nhau (hộ gia đình, trang trại, hợp tác xã) cho hiệu quả khác nhau. Từ kết quả nghiên cứu, đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công cho sản xuất nhãn ở tỉnh Hưng Yên, gồm: giải pháp phát triển các vùng sản xuất nhãn tập trung; cơ chế, chính sách đầu tư công; đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm; giải pháp kỹ thuật trong trồng nhãn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ggnbhv67
  • ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DU LỊCH NÔNG NGHIỆP HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

    Abstract : 1 PDF: 1
    Vũ Thị Thanh Thủy, Nguyễn Thế Huấn, Nguyễn Thế Hải, Nguyễn Ngọc Anh
    124-130

    Nghiên cứu được tiến hành tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên theo 4 bước cơ bản. Sử dụng phương pháp phân tích SWOT kết hợp đánh giá cho điểm dựa trên các tiêu chí cụ thể cho thấy, xã La Bằng và Hoàng Nông có tiềm năng để phát triển du lịch nông nghiệp với tổng các tiêu chí đánh giá trung bình đạt từ 2,72 - 2,76 điểm. Xã Quân Chu và Ký Phú mặc dù có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho phát triển du lịch, nhưng xét tổng thể của 5 tiêu chí chỉ đạt điểm trung bình từ 1,2 - 1,79, do vậy chưa khuyến khích người dân tập trung phát triển du lịch nông nghiệp tại những xã này. Tại xã La Bằng và Hoàng Nông chưa có quy hoạch tổng thể làng nghề gắn kết với du lịch, cũng như lộ trình cho quá trình thực hiện, vì vậy cần có những quy hoạch cụ thể để có thể phát triển thành các cụm du lịch cộng đồng gắn kết với nông nghiệp.

    DOI: https://doi.org/10.71254/hqjqaz53