ỨNG DỤNG QUY HOẠCH THỰC NGHIỆM TRONG NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG THIẾT BỊ CÔ ĐẶC MẬT ONG KIỂU CHÂN KHÔNG DẠNG ỐNG CÓ VÀNH DẪN CHẤT LỎNG PHỐI HỢP PHÁ KẾT TINH BẰNG SÓNG SIÊU ÂM CĐ-1

Hệ thống thiết bị cô đặc mật ong, thời gian cô đặc, thiết bị phát sóng siêu âm, thời gian kết tinh trở lại, chi phí điện năng riêng.

Các tác giả

  • Đặng Thanh Sơn, Trần Như Khuyên, Nguyễn Thanh Hải

DOI:

https://doi.org/10.71254/sg4gcz25

Abstract

The CĐ-1 honey concentrator is being studied and applied to concentrate honey and some solutions that have similar physical and chemical properties. The advantage of this honey concentrator is using a liquid ring and ultrasonic equipment to increase the evaporation ability and crystallization in honey, contributing to the quality of honey products during the condensed process. Multi-factor experimental method has been applied to research the influence of concentration temperature, height of liquid ring, and ultrasonication broadcasting time to the synthesis point of concentrated product quality, concentration time, recrystallization time when storing and specific cost of electricity. The results of the experimental research have determined the optimal values of the input elements: concentration temperature T= 44.8oC, the height of liquid ring Hvd = 653 mm, ultrasonication broadcasting time τs = 24.4 mins and optimal values of parameters: synthesis point of concentrated product quality Q=18.96 points, crystallization time τkt = 216.5 days, concentration time τ= 57.4 minutes, and specific cost of electricity Nr = 1.37 kWh/kgH2O. The above research results are important basis to complete the design and manufacture different sizes of concentrator equipment that have different capacities, which suit the size of the production facilities.

Tóm tắt

Thiết bị cô đặc mật ong CĐ-1 đang được nghiên cứu ứng dụng để cô đặc mật ong và một số dung dịch có tính chất lý hóa tương tự. Loại thiết bị cô đặc này có ưu điểm là sử dụng vành dẫn chất lỏng và bộ phận phát sóng siêu âm nhằm tăng khả năng bốc hơi nước và phá kết tinh đường trong mật ong, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm mật ong trong quá trình cô đặc. Áp dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đa yếu tố để nghiên cứu mức độ ảnh hưởng đồng thời của nhiệt độ cô đặc, chiều cao vành dẫn chất lỏng và thời gian phát sóng siêu âm đến điểm tổng hợp chất lượng sản phẩm cô đặc, thời gian cô đặc, thời gian kết tinh trở lại khi tồn trữ và chi phí điện năng riêng. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã xác định được giá trị tối ưu của các yếu tố vào: nhiệt độ cô đặc T= 44,80C, chiều cao vành dẫn chất lỏng Hvd = 653 mm, thời gian phát sóng siêu âm τs = 24,4 phút và giá trị tối ưu của các thông số ra: điểm tổng hợp chất lượng sản phẩm cô đặc Q= 18,96 điểm, thời gian kết tinh τkt = 216,5 ngày, thời gian cô đặc τ= 57,4 phút, chi phí điện năng riêng Nr = 1,37 kWh/kgH2O. Kết quả nghiên cứu trên là cơ sở quan trọng để hoàn thiện thiết kế và chế tạo các cỡ thiết bị cô đặc có năng suất khác nhau phù hợp với quy mô của từng cơ sở sản xuất.

Tải xuống

Ngày nhận bài:

10-07-2026

Ngày nhận bài sửa:

26-08-2026

Ngày duyệt đăng:

26-08-2026

Ngày xuất bản:

17-01-2022

Title:

APPLYING EXPERIMENTAL PROGRAMING METHO STUDYING ON THE DESIGN OF THE TUBE-TYPE VACUUM HONEY CONCENTRATOR WITH LIQUID RING PARTS AND ULTRASONIC DEVICE COMBINATION TO PREVENT THE CRYSTALIZATION
Cách trích dẫn
ỨNG DỤNG QUY HOẠCH THỰC NGHIỆM TRONG NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG THIẾT BỊ CÔ ĐẶC MẬT ONG KIỂU CHÂN KHÔNG DẠNG ỐNG CÓ VÀNH DẪN CHẤT LỎNG PHỐI HỢP PHÁ KẾT TINH BẰNG SÓNG SIÊU ÂM CĐ-1: Hệ thống thiết bị cô đặc mật ong, thời gian cô đặc, thiết bị phát sóng siêu âm, thời gian kết tinh trở lại, chi phí điện năng riêng. (2022). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, 1, 44-53. https://doi.org/10.71254/sg4gcz25
Bài viết

Các trích dẫn

ỨNG DỤNG QUY HOẠCH THỰC NGHIỆM TRONG NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG THIẾT BỊ CÔ ĐẶC MẬT ONG KIỂU CHÂN KHÔNG DẠNG ỐNG CÓ VÀNH DẪN CHẤT LỎNG PHỐI HỢP PHÁ KẾT TINH BẰNG SÓNG SIÊU ÂM CĐ-1: Hệ thống thiết bị cô đặc mật ong, thời gian cô đặc, thiết bị phát sóng siêu âm, thời gian kết tinh trở lại, chi phí điện năng riêng. (2022). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, 1, 44-53. https://doi.org/10.71254/sg4gcz25
Lượt xem
1
Lượt tải
1