Số 1 (2022)
Bài viết
-
ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI VỤ TRỒNG VÀ MỨC BÓN PHÂN ĐA LƯỢNG ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG CẢI BẮP SAKATA No71 F1 TẠI QUỲNH PHỤ, THÁI BÌNH
Abstract : 1 PDF: 0Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng, mức bón phân đa lượng đến sinh trưởng phát triển, năng suất của giống cải bắp SAKATA No71 F1 tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình cho thấy: (1) Thời vụ và mức bón đạm trong vụ đông năm 2020 có ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất thực thu và hiệu quả kinh tế của giống cải bắp No71: (-) Thời vụ trồng 15/9 + bón 160 - 180 kg N/ha + nền bón 14 tấn phân chuồng/ha + 100 kg P2O5/ha + 90 kg K2O/ha, khối lượng bắp từ 2,00 - 2,20 kg/cây, năng suất thực thu đạt 560 - 616 tạ/ha, cho lãi thuần đạt cao nhất từ 221,69 - 252,09 triệu đồng/ha. (-) Thời vụ trồng 01/10 + 180 kg N/ha + nền bón 14 tấn phân chuồng/ha + 100 kg P2O5/ha + 90 kg K2O/ha, khối lượng bắp đạt 2,50 kg/cây, năng suất thực thu đạt cao nhất 700,00 tạ/ha, cho lãi thuần đạt 158,26 triệu đồng/ha. (2) Mức bón 90 kg K2O/ha + 140 kg P2O5/ha + 14 tấn phân chuồng/ha + 160 kg N/ha trong vụ đông - xuân 2020 - 2021, khối lượng bắp đạt 2,5 kg, năng suất thực thu đạt cao nhất 700,00 tạ/ha cho lãi thuần đạt 52,44 triệu đồng/ha.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA GA3 PHUN QUA LÁ ĐẾN HIỆN TƯỢNG NỨT TRÁI, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CHÔM CHÔM RONGRIEN (Nephelium lappaceum Linn)
Abstract : 1 PDF: 1Nhằm khảo sát ảnh hưởng của GA3 phun qua lá đến hiện tượng nứt trái, năng suất và chất lượng chôm chôm Rongrien, thí nghiệm được thực hiện tại xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ trên cây chôm chôm Rongrien 6 năm tuổi, mùa vụ 2020. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm có 4 nghiệm thức là 4 nồng độ GA3 khác nhau (0, 25, 50 và 100 ppm). Mỗi nghiệm thức có 8 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại tương ứng một cây. GA3 phun đều lên tán lá và trái sau khi đậu trái 8 tuần, xử lý 3 lần với khoảng cách hai lần là 15 ngày. Tất cả các cây đều có cùng chế độ chăm sóc. Kết quả cho thấy nồng độ GA3 phun qua lá có ảnh hưởng đến tỷ lệ nứt trái, năng suất và chất lượng trái chôm chôm Rongrien khi thu hoạch. Phun GA3 100 ppm đều lên lá sau khi đậu trái 8 tuần (3 lần, khoảng cách 15 ngày/lần) có tỷ lệ nứt trái thấp hơn trong khi năng suất cao hơn 31% so với đối chứng. Chất lượng trái cũng cao hơn so với nghiệm thức đối chứng, độ Brix và hàm lượng vitamin C dịch trích thịt trái tương ứng 18,9% và 39,9 mg/100 g.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN Ủ HỖN HỢP NẤM Trichoderma spp. VỚI PHÂN GÀ ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHẨM CHẤT VÀ KHẢ NĂNG HẤP THU DINH DƯỠNG CỦA RAU ĂN LÁ
Abstract : 1 PDF: 1Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm hiểu ảnh hưởng của thời gian ủ hỗn hợp nấm Trichoderma spp. với phân gà đến sinh trưởng, phẩm chất và khả năng hấp thu đạm và lân của rau ăn lá. Thí nghiệm sử dụng hỗn hợp 5 chủng nấm Trichoderma spp. ủ với phân gà trong thời gian 30, 60 và 90 ngày. Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 8 công thức, trong đó có 3 công thức trồng mồng tơi bón phân ủ 30, 60 và 90 ngày (MT-30D, MT-60D, MT-90D), 3 công thức trồng rau dền bón phân ủ 30, 60 và 90 ngày (D-30D, D-60D và D-90D) và 2 công thức đối chứng không bón phân, trồng rau mồng tơi và rau dền (MT-ĐC, D-ĐC). Kết quả thí nghiệm cho thấy với cả hai loại rau có bón phân ủ, khối lượng thân lá tươi tăng 30 - 40%, hàm lượng vitamin C tăng 20 - 30% so với đối chứng. Không có sự gia tăng hàm lượng N trong thân lá và khả năng hấp thụ N của rau mồng tơi ở tất cả các công thức bón phân ủ. Tuy nhiên, hàm lượng N trong thân, lá rau dền cao hơn đối chứng 30% ở công thức D-60D, thấp hơn và tương đương đối chứng ở các công thức D-30D và D-90D. So với D-ĐC, N hấp thụ ở rau dền cao gấp đôi ở D-60D và cao hơn 30 - 40% ở công thức D-30D và D-90D. P hấp thụ ở rau mồng tơi cao hơn MT - ĐC 20% ở MT - 30D và MT - 60D; P hấp thụ ở rau dền cao hơn D - ĐC 40 - 50% ở tất cả các công thức có bón phân ủ. Có thể kết luận rằng thời gian ủ 30 và 60 ngày có ưu thế hơn thời gian ủ 90 ngày trong việc thúc đẩy sinh trưởng thân lá của rau mồng tơi, trong khi các thời gian ủ khác nhau ảnh hưởng như nhau đến sinh trưởng thân, lá của rau dền. Thời gian ủ 60 ngày cũng làm tăng đáng kể hàm lượng N trong thân lá và khả năng hấp thụ N của rau dền.
-
HIỆU LỰC CỦA NẤM Paecilomyces lilacinus P2 ĐỐI VỚI BỌ TRĨ (Thrips tabaci), BỌ PHẤN (Bemisia tabaci) VÀ RỆP (Aphis gossypii) HẠI DƯA HẤU
Abstract : 1 PDF: 1Bọ trĩ, bọ phấn và rệp là những loài côn trùng chích hút gây hại chính trên cây dưa hấu ở Long An. Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá khả năng phòng trừ bọ trĩ, bọ phấn và rệp hại trên cây dưa hấu. Thí nghiệm trên đồng ruộng cho thấy, phun nấm P. lilacinus P2 nồng độ 1 x 107 CFU/ml và 1 x 10 8 CFU/ml, 500 L/ha cho thấy có hiệu lực phòng trừ bọ trĩ, bọ phấn và rệp. Ở 10 ngày sau khi phun, nấm P. lilacinus P2 gây chết 74,25% và 78,28% bọ trĩ, tương ứng với nồng độ với 1 x 107 CFU/ml và 1 x 108 CFU/ml. Kết quả cũng cho thấy nấm P. lilacinus P2 có hiệu lực cao đối với bọ phấn (82,43% - 84,84%) và rệp (76,33% - 81,28%). Số liệu thí nghiệm chỉ ra rằng hiệu lực của P. lilacinus P2 đối với bọ trĩ, bọ phấn và rệp trên đồng ruộng không có sự khác biệt đáng kể giữa nồng độ 1 x 107 CFU/ml và 1 x 108 CFU/ml. Các kết quả trên cho thấy chủng nấm P. lilacinus P2 là tác nhân sinh học có hiệu quả để quản lý bọ trĩ, bọ phấn và rệp trên dưa hấu.
-
BIẾN ĐỔI HỢP CHẤT CHỐNG OXY HÓA VÀ MÀU SẮC TRONG QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN MARMALADE BƯỞI
Abstract : 1 PDF: 0Dịch quả bưởi có chứa nhiều hợp chất có lợi cho sức khỏe như vitamin C và polyphenol. Hiện nay, vẫn chưa có nhiều sản phẩm chế biến từ quả bưởi trên thị trường. Trong nghiên cứu trước, nhóm tác giả đã xây dựng được quy trình chế biến Marmalade (mứt) bưởi có hương vị thơm ngon, duy trì tốt hàm lượng các hợp có lợi cho sức khỏe. Dưới tác động của các yếu tố ngoại cảnh trong quá trình bảo quản có thể dẫn đến gây hao hụt hàm lượng polyphenol và vitamin trong sản phẩm, nếu điều kiện bảo quản được lựa chọn không phù hợp, điều này gây khó khăn khi áp dụng sản phẩm vào quy mô sản xuất thực tiễn. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá sự thay đổi của hai nhóm hợp chất kháng oxi hóa tự nhiên này trong quá trình bảo quản marmalade bưởi dưới tác động của loại bao bì, nhiệt độ và hàm lượng natri bisulfite bổ sung. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sản phẩm có bổ sung natri bisulfite với hàm lượng 100 ppm và được bao gói bằng hũ thủy tinh có tỷ lệ polyphenol tổng còn lại là 91,68% và tỷ lệ vitamin C còn lại là 71,74% sau 180 ngày bảo quản tại nhiệt độ phòng.
-
ẢNH HƯỞNG MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN HÀM LƯỢNG POLYPHENOL VÀ KHẢ NĂNG KHÁNG OXY HÓA BỘT LÊKIMA (Pouteria campechiana) BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN
Abstract : 1 PDF: 1Quả lêkima (Pouteria campechiana) có nhiều đặc tính dược liệu hữu ích nhưng hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu nhiều. Mục đích nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng một số yếu tố công nghệ của quá trình sấy phun đến hoạt tính sinh học của bột quả lêkima, bao gồm tỷ lệ maltodextrin, nhiệt độ không khí đầu vào và tốc độ bơm nhập liệu. Hiệu quả của quá trình sấy phun được đánh giá thông qua hàm lượng polyphenol tổng số (TPC) và hoạt tính kháng oxy hóa dựa trên khả năng trung hòa gốc tự do DPPH. Kết quả thực nghiệm cho thấy ở tỷ lệ maltodextrin 18%, nhiệt độ không khí đầu vào 1750C và tốc độ bơm nhập liệu 16 rpm, hàm lượng polyphenol tổng số (TPC) của bột lêkima là 6,927±0,08 mgGAE/g, khả năng loại gốc tự do (DPPH) là 77,28±2,54% và có giá trị IC50 đạt 9,48 mg/mL. Kết quả nghiên cứu này góp phần cung cấp dẫn liệu khoa học quý giá về quả lêkima, đặc biệt cho ngành công nghệ thực phẩm.
-
ỨNG DỤNG QUY HOẠCH THỰC NGHIỆM TRONG NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG THIẾT BỊ CÔ ĐẶC MẬT ONG KIỂU CHÂN KHÔNG DẠNG ỐNG CÓ VÀNH DẪN CHẤT LỎNG PHỐI HỢP PHÁ KẾT TINH BẰNG SÓNG SIÊU ÂM CĐ-1 Hệ thống thiết bị cô đặc mật ong, thời gian cô đặc, thiết bị phát sóng siêu âm, thời gian kết tinh trở lại, chi phí điện năng riêng.
Abstract : 1 PDF: 1Thiết bị cô đặc mật ong CĐ-1 đang được nghiên cứu ứng dụng để cô đặc mật ong và một số dung dịch có tính chất lý hóa tương tự. Loại thiết bị cô đặc này có ưu điểm là sử dụng vành dẫn chất lỏng và bộ phận phát sóng siêu âm nhằm tăng khả năng bốc hơi nước và phá kết tinh đường trong mật ong, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm mật ong trong quá trình cô đặc. Áp dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đa yếu tố để nghiên cứu mức độ ảnh hưởng đồng thời của nhiệt độ cô đặc, chiều cao vành dẫn chất lỏng và thời gian phát sóng siêu âm đến điểm tổng hợp chất lượng sản phẩm cô đặc, thời gian cô đặc, thời gian kết tinh trở lại khi tồn trữ và chi phí điện năng riêng. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã xác định được giá trị tối ưu của các yếu tố vào: nhiệt độ cô đặc Tcđ = 44,80C, chiều cao vành dẫn chất lỏng Hvd = 653 mm, thời gian phát sóng siêu âm τs = 24,4 phút và giá trị tối ưu của các thông số ra: điểm tổng hợp chất lượng sản phẩm cô đặc Qcđ = 18,96 điểm, thời gian kết tinh τkt = 216,5 ngày, thời gian cô đặc τcđ = 57,4 phút, chi phí điện năng riêng Nr = 1,37 kWh/kgH2O. Kết quả nghiên cứu trên là cơ sở quan trọng để hoàn thiện thiết kế và chế tạo các cỡ thiết bị cô đặc có năng suất khác nhau phù hợp với quy mô của từng cơ sở sản xuất.
-
HIỆU QUẢ THU NHẬN GLUCOSAMINE HYDROCHLORUA TỪ VỎ CUA BIỂN (Scylla paramamosain), VỎ GHẸ (Portulus pelagicus) VÀ VỎ TÔM TÍT (Oratosquillina interrupta) BẰNG PHƯƠNG PHÁP HÓA SINH
Abstract : 1 PDF: 1Chiết xuất glucosamine hydrochlorua từ vỏ của 3 loài động vật giáp xác là vỏ cua biển, vỏ ghẹ và vỏ tôm tít được thực hiện thông qua các bước: khử khoáng và khử protein để thu chitin, sau đó chitin được thủy phân để thu nhận glucosamine hydrochlorua. Kết quả cho thấy, hàm lượng khoáng còn lại trong cả 3 loại nguyên liệu này đều thấp hơn 1% khi được xử lý trong dung dịch HCl 4% (vỏ tôm tít) và HCl 6% (vỏ cua biển và vỏ ghẹ). Điều kiện khử protein bằng enzyme alcalase thích hợp cho vỏ tôm tít là 6 giờ, nồng độ enzyme 0,1%, và nồng độ Alcalase 0,3%, 4 giờ được áp dụng cho 2 loại nguyên liệu còn lại. Chitin từ 3 loại này có cùng chế độ thủy phân (HCl 10M, 6 giờ) để chuyển đổi thành glucosamine hydrochlorua, độ hòa tan đều trên 80%, hiệu suất thu hồi glucosamine hydrochlorua đạt cao nhất 53,88% đối với chitin từ vỏ tôm tít và 52,67% từ chitin vỏ cua biển, vỏ ghẹ cho hiệu suất thu hồi thấp nhất 49,63%. Dựa vào kết quả phân tích phổ FTIR, cấu trúc glucosamine hydrochlorua được tinh chế từ vỏ cua biển, vỏ ghẹ và vỏ tôm tít tương tự như mẫu thương mại. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khả năng tận dụng vỏ tôm tít, vỏ cua và vỏ ghẹ làm nguồn nguyên liệu phù hợp cho sản xuất glucosamine hydrochlorua.
-
XỬ LÝ Ô NHIỄM CROM (III) BẰNG VẬT LIỆU HẤP PHỤ BIẾN TÍNH TỪ VỎ CAM SÀNH
Abstract : 1 PDF: 0Ô nhiễm kim loại nặng là một trong những vấn đề về môi trường mà nhiều quốc gia trên thế giới phải đối mặt, trong đó có Việt Nam. Trong nghiên cứu này, chất hấp phụ sinh học từ vỏ cam sành được sử dụng để loại ô nhiễm Cr3+ trong nước. Vỏ cam được tiền xử lý bằng NaOH và iso - propanol để tăng cường các nhóm chức có khả năng liên kết với ion Cr3+. Cấu trúc và hình thái của vật liệu trước và sau khi hấp phụ được nghiên cứu bằng phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR), nhiễu xạ tia X (XRD), kính hiển vi điện tử quét (SEM). Quá trình hấp phụ Cr3+ bằng vỏ cam sành đạt cân bằng sau 150 phút, ở pH trung tính, nồng độ Cr3+ ban đầu 250 mg/L. Theo mô hình đẳng nhiệt Langmuir, vỏ cam có khả năng loại bỏ ion Cr3+ lên đến 27,21 g/g, là sự hấp phụ đơn lớp của các ion kim loại lên bề mặt vật liệu. Động học hấp phụ tuân theo mô hình biểu kiến bậc hai với hệ số tương quan R2 > 0,99, biểu hiện sự hấp phụ xảy ra theo cơ chế hóa học. Chất hấp phụ sinh học chi phí thấp từ vỏ cam có tiềm năng loại bỏ Cr3+ trong nước thải xi mạ.
-
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CẢI TẠO ĐẤT NHIỄM MẶN ĐIỀU KIỆN THÍ NGHIỆM TRONG NHÀ LƯỚI
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu thực hiện trong điều kiện nhà lưới nhằm xác định: (1) thời gian và thể tích nước rửa mặn; (2) khả năng rửa mặn của nước mưa, nước sông, nước máy; (3) khả năng giảm mặn của CaCO3 và KNO3. Ba thí nghiệm được bố trí kế thừa và bố trí theo thiết kế hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức. Đất thí nghiệm được lấy từ mô hình tôm - cỏ ở Cà Mau và Bạc Liêu với EC trong đất rất cao 21,33-27,3 mS/cm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời gian 28-35 ngày với tỷ lệ thể tích nước máy: khối lượng đất là 2,7: 1,0 có hiệu quả cao nhất, làm giảm độ mặn của đất từ 13,7‰ xuống còn 4,2-4,5‰ đạt hiệu suất giảm mặn 65,0-69,7%. Tuy nhiên, tác động rửa mặn có thể đạt cao nhất ở ngày thứ 56 với độ mặn trong đất giảm từ 17,5‰ (tương đương EC 27,3 mS/cm) xuống còn 2,6-2,7‰ (tương đương EC 4,00-4,23 mS/cm). Không có sự khác nhau về hiệu quả rửa mặn giữa nguồn nước máy, nước sông và nước mưa. Sử dụng CaCO3 và KNO3 có khả năng giảm tương ứng 51,0% và 47,8% độ mặn trong đất sau 42 ngày thí nghiệm. Theo điều kiện thực tế ở đất nghiên cứu, để tiết kiệm thời gian rửa mặn và đạt hiệu quả trong mô hình tôm - cỏ thì nên ngâm đất rửa mặn khoảng 1-2 tháng kết hợp với bón CaCO3 và sau đó xả nước ra khỏi ruộng thì có thể trồng một số giống lúa chịu mặn trên nền ruộng.
-
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CỦA CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TỈNH HẬU GIANG
Abstract : 1 PDF: 0Xây dựng nông thôn mới (NTM) là chương trình mục tiêu quốc gia nhằm phát triển toàn diện khu vực nông thôn. Sau 10 năm triển khai, việc đánh giá hiệu quả đầu tư và tác động của chương trình là rất cần thiết. Nghiên cứu đã thực hiện thu thập số liệu thứ cấp và phỏng vấn 458 hộ trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số ICOR của tỉnh giảm theo thời gian, đầu tư ngày càng mang lại hiệu quả cao, thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 10,83%/năm trong giai đoạn từ 2011-2018. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy để hoàn thành một xã đạt chuẩn NTM thì cần đầu tư khoảng 823 tỷ đồng và để đạt thêm 01 tiêu chí cần khoảng 26,8 tỷ đồng. Bằng cách sử dụng phương pháp hồi quy đa biến, nghiên cứu cho thấy tổng thu nhập của người dân sau khi có chương trình NTM tăng lên từ 30-33,6 triệu đồng/hộ. Nghiên cứu cũng tiến hành đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư cho chương trình xây dựng NTM.
-
XÁC ĐỊNH ĐOẠN MÃ VẠCH ADN CỦA MỘT SỐ MẪU TRÀ HOA VÀNG TẠI QUẢNG NINH PHỤC VỤ GIÁM ĐỊNH LOÀI VÀ PHÂN TÍCH ĐA DẠNG DI TRUYỀN
Abstract : 2 PDF: 1Hiện nay, ở nước ta đã phát hiện và xác định được khoảng 40 loài Trà hoa vàng, trong đó Trà hoa vàng tại Quảng Ninh có một số đặc trưng riêng so với các loài khác về hình thái và màu sắc hoa. Tuy nhiên, việc xác định loài dựa trên các đặc điểm về hình thái là hết sức khó khăn. Do đó, mục đích của nghiên cứu này là xác định một số đoạn mã vạch ADN để phục vụ giám định và phân tích đa dạng di truyền loài Trà hoa vàng. Một số mẫu lá Trà hoa vàng đã được thu thập tại huyện Hải Hà và Cô Tô của tỉnh Quảng Ninh sau đó tiến hành tách chiết ADN tổng số từ mẫu lá cây Trà hoa vàng. Các đoạn mã vạch ADN (rbcL, TrnH-psbA và ITS2) được nhân bản từ ADN tổng số của Trà hoa vàng bằng kỹ thuật PCR. Kết quả điện di sản phẩm PCR chỉ ra rằng các băng ADN thu được có kích thước tương ứng với kích thước của các đoạn ADN dự kiến, sau đó sản phẩm PCR được xác định trình tự nucleotide. Kết quả phân tích trình tự nucleotide đã chỉ ra, đoạn rbcL có 599 nucleotide, đoạn TrnH-psbA có 510 nucleotide và đoạn ITS2 có 138 nucleotide. Các trình tự này được xử lý và so sánh với trình tự nucleotide của các đoạn mã vạch ADN tương ứng của các loài Trà hoa vàng khác đã được công bố trên NCBI và DNABank.vn. Cây quan hệ di truyền được xây dựng bằng phương pháp Maximum Likelihood (ML) và khoảng cách di truyền được xử lý bằng phần mềm Mega X cho thấy, Trà hoa vàng tại huyện Hải Hà và Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh có quan hệ di truyền gần nhất với loài Trà hoa vàng (Camellia chrysantha) với hệ số tương đồng 99,83% của đoạn rbcL; 98,63% và 98,43% của đoạn trnH-psbA; 89,13% và 89,29% của đoạn ITS2. Nghiên cứu đã khuyến nghị sử dụng đoạn ITS2 và trnH-psbA làm mã vạch ADN cho Trà hoa vàng ở Hải Hà và Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh. Kết quả này là cơ sở khoa học phục vụ cho công tác bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen loài cây quý hiếm này.
-
KHU HỆ CÁ SUỐI Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HOẠT, TỈNH NGHỆ AN: KẾT QUẢ KHẢO SÁT GIAI ĐOẠN 5/2020-01/2021
Abstract : 1 PDF: 0Trên phương diện sinh thái học, cá là mắt xích rất quan trọng trong chuỗi - lưới thức ăn tự nhiên, do đó bảo tồn nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm có liên quan hết sức mật thiết với việc bảo tồn cá tự nhiên. Đây là lý do quan trọng để tiến hành sưu tập và phân loại cá trong Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Pù Hoạt. Khảo sát thực hiện trên hai lưu vực sông Chu – phụ lưu sông Mã và sông Hiếu phụ lưu sông Cả với tổng cộng 20 khe suối từ 21-31/5/2020, 7 - 16/9/2020 và 17 - 26/01/2021. Mẫu vật được phân tích hình thái kết hợp với phân tích dữ liệu phân bố từ nhiều nguồn dữ liệu sẵn có. Kết quả cho thấy các loài cá ở Khu hệ Cá suối Pù Hoạt có nguồn gốc phân bố từ bốn khu vực sinh thái nước ngọt gồm: Sông Hồng, Bắc Trường Sơn, Hạ Lan Thương và Đông Bắc Phi với 44 loài thuộc 41 giống, 21 họ và 8 bộ. Bộ cá Chép (Cypriniformes) là bộ đa dạng nhất với 21 loài thuộc 11 họ và phân họ. Khu hệ có 13 loài cá đặc hữu của khu hệ cá sông Hồng và Bắc Trường Sơn, trong đó có 1 loài đặc hữu của miền Trung Việt Nam. Trong 44 loài cá ghi nhận được, thống kê thấy 36 loài có tên trong danh lục Đỏ IUCN (2021), 1 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và 18 loài có giá trị kinh tế cao. Kết quả khảo sát cũng đã bổ sung 7 loài cho khu hệ cá vùng Tây Bắc Nghệ An.
-
CÁC CHỈ TIÊU NHẬN DIỆN HẠN CHẾ, KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC NỘI TẠI CỦA HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP THỰC HIỆN THEO LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2012
Abstract : 1 PDF: 0Từ sau năm 2013, các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp hoạt động theo Luật HTX năm 2012 có nhiều thuận lợi và đã phát triển rất mạnh về số lượng và hiệu quả, góp phần quan trọng vào kinh tế nông thôn, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên phong trào kinh tế tập thể, HTX nông nghiệp phát triển chưa tương xứng với tiềm năng do nhiều nguyên nhân và có nguyên nhân quan trọng là từ nội tại của các HTX. Kết quả nghiên cứu điều tra từ 24 HTX đại diện cho các mảng sản xuất nông nghiệp cả nước đã chỉ ra những hạn chế nội tại chính của HTX, định lượng những khó khăn nội tại của HTX để nhận diện đánh giá HTX phục vụ quản lý nhà nước về HTX và các HTX nông nghiệp tham khảo tự đánh giá mình. Một số chỉ số về khó khăn của HTX nông nghiệp được đưa ra như: Số thành viên quá lớn trên 200 thành viên và HTX hoạt động đơn ngành nghề; HTX không có phương án sản xuất kinh doanh; liên kết sản xuất kém với cung cấp dịch vụ đầu vào sản xuất dưới 60% và tiêu thụ sản phẩm dưới 30%; ứng dụng cơ giới hóa vào sản xuất dưới 30% và ứng dụng công nghệ cao dưới 20%; doanh thu hàng năm dưới 500 triệu đồng và lợi nhuận dưới 200 triệu đồng.
-
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIAO ĐẤT, CHO THUÊ ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Abstract : 2 PDF: 2Giai đoạn 2016 - 2019, trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội công tác quản lý việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đã mang lại hiệu quả. Các hình thức giao đất áp dụng đối với hộ gia đình cá nhân: đấu giá đất được 599 ô đất, với diện tích 43.741,3 m2; tái định cư cho 49 hộ với diện tích 3619,9 m2; cho thuê đất công ích 309,89 ha; cho thuê đất phi nông nghiệp 211 hộ với diện tích là 70,9 ha. Tình trạng người dân chưa đưa đất vào sử dụng còn khá cao (23,33%) đối với đất tái định cư). Các hình thức giao đất áp dụng đối với tổ chức: giao đất có thu tiền sử dụng đất cho 3 tổ chức với diện tích 187,25 ha; giao đất không thu tiền sử dụng đất cho 96 tổ chức với diện tích 488.431,5 m2; cho thuê đất 39 tổ chức với diện tích là 484.092 m2. Kết quả nghiên cứu đã thực hiện điều tra đối với 90 hộ gia đình cá nhân về tái định cư, đấu giá, thuê đất; đối với 38 tổ chức về giao đất, thuê đất; đối với 10 cán bộ làm công tác quản lý đất đai về trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất cho thấy: 80,0% cán bộ đánh giá trình tự, thủ tục giao đất thuận tiện, 20,0% cán bộ đánh giá trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất ở mức phức tạp. Để nâng cao hiệu quả công tác giao đất, cho thuê đất trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội cần thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ chế chính sách; khoa học công nghệ; tài chính và tổ chức thực hiện.








