Số 18 (2021)
Bài viết
-
SỰ ĐA DẠNG CỦA VI KHUẨN VÀ VI NẤM, VAI TRÒ CỦA CHÚNG TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Abstract : 16 PDF: 14Canh tác hữu cơ đã trở thành một vấn đề rất quan trọng cho nền nông nghiệp phát triển bền vững bằng cách sử dụng các loại phân bón hữu cơ chất lượng cao để cải thiện độ phì nhiêu của đất. Quá trình sản xuất phân hữu cơ với nhiệt độ cao có thể sản xuất ra những loại phân hữu cơ có chất lượng cao, có chứa nhiều chất dinh dưỡng thay thế được các loại phân hóa học và có chứa các loại vi sinh vật có ích có tác dụng thay thế thuốc trừ sâu. Những vi khuẩn có ích được tìm thấy như Bacillus spp. của Firmicutes, Actinomycetaceae spp. của Actinobacteria, Proteobacteria spp. và Bacteroidetes spp., là những nhóm chính của nhóm vi khuẩn vùng rễ cây. Những loại vi khuẩn có ích đơn độc như Streptomycests spp., Bacillus subtilis, Lactobacillus spp. có khả năng sản xuất thương mại hóa như là loại thuốc trừ sâu sinh học. Sự đa dạng phong phú của vi khuẩn, nấm mốc và chức năng của chúng trong tự nhiên như vi khuẩn vùng rễ cây và những vi khuẩn cộng sinh vùng rễ cây có khả năng tạo ra chất chất kích thích sinh trưởng cây trồng, chất bảo vệ cây trồng khỏi sự tấn công phá hại của vi khuẩn, nấm mốc và tuyến trùng gây hại khác cho cây trồng. Một số loại nấm mốc có lợi nhưng cũng có loại có hại cho con người và cây trồng; và sự cạnh tranh lẫn nhau giữa vi khuẩn, nấm mốc, tuyến trùng và côn trùng với cây trồng tạo nên những mối quan hệ cùng có lợi giữa chúng với nhau.
-
PHÂN LẬP VÀ ĐỊNH DANH CÁC CHỦNG VI KHUẨN HÒA TAN PHỐT PHÁT VÀ KHÁNG KIM LOẠI NẶNG TỪ ĐẤT TRỒNG LÚA Ở TỈNH NAM ĐỊNH
Abstract : 14 PDF: 15Ô nhiễm kim loại nặng trong đất nông nghiệp đang là vấn đề cản trở sự phát triển của nền nông nghiệp bền vững. Nghiên cứu này được tiến hành nhằm phân lập các chủng vi khuẩn trong đất trồng lúa ở tỉnh Nam Định có khả năng hòa tan phốt phát và kháng kim loại nặng. Kết quả cho thấy hầu hết các chủng phân lập được đều có thể kháng các kim loại nặng ở nồng độ thấp. Tuy nhiên, khả năng chịu đựng sau đó đã giảm đáng kể khi nồng độ kim loại nặng tăng lên. Trong số 11 chủng phân lập được, có 7 chủng dễ bị tổn thương với các kim loại nặng Cd và Pb ở nồng độ 400 mg/L và ba chủng có khả năng chịu đựng tốt hơn. Đặc biệt là chủng ND03 (Burkholderia gladioli) cho thấy khả năng chịu đựng cao nhất đối với Cd, Pb, Cu và Zn ở các dải nồng độ nghiên cứu. Tuy nhiên, khả năng hòa tan phốt phát của chủng ND03 cũng bị suy giảm rất nhiều khi có mặt các kim loại nặng Cd và Pb. Nhìn chung, ảnh hưởng của các kim loại nặng đến khả năng hòa tan phốt phát của các chủng vi khuẩn được tìm thấy giảm dần theo thứ tự sau: Pb> Cd> Cu> Zn. Các kết quả trong nghiên cứu này cho thấy chủng ND03 có tiềm năng ứng dụng trong cải tạo đất, làm tăng khả năng hòa tan phốt phát khoáng trong đất trồng nhiễm kim loại nặng.
-
PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN, ĐỊNH DANH VI KHUẨN CỐ ĐỊNH ĐẠM VÀ TỔNG HỢP IAA TỪ RỄ CÂY QUÝT HỒNG (Citrus reticulata Blanco) TRỒNG TẠI HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Abstract : 14 PDF: 13Chế phẩm vi sinh có vai trò quan trọng trong cải thiện độ phì nhiêu đất và năng suất cây trồng trong hệ thống nông nghiệp bền vững. Mục tiêu nghiên cứu nhằm tuyển chọn những dòng vi khuẩn nội sinh cố định đạm và tổng hợp IAA trong điều kiện pH thấp. Tổng cộng 18 mẫu rễ quýt hồng được thu tại xã Long Hậu và Tân Thành, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp được sử dụng để phân lập vi khuẩn nội sinh trên môi trường không đạm LGI và NFB. Kết quả cho thấy phân lập được sáu mươi tám dòng vi khuẩn nội sinh rễ cây quýt hồng, trong đó có mười một dòng vi khuẩn được tuyển chọn có khả năng thích nghi môi trường chua pH 5,0. Tuyển chọn được 2 dòng vi khuẩn cố định đạm cao nhất LH-L-4E (1,89 mg NH4+ L-1) và LH-L-4A (1,77 mg NH4+ L-1) trong điều kiện chua. Ngoài ra, hai dòng vi khuẩn có khả năng tổng hợp IAA cao nhất là TT-L-1A (16,8 mg L-1) và LH-L-4B (16,1 mg L-1). Hai dòng vi khuẩn tuyển chọn được định danh bằng kỹ thuật 16S rDNA là Klebsiella pneumoniae LH-L-4E và Pseudomonas putida TT-L-1A. Cần đánh giá hiệu quả của các dòng vi khuẩn đã tuyển chọn trong thay thế phân đạm trên cây quýt hồng ở điều kiện nhà lưới và đồng ruộng.
-
PHÂN LẬP VÀ XÁC ĐỊNH VI KHUẨN TỪ VÙNG SINH THÁI BẢN ĐỊA CÓ KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG VỚI Xanthomonas spp. GÂY BỆNH ĐỐM LÁ TRÊN CÂY HOA HỒNG (Rosa spp.)
Abstract : 14 PDF: 13Từ 3 vùng sinh thái bản địa là Vườn Quốc gia Tràm Chim, Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng, Khu di tích lịch sử văn hóa Xẻo Quýt thuộc tỉnh Đồng Tháp, 543 dòng vi khuẩn được phân lập và được khảo sát khả năng đối kháng đối với 3 dòng Xanthomonas spp. (XR9, XR13, XR18) gây bệnh đốm lá trên cây hoa hồng (Rosa spp.). Kết quả ghi nhận 17 dòng vi khuẩn bản địa có khả năng đối kháng tích cực (D >15 mm) đối với cả ba dòng gây bệnh. Trong đó, 3 dòng T265, G24, X61 đối kháng triển vọng với đường kính vùng ức chế cao nhất, đã được chọn xác định danh pháp. Qua kỹ thuật MALDI-TOF-MS, 2 dòng X61, G24 được xác định đều thuộc về chi Bacillus và dòng X61 được xác định đến loài là B. subtilis, trong khi chưa xác định được dòng T265. Hai dòng T265 và G24 tiếp tục được xác định qua kỹ thuật giải trình tự gen 16S rRNA. Kết quả cho thấy dòng T265 có giá trị tương đồng cao nhất với Paenibacillus elgii MN160320 (98,50%), P. elgii HQ236085 (98,49%), trong khi dòng G24 tương đồng 99,49% với Bacillus subtilis MK859998 và EF530208.2. Dòng T265 được đề xuất danh pháp và accession number là Paenibacillus elgii MZ841643 và dòng G24 là Bacillus subtilis MZ841644. Các dòng vi khuẩn đối kháng này đã thể hiện tiềm năng kiểm soát vi khuẩn gây bệnh đốm lá trên cây hoa hồng ở Đồng Tháp.
-
ĐỊNH DANH XẠ KHUẨN CÓ KHẢ NĂNG PHÒNG TRỊ MỘT SỐ BỆNH HẠI CÂY KHOAI MÔN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 14 PDF: 13Ba mẫu xạ khuẩn có khả năng phòng trị một số bệnh hại quan trọng trên khoai môn được thu thập và phân lập từ ruộng trồng khoai môn tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long (TTr.BT7), huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (LV.ĐT1) và huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang (CM.AG22) của đồng bằng sông Cửu Long. Trong nghiên cứu này, các mẫu xạ khuẩn trên được định danh dựa vào đặc điểm hình thái của khuẩn lạc nuôi cấy trên các môi trường ISP (International Streptomyces Project) và đặc tính sinh hóa. Ngoài ra, các mẫu xạ khuẩn được định danh dựa trên trình tự gen vùng 16S-rRNA. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 2 chủng TTr.BT7 và LV.ĐT1 cùng có dạng cuống sinh bào tử dạng thẳng và chuỗi bào tử dạng thẳng, bề mặt bào tử của 2 chủng đều dạng trơn; chủng CM.AG22 có cuống sinh bào tử thuộc dạng móc câu, chuỗi bào tử dạng gợn sóng; bề mặt bào tử có dạng có gai. Màu sắc của sợi cơ chất chủng TTr.BT7 và chủng CM.AG22 thuộc phân nhóm màu xám và chủng LV.ĐT1 thuộc phân nhóm màu trắng. Chủng TTr.BT7 và CM.AG22 có khả năng tiết ra sắc tố melanin, còn chủng LV.ĐT1 không tiết ra sắc tố melanin và các chủng xạ khuẩn đều có khả năng tiết enzym protease, lipase, amylase và cellulase. Đồng thời, trình tự đoạn gene 16S-rRNA của các chủng xạ khuẩn thí nghiệm cũng đã được xác định, so sánh với trình tự gene vùng 16S-rDNA của các mẫu sẵn có trên ngân hàng gene (GenBank) và xây dựng sơ đồ phả hệ thể hiện mối tương quan di truyền giữa chúng. Kết quả cho thấy chủng TTr.BT7 là loài Streptomyces avellaneus, chủng LV.ĐT1 là loài S. lavendulae và chủng CM.AG22 là loài S. filipinensis.
-
NGHIÊN CỨU CHẾ PHẨM SINH HỌC CHỨA XẠ KHUẨN Streptomyces sp. CMAG5 ĐỐI KHÁNG NẤM Phytopthora sp. GÂY BỆNH CHÁY LÁ TRÊN KHOAI MÔN
Abstract : 15 PDF: 15Đề tài được thực hiện nhằm xác định chất mang nhân nuôi chủng xạ khuẩn Streptomyces sp. CMAG5 sau 7 ngày tồn trữ lần lượt ở MS 4%, cám bắp 4%, cám gạo, lúa xay 4% ở điều kiện phòng thí nghiệm, Trường Đại học An Giang. Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 4 lặp lại, 3 nghiệm thức và các chỉ tiêu theo dõi gồm mật số xạ khuẩn, khả năng đối kháng trên đĩa thạch gồm bán kính vòng vô khuẩn và hiệu suất đối kháng. Kết quả cho thấy, sau thời gian tồn trữ 1 tuần, các chế phẩm đều cho khả năng thích nghi của chủng xạ khuẩn Streptomyces sp. CMAG5. Tuy nhiên, xạ khuẩn ở chế phẩm MS 4% thể hiện sự đối kháng với mật số xạ khuẩn 1,1 x 106 cfu/ml; bán kính vòng vô khuẩn 15,25 mm và hiệu suất đối kháng 50,83% duy trì đến 7 ngày sau bố trí cao nhất và tốt hơn so với ở chế phẩm cám bắp 4% và cám gạo, lúa xay 4%. Kết quả định danh dòng xạ khuẩn Streptomyces sp. CMAG5 là loài Streptomyces fradiae.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA BỔ SUNG NẤM Trichoderma spp. PHÂN HỦY CELLULOSE, ĐỐI KHÁNG NẤM Fusarium spp. ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT QUÝT ĐƯỜNG TRỒNG TRÊN ĐẤT PHÈN TẠI XÃ LONG TRỊ, THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
Abstract : 18 PDF: 17Mục tiêu của nghiên cứu (i) xác định hiệu quả của phân hữu cơ vi sinh chứa nấm Trichoderma spp. và chế phẩm vi sinh đến sinh trưởng và năng suất quýt đường, (ii) đánh giá hiệu quả của nấm Trichoderma spp. trong giảm thiểu bệnh vàng lá thối rễ trên cây quýt đường. Thí nghiệm đồng ruộng được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên bao gồm tám nghiệm thức, với ba lần lặp lại tại xã Long Trị, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Các nghiệm thức bao gồm (i) bón phân theo nông dân, (ii) chế phẩm sinh học, (iii) bón phân hữu cơ vi sinh kết hợp xử lý vôi mỗi tháng, (iv) bón phân hữu cơ vi sinh kết hợp tưới năm dòng nấm Trichoderma spp. dạng dung dịch đối kháng nấm Fusarium spp., (v) bón phân hữu cơ vi sinh kết hợp xử lý vôi mỗi tháng và tưới 5 dòng nấm Trichoderma spp. dạng dung dịch đối kháng nấm Fusarium spp. (vi) nghiệm thức iv và bổ sung chế phẩm vi sinh PNSB, (vii) nghiệm thức vi, nhưng giảm 25% N, P, và (viii) nghiệm thức vi, nhưng giảm 50% N, P. Kết quả cho thấy bón phân hữu cơ vi sinh có chứa nấm T. harziamum T-HG2Fa, T. asperellum T-HG4Ga phân hủy cellulose đã cải thiện đường kính cây, số trái trên cây và năng suất quýt đường. Ngoài ra, bón phân hữu cơ vi sinh kết hợp bón vôi và chế phẩm vi sinh chứa các dòng vi khuẩn Rhodopseudomonas palustris TLS06, VNW02, VNW64 và VNS89 làm tăng năng suất quýt đường từ 96,4 đến 152,1% so với bón phân theo nông dân. Bổ sung nấm Trichoderma spp. T-AG5Ab, T- AG5Da, T- AG5Ab, T- AG6Cb và T- AG6Cc có khả năng đối kháng nấm Fusarium spp. giúp giảm số nhánh bị bệnh (45-65 so với 84 nhánh) và số rễ cấp bốn bị bệnh giảm đến 38,0%.
-
TẠO KHÁNG THỂ ĐA DÒNG NHẬN BIẾT PROTEIN P9 CỦA VI RÚT LÙN SỌC ĐEN PHƯƠNG NAM BẰNG ĐOẠN PEPTIDE TỔNG HỢP
Abstract : 5 PDF: 8Bệnh lúa lùn sọc đen do vi rút lùn sọc đen phương Nam (Southern rice black-striked dwarf virus-SRBSDV) đã gây dịch bệnh nghiêm trọng trên lúa với diện tích hàng triệu hecta tại các vùng trồng lúa ở phía Nam Trung Quốc và miền Bắc và Trung Việt Nam trong giai đoạn 2009-2011. Năm 2017, bệnh có dấu hiệu tái phát tại Thái Bình và một số vùng trồng lúa khu vực phía Bắc. Hệ gen của SRBSDV có chiều dài 29124 bp, gồm 10 phân đoạn RNA sợi đôi, có kích thước từ 1,8 đến 4,5 kb, được đánh số từ S1 đến S10. Trong đó, phân đoạn S9 có chiều dài 1899 bp tham gia tạo cấu trúc viroplasm, có vai trò trong quá trình tái sinh và lắp ráp phân tử virus trong tế bào ký chủ. Trong nghiên cứu này, đã xác định những đoạn peptide có kích thước nhỏ trên P9 vừa có tính bảo thủ cao với các mẫu SRBSDV của Việt Nam đã được giải trình tự vừa có tính kháng nguyên cao, đoạn peptide sau đó được sử dụng để tạo kháng thể. Kháng thể tinh sạch có hiệu giá 1:50.000, có thể phát hiện đặc hiệu sự có mặt của đoạn peptide có nguồn gốc từ protein P9 và SRBSDV trong các mẫu lúa nhiễm bệnh lùn sọc đen bằng kỹ thuật Dot-ELISA.
-
XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHUYỂN GEN VÀO GIỐNG LÚA TBR225 THÔNG QUA VI KHUẨN Agrobaterium tumefaciens
Abstract : 15 PDF: 14Lúa TBR225 là một trong những giống lúa chủ lực được trồng rất phổ biến ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, giống lúa này vẫn có những nhược điểm nhất định, như mẫn cảm với bệnh bạc lá, cần được cải tiến. Ngày nay, có rất nhiều phương pháp để cải tiến tính trạng của cây trồng, trong đó có công nghệ chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9. Yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành công trong ứng dụng công nghệ CRISPR/Cas9 là hoàn thiện quy trình nuôi cấy in vitro và chuyển gen cho đối tượng cây trồng quan tâm. Trong nghiên cứu này, đã xây dựng thành công quy trình chuyển gen vào giống lúa TBR225 thông qua vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens. Quy trình nuôi cấy in vitro tối ưu cho giống lúa TBR225 có tỷ lệ tạo mô sẹo đạt 84,25%, tỷ lệ tái sinh chồi đạt 92% và 5,2 chồi/cụm chồi. Quy trình chuyển gen lúa TBR225 tối ưu sử dụng mật độ vi khuẩn A. tumefaciens có giá trị OD600nm = 0,05 cho bước đồng nuôi cấy và chất kháng sinh Hygromycin 30 mg/L cho bước chọn lọc, môi trường tạo mô sẹo MS3 (môi trường MS bổ sung 2,5-D với nồng độ 2,5 mg/L), môi trường tái sinh TS1 (môi trường MS bổ sung NAA 1 mg/L + kinetin 2 mg/L + BAP 0,5 mg/L), khi được thử nghiệm chuyển gen GFP tỉ lệ tạo mô sẹo và tái sinh chồi lần lượt là 84,25% và 92%, hiệu suất chuyển gen đạt 21,7%. Kết quả nghiên cứu này là tiền đề cho các nghiên cứu cải tiến tính trạng của giống lúa TBR225 bằng công nghệ gen trong tương lai.
-
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DI TRUYỀN ĐỘT BIẾN PROMOTER OsSWEET14 TRÊN CÁC DÒNG LÚA BẮC THƠM 7 CHỈNH SỬA GEN
Abstract : 6 PDF: 7Giống lúa chất lượng Bắc thơm 7 có giá trị kinh tế cao, được canh tác phổ biến ở các tỉnh phía Bắc nhưng lại mẫn cảm với bệnh bạc lá lúa do vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae (Xoo) gây ra. Xoo xâm nhiễm vào cây chủ và gây bệnh thông qua cơ chế hoạt hóa một số gen mã hoá các protein vận chuyển đường của cây chủ, bao gồm cả OsSWEET14 nhờ protein tiết loại III TAL (transcription activator-like). Gây đột biến chính xác tại các vị trí tương tác của protein TAL trên vùng promoter của gen đích bằng các công cụ chỉnh sửa gen như CRSIPR/Cas9 (clustered regularly interspaced short palindromic repeats/CRISPR-associated protein-9 nuclease) là một hướng nghiên cứu tiềm năng để cải tiến tính kháng bạc lá của các giống lúa trong sản xuất. Trong nghiên cứu này, các phân tích trên các dòng lúa BT7 chuyển gen đã xác định được hiệu quả gây đột biến OsSWEET14 của cấu trúc CRISPR/Cas9 đạt 82,6%, bao gồm hai loại đột biến thêm và mất nucleotide (Nu). Các đột biến này đã được di truyền chính xác sang thế hệ sau (tỉ lệ phân ly 1:2:1) và không xuất hiện thêm đột biến mới. Các phân tích kiểu hình của các dòng lúa chỉnh sửa gen bước đầu cho thấy đột biến trên promoter OsSWEET14 không gây ảnh hưởng tới sinh trưởng và năng suất của cây lúa. Một số dòng lúa chỉnh sửa gen BT7 thế hệ T1 đã biểu hiện tính kháng đối với chủng vi khuẩn bạc lá VXO_11 trong thí nghiệm lây nhiễm nhân tạo trong điều kiện nhà lưới. Kết quả thu được là tiền đề cho nghiên cứu phát triển giống lúa BT7 kháng bạc lá trong tương lai.
-
ĐẶC ĐIỂM TRÌNH TỰ ĐOẠN GEN ndhF CỦA LOÀI CÁP ĐẮK NÔNG (Capparis daknongenesis D.T. Sy, G.C. Tucker, Cornejo & Joongku Lee)
Abstract : 13 PDF: 13Bài báo cung cấp một số thông tin về trình tự đoạn gen ndhF của loài Capparis daknongensis thu thập tại xã Đắk Nia, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông. Cáp Đắk Nông là một loài thực vật đặc hữu của Việt Nam, có khu phân bố hẹp, hiện mới ghi nhận ở tỉnh Đắk Nông và Đắk Lắk. Phân lập đoạn gen ndhF bằng kỹ thuật PCR đã thu được trình tự có chiều dài 1105 nucleotide. Nghiên cứu về trình tự đoạn gen ndhF của mẫu thí nghiệm chỉ ra rằng, loài Cáp Đắk Nông có quan hệ di truyền gần nhất với 2 loài Capparis tomentosa và Capparis callophylla. Các đặc điểm nghiên cứu trên là thông tin quan trọng giúp nhận diện và xây dựng mã vạch ADN barcoding cho loài thực vật đặc hữu này.
-
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG HỌC VÀ ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA CÁC GIỐNG LÚA NẾP THU THẬP Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 5 PDF: 8Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích khảo sát đặc điểm nông học và di truyền của 14 giống lúa nếp được chọn từ các vùng trồng nếp ở đồng bằng sông Cửu Long để tìm những giống có khả năng thích nghi với vùng chuyên canh lúa nếp nhằm đa dạng nguồn giống trong sản xuất, làm vật liệu để lai tạo những giống lúa nếp mới. Đặc điểm nông học được khảo sát trong 02 vụ thu đông 2017 và đông xuân 2017-2018 tại huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. 14 giống lúa nếp cũng được khảo sát bằng 9 chỉ thị phân tử SSR tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ sinh học, Trường Đại học Cần Thơ. Kết quả phân tích đặc điểm nông học, năng suất đã tuyển chọn được giống nếp Đùm Lá Xanh là giống có năng suất cao và có nhiều ưu điểm hơn so với các giống khác trong thí nghiệm. Phân tích năng suất và tính ổn định của các giống cho thấy, 14 giống lúa nếp trong thí nghiệm phân thành bốn nhóm. Kết quả khảo sát bằng 9 chỉ thị phân tử SSR, đã khuếch đại tổng số 19 băng trong đó có 11 băng đa hình đạt tỉ lệ 57,9%. Chỉ số PIC dao động từ 0,00-0,90 với mức độ đa hình trung bình của quần thể trong nghiên cứu này là 0,65. Kết quả phân tích sơ đồ nhánh dựa vào phương pháp UPGMA đã chứng minh các mẫu lúa nếp có sự đa dạng về kiểu gen rất cao và có phần trăm tương đồng dao động từ 49,9-100% và được phân thành 2 nhóm lớn. Nghiên cứu này chỉ ra rằng có sự biến đổi về mặt di truyền đáng kể trong số các giống lúa nếp khảo sát mà hình thái học khó có thể phân biệt.
-
ỨNG DỤNG CHỈ THỊ PHÂN TỬ NÂNG CAO KÍCH THƯỚC HẠT TRONG CHỌN GIỐNG ĐẬU PHỘNG (Arachis hypogaea L) TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 4 PDF: 7Nghiên cứu này chủ yếu áp dụng chỉ thị phân tử trong chọn giống đậu phộng theo hướng nâng cao kích thước hạt từ quần thể tự thụ của F8 của tổ hợp lai HATRI 01ĐP/HATRI 02ĐP. Đã xác định có sự đa hình trên hai chỉ thị SNP Aradu-A07-1148327, Aradu-A07-1316694 và 1 chỉ thị SSR (simple sequence repeat) GM 1494 với kích thước hạt đậu phộng trên nhiễm sắc thể A07. Theo bản đồ GGT, xác định được mô hình di truyền của các giống lai trong quần thể so với bộ gen của cha mẹ trong thế hệ F7 của tổ hợp lai HATRI 01ĐP/HATRI 02ĐP. Thông qua 20 SNP (single-nucleotide polymorphism) phân tử và 2 chỉ thị SSR (simple sequence repeat) trên số nhiễm sắc thể A07, khoảng cách di truyền từ 0-50,8 cM, các dòng được chọn mang một đồng gen vượt trội hơn so với bố mẹ trên nhiễm sắc thể A07. Kết quả có 4 dòng với 100% mang gen có kích thước hạt to giống với giống bố là (HATRI 02ĐP). Bốn dòng được chọn là: dòng 14 (F2-4-10-1-1-14); 20 (F2-18-11-26-19-20); 21(F2 -105-3-1-6-21); 22 (F2-215-75-86-35-22). Tuy nhiên sau khi đánh giá quân thể tự thụ F8 và so sánh kiểu hình và kiểu gen chỉ có hai dòng 20 (F2-18-11-26-19-20) và 21 (F2 -105-3-1-6-21) cho kích thước hạt to được chọn.
-
ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG DI TRUYỀN MỘT SỐ GIỐNG CAM ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM BẰNG CHỊ THỈ SSR
Abstract : 13 PDF: 12Nghiên cứu thiết lập tiêu bản ADN của tập đoàn 36 giống cam địa phương, sử dụng 30 chỉ thị SSR để nghiên cứu đa hình giữa các giống cam. Kết quả cho thấy tổng số alen phát hiện tại 30 locut là 95 alen khác nhau, trung bình 3,17 alen/locut. Hệ số thông tin đa hình của mồi (PIC) dao động từ 0,31 (Ci07B09) đến 0,84 (AG14), trung bình 0,58 và mức độ tương đồng di truyền trong khoảng từ 0,59 đến 0,81. Tại mức tương đồng di truyền 0,59, các giống cam nghiên cứu chia làm 2 nhóm: nhóm I gồm 28 giống có mức tương đồng di truyền từ 0,598 đến 0,81; nhóm II gồm 8 giống có mức tương đồng di truyền từ 0,61 đến 0,716. Nghiên cứu đã xác định được 5 chỉ thị cho nhận dạng đặc trưng CT02, mCrCiR01D06a, CiBE0246, CiBE0105, CiBE2165. Các kết quả thu được có ý nghĩa trong công tác nhận dạng giống phục vụ công tác bảo tồn cũng như chọn lọc giống cam ở Việt Nam.
-
ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG DI TRUYỀN CÁC MẪU GIỐNG XOÀI TẠI TRUNG BỘ VÀ NAM BỘ VIỆT NAM BẰNG CHỈ THỊ SCOT
Abstract : 5 PDF: 8Nghiên cứu được thực hiện với vật liệu nghiên cứu chính gồm 30 mẫu giống xoài thu thập tại các tỉnh/thành miền Trung và miền Nam Việt Nam và hệ thống chỉ thị SCoT gồm 52 mồi. Kết quả khuếch đại cho thấy, trong tổng số 52 mồi được khuếch đại, ghi nhận được 22 mồi SCoT cho kết quả đa hình với tổng số 336 band đạt tỷ lệ 100% đa hình. Các band đa hình của các mồi này dao động từ 10 đến 22 band, trong đó SCoT05 và SCoT06 là hai mồi cho số band đa hình lớn nhất (22 band); SCoT17 là mồi cho số band đa hình thấp nhất (10 band). Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân nhóm UPGMA chia tổng số 30 mẫu giống xoài này thành hai nhóm chính, trong đó nhóm I bao gồm chủ yếu các giống xoài cát Hòa Lộc có giá trị kinh tế cao; nhóm II đa số các giống bản địa. Dù các mẫu giống đều thuộc cùng một loài, nhưng nếu nguồn gốc của chúng thuộc các cây đầu dòng khác nhau thì sẽ cho kết quả phân tích di truyền khác nhau, đây được xem là cơ sở để xây dựng một hệ thống nhằm quản lý tốt các cây ưu thế của loài.
-
ỨNG DỤNG CHỈ THỊ SCOT ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG DI TRUYỀN MỘT SỐ GIỐNG VÚ SỮA (Chrysophyllum cainito) Ở VIỆT NAM
Abstract : 13 PDF: 15Mười bốn mẫu vú sữa được thu thập từ các trung tâm giống tại Việt Nam và hệ thống chỉ thị SCoT là vật liệu chính được sử dụng trong nghiên cứu này nhằm đánh giá sự đa dạng di truyền. Kết quả ghi nhận 9 mồi SCoT có khả năng khuếch đại các band đa hình trên vú sữa với tổng số band khuếch đại được là 98 band với 96 band đa hình; trong đó SCoT10 là mồi cho số band và band đa hình thấp nhất và ngược lại mồi SCoT06 ghi nhận được số band/band đa hình nhiều nhất. Đồng thời tiến hành phân nhóm các mẫu giống vú sữa trong nghiên cứu này thành 2 nhóm; trong đó ngoại trừ mẫu vú sữa Hoàng Kim được xếp vào một nhóm riêng thì 13 mẫu vú sữa còn lại được xếp chung vào một nhóm với độ tương đồng lớn hơn 85%. Kết quả này được cho là phù hợp với đặc điểm hình thái và là cơ sở cho việc xác định từng cá thể vú sữa nhờ tính đặc trưng cho từng cá thể của chị thị SCoT.
-
ĐÁNH GIÁ MỐI QUAN HỆ DI TRUYỀN CỦA MỘT SỐ GIỐNG HỒ TIÊU (Piper nigrum L.) VÙNG ĐÔNG NAM BỘ BẰNG GEN MATK
Abstract : 5 PDF: 8Mối quan hệ di truyền của các giống hồ tiêu thuộc vùng Đông Nam bộ được đánh giá thông qua việc so sánh trình tự gen matK của các giống hồ tiêu thu thập được và các trình tự tham chiếu trên nguồn cơ sở dữ liệu NCBI. Kết quả phân tích sự biến đổi trình tự nucleotide gen matK của các giống hồ tiêu cho thấy, các giống hồ tiêu Việt Nam có sự biến đổi trình tự nucleotide nhiều so với các giống hồ tiêu trên thế giới, đặc biệt là giống VLDN3 và ADDN có 17 vị trí biến đổi so với nhóm hồ tiêu thế giới. Các vùng biến đổi đặc trưng quan trọng của nhóm hồ tiêu Việt Nam xảy ra ở vị trí 463 (trừ mẫu giống VLDN1) chiếm tỉ lệ 85,71% trên tổng số mẫu hồ tiêu thu thập. Ở vị trí 680, sự biến đổi xuất hiện ở 4 giống hồ tiêu (VLDN2, VLVT2, VLDN3 và ADDN), chiếm 57,14% tổng số mẫu thu thập. Mối quan hệ phát sinh loài giữa các nhóm hồ tiêu Việt Nam cũng được phân tích và kết quả cho thấy, các giống hồ tiêu nhóm VNI (VLDN1, VLDN2, VLDN9, SRDN, VLVT2) có mối quan hệ gần hơn so với các giống hồ tiêu thuộc nhóm VNII (VLDN3 và ADDN). Mối quan hệ phát sinh loài của nhóm hồ tiêu Việt Nam và thế giới cũng được xác định khi kết quả phân tích cho thấy nhóm hồ tiêu VNI có mối quan hệ gần hơn nhóm hồ tiêu East Asia (Trung Quốc, Nhật Bản) và Southeast Asia (Thái Lan, Philipin và Pakistan) so với nhóm hồ tiêu VNII.
-
BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, ĐA DẠNG DI TRUYỀN VÀ SỰ TƯƠNG QUAN MỘT SỐ TÍNH TRẠNG CỦA NGUỒN GEN NGA TRUẬT (Curcuma zedoaria Rosc.)
Abstract : 12 PDF: 13Đánh giá kiểu hình là cần thiết nhằm làm tăng hiệu quả cho quá trình nhận dạng, phát triển và chọn tạo giống mới đối với cây trồng. Tổng cộng 18 nguồn gen nga truật được thu thập tại 11 tỉnh/thành có nguồn gốc từ 5 vùng sinh thái khác nhau đã được theo dõi một số kiểu hình, đánh giá đa dạng di truyền và mối tương quan. Dựa vào chỉ thị hình thái, 18 nguồn gen được chia làm 6 nhóm ở mức tương đồng 28%. Hệ số di truyền của một số tính trạng số lượng giữa các nguồn gen nga truật dao động 73,91-99,03%. Năng suất cá thể tương quan thuận với các tính trạng chiều cao cây, số lá, chiều dài/chiều rộng lá, chiều dài cụm, chiều dài nhánh và khối lượng củ nhánh. Kết quả nghiên cứu là tiền đề để phân biệt nguồn gen, chọn lọc giống ưu tú và phát triển vùng trồng nga truật cho năng suất cao, chất lượng tốt.
-
TỔNG QUAN VỀ SỬ DỤNG ẤU TRÙNG RUỒI LÍNH ĐEN (Hermetia illucens) LÀM THỨC ĂN TRONG CHĂN NUÔI VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Abstract : 13 PDF: 13Ruồi lính đen (Hermetia illucens) là côn trùng vô hại với con người, có khả năng chuyển đổi hiệu quả nhiều loại chất thải hữu cơ thành sinh khối. Vòng đời ruồi lính đen 40-45 ngày và chúng có thể được nuôi để thu ấu trùng làm thức ăn cho vật nuôi và động vật thủy sản. Ấu trùng của chúng có hàm lượng protein thô 41% (dao động 38-45%) và chất béo 29% (dao động 13-42%) theo vật chất khô. Mặc dù ấu trùng có hàm lượng chất béo bão hòa cao hơn hầu hết các loài côn trùng nhưng được khuyến cáo sử dụng làm thức ăn gia súc và cá. Ưu điểm lớn nhất của ấu trùng so với các loài côn trùng khác là khả năng chuyển hóa chất thải thành thức ăn giá trị và đóng góp vào chuỗi thức ăn, góp phần giảm thiểu ô nhiễm. Tuy nhiên, những hạn chế về sản lượng thấp và giá thành cao, có thể chứa kim loại nặng hay hàm lượng chất béo cao có thể làm hạn chế sử dụng ấu trùng ruồi lính đen làm thức ăn chăn nuôi và thuỷ sản.
-
ĐÁNH GIÁ TÍNH HIỆU QUẢ VIỆC SỬ DỤNG KẾT HỢP CHẾ PHẨM SINH HỌC CHỨA VI KHUẨN BACILLUS SPP. VÀ THIOBACILLUS SPP. TRONG KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG NƯỚC MÔ HÌNH AO NUÔI TÔM SÚ QUẢNG CANH CẢI TIẾN TẠI TỈNH BẠC LIÊU
Abstract : 7 PDF: 9Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả khả năng kiểm soát chất lượng nước khi sử dụng kết hợp chế phẩm sinh học Bacillus spp. và Thiobacillus spp. trong ao nuôi tôm sú quảng canh cải tiến (QCCT) tại huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu thông qua các chỉ số chất lượng nước bao gồm: nhiệt độ, độ mặn, độ kiềm pH, DO, N-NH3, N-NO2, P-PO4, H2S và Vibrio tổng số. Thí nghiệm này được bố trí gồm 3 nghiệm thức: 2 nghiệm thức sử dụng kết hợp chế phẩm sinh học Bacillus spp. và Thiobacillus spp. với liều lượng khác nhau và 1 nghiệm thức đối chứng không sử dụng chế phẩm sinh học; mỗi nghiệm thức được lập lại 3 lần và đồng nhất về quy trình kỹ thuật nuôi; bên cạnh đó, mỗi nghiệm thức được theo dõi liên tục trong suốt 21 lần thu mẫu trải dài từ tháng 10 nằm 2018 đến tháng 10 năm 2019. Kết quả cho thấy, việc sử dụng chế phẩm sinh học mang lại hiệu quả cao và có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với không sử dụng, bên cạnh đó góp phần cải thiện chất lượng nước trong ao nuôi tôm sú QCCT. Ngoài ra, việc điều chỉnh liều lượng cao hơn liều lượng bình thường cũng mang lại hiệu quả tốt hơn trong việc làm giảm đáng kể hàm lượng nitrit, photphate và hydrogensunfide so với liều lượng bình thường.
-
HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG THỰC KHUẨN THỂ TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH DO VI KHUẨN Vibrio parahemolyticus GÂY RA TRÊN TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei)
Abstract : 13 PDF: 13Vi khuẩn thuộc nhóm Vibrio spp. là tác nhân gây bệnh nghiêm trọng trên tôm, trong đó có các bệnh phổ biến là hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (Acute Hepatopancreatic Necrosis Syndrome - AHPNS) và bệnh phân trắng (White Feces Syndrome – WFD). Việc sử dụng kháng sinh để điều trị bệnh làm cho vi khuẩn trở nên đa kháng thuốc. Thực khuẩn thể (bacteriophage) là virus của vi khuẩn, có khả năng ký sinh và tiêu diệt vi khuẩn. Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả của thực khuẩn thể trong điều trị bệnh cho tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei). Sau 24 giờ chủng thực khuẩn thể (TKT), nước trong bể nuôi từ đục chuyển sang trong. Mật số vi khuẩn trong nước giảm mạnh từ 4,6x104 CFU/ml xuống còn 6,5x102 CFU/ml và sau 2 ngày chủng thực khuẩn thể mật số vi khuẩn tiếp tục giảm là 3,3x102 CFU/ml. Kết quả thu được trên mẫu tôm cũng tương tự khi có tác động của thực khuẩn thể vi khuẩn trong gan tụy tôm từ 2,3x105 CFU/con giảm xuống 1,1x102 CFU/con. Hoạt động và hình thái của tôm có sự khác biệt rõ ràng khi tôm nhiễm bệnh và sau khi điều trị. Tôm cảm nhiễm hoạt động chậm chạp, bỏ ăn, lờ đờ gan tụy nhạt màu, ruột rỗng. Chỉ sau hai ngày chủng thực khuẩn thể, tôm bắt đầu ăn lại, gan tụy cũng sậm màu hơn, ruột đầy dần. Mẫu mô gan tụy tôm chủng vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus, có dấu hiệu bong tróc rơi vào lòng ống gan và có hiện tượng melanin hoá các tế bào máu hóa đen xung quanh khu vực hoại tử. Sau khi điều trị bằng thực khuẩn thể cấu trúc hình sao dần phục hồi, không tìm thấy các tế bào máu tụ xung quanh các ống, trong lòng ống giảm các tế bào bong tróc và tế bào máu, không thấy sự melanin hóa. Dựa vào kết quả thu được, có thể nhận định rằng thực khuẩn thể hứa hẹn là một giải pháp sinh học thay thế kháng sinh trong phòng trị bệnh do vi khuẩn Vibrio spp. gây ra.
-
XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG VÀ HOẠT TÍNH KHÁNG OXY HÓA CỦA DỊCH NẤM MEN BIA XỬ LÝ BẰNG PHƯƠNG PHÁP CƠ HỌC
Abstract : 17 PDF: 16Nấm men đã qua sử dụng (bã men bia) là sản phẩm phụ chính được tạo ra trong quá trình sản xuất bia. Bã men bia không chỉ là nguồn cung cấp protein (45 - 60%) mà còn là nguồn cung cấp một số thành phần có lợi cho sức khỏe như β-glucan, nucleotide, vitamin, khoáng chất và các hợp chất phenolic. Do đó, nghiên cứu này được thực hiện để tận dụng men bia đã qua sử dụng như là một thành phần chức năng vừa có giá trị dinh dưỡng vừa có hoạt tính sinh học nói chung hay hoạt tính chống oxy hóa nói riêng. Kết quả đã xác định được thành phần dinh dưỡng có trong dịch nấm men với hàm lượng protein là 39,65%, carbohydrate là 18,47%, chất béo là 0,95% và hàm lượng tro là 38,31 % (tính theo vật chất khô). Thành phần các khoáng chất vi lượng bao gồm Na (3.419,2 mg/L), Ca (29,0 mg/L), K (358,8 mg/L), Mg (77,1 mg/L) và vitamin B3 là 16,4 mg/L. Hàm lượng polyphenol tổng hiện diện trong dịch nấm men là 99,09 mg GAE/mL. Khả năng kháng oxy hóa của dịch nấm men được đánh giá qua khả năng khử gốc tự do DPPH và khử ion Fe3+ với giá trị IC50 lần lượt là 79,42 μg/mL và 1,41 μg/mL.
-
TỐI ƯU HÓA ĐIỀU KIỆN LÊN MEN RƯỢU VANG MÃNG CẦU XIÊM (Annona muricata L.) SỬ DỤNG NẤM MEN Saccharomyces cerevisiae BV818
Abstract : 12 PDF: 16Mục tiêu của nghiên cứu nhằm tuyển chọn chủng nấm men thương mại có khả năng lên men tốt đồng thời tối ưu hóa các điều kiện lên men rượu vang mãng cầu xiêm (Annona muricata L.) thông qua các mô hình thống kê. Thử nghiệm lên men rượu vang mãng cầu xiêm (xử lý bằng enzyme pectinase 3%) được thực hiện với 7 chủng nấm men Saccharomyces cerevisiae thương mại (RV002, RV100, BV818, Instant, Mauripan, Angel và Five Stars). Kết quả cho thấy sau 7 ngày lên men ở 30°C, chủng S. cerevisiae BV818 có khả năng lên men tốt nhất trong các chủng thử nghiệm với hàm lượng ethanol đạt 12,32% v/v và đạt yêu cầu về các yếu tố về cảm quan. Khảo sát ảnh hưởng đến quá trình lên men với 6 nhân tố thông qua mô hình Plackett-Burman Design (PBD) cho thấy 3 nhân tố bao gồm hàm lượng peptone, (NH4)2SO4 và pH có tác động có ý nghĩa đến khả năng sinh ethanol của chủng S. cerevisiae BV818. Tối ưu hóa điều kiện lên men sử dụng mô hình Central Composite Design (CCD) đã thu được rượu vang mãng cầu xiêm đạt 12,76% v/v ethanol với hàm lượng các thành phần bổ sung gồm 4,42 g/L peptone, 1,92 g/L (NH4)2SO4 và ở pH là 4,97.
-
NHÂN NHANH GIỐNG TRÀ HOA VÀNG TAM ĐẢO (Camellia tamdaoensis Ninh et Hakoda) BẰNG GIÂM CÀNH TRÊN HỆ THỐNG KHÍ CANH
Abstract : 4 PDF: 9Nghiên cứu này được tiến hành nhằm xác định ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng nhân giống của cây trà hoa vàng trên hệ thống khí canh (nồng độ chất kích thích ra rễ, số đốt của cành giâm, loại dung dịch dinh dưỡng, chu kỳ phun, nhiệt độ dung dịch, độ dẫn điện của dung dịch dinh dưỡng). Kết quả cho thấy: sử dụng αNAA (α-naphthaleneacetic acid) ở nồng độ 3000 ppm, cành giâm có tỷ lệ ra rễ đạt 100% sau 45 ngày. Dinh dưỡng Hoagland, chu kỳ phun 10 giây/10 phút nghỉ, độ dẫn điện 1200 µs/cm, nhiệt độ dung dịch ở ngưỡng 25oC và 2 đốt/cành giâm là tối ưu nhất cho cành giâm phát triển số rễ đạt 34 rễ/cành và chiều dài rễ đạt 6,5 cm. Kết quả cho thấy có thể sử dụng hệ thống khí canh trong nhân giống vô tính cây trà hoa vàng với số lượng lớn trong thời gian ngắn.
-
ẢNH HƯỞNG KỸ THUẬT GIÂM CÀNH ĐẾN KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG CÂY RAU ĐẮNG ĐẤT (Glinus oppositifolius (L.) Aug. DC.) VÀ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CHÚNG TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI
Abstract : 13 PDF: 13Rau đắng đất là cây dược liệu có nhiều giá trị y tế. Hiện nay, loài cây này đang được khai thác tự nhiên, cây tái sinh chủ yếu từ hạt. Tuy nhiên, hạt rau đắng đất chín không đồng đều, tỷ lệ mọc mầm kém, thời gian mọc mầm kéo dài, cây con sinh trưởng rất chậm. Các thí nghiệm được thực hiện gồm: vị trí cành giâm, chất điều tiết sinh trưởng, giá thể giâm hom và phương thức nhân giống), bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ với 3 lần nhắc lại. Kết quả nghiên cứu cho thấy sử dụng cành ngọn và cành bánh tẻ để giâm cho hiệu quả nhân giống cao nhất, tỷ lệ ra rễ đạt 100%, thời gian xuất vườn ngắn (20 ngày). Sử dụng chất điều tiết sinh trưởng với nồng độ 0,5 mg/l IAA hoặc 1 mg/l NAA hoặc 1 mg/l N3M, trên nền giá thể phối trộn 1/2 mụn xơ dừa + 1/2 trấu hun cho hiệu quả nhân giống tốt nhất, cây giống đủ tiêu chuẩn xuất vườn sau 20 ngày giâm với tỷ lệ đạt 89,67%. Sau 120 ngày trồng, cây có nguồn gốc từ giâm cành cho thu hoạch với năng suất cá thể đạt 125,95 g/cây, năng suất lý thuyết đạt 21,75 tấn/ha và năng suất thực thu khô đạt 1,87 tấn/ha. Tỷ lệ saponin tổng số trong dược liệu có nguồn gốc từ cây giâm cành đạt 2,3% và flavonoid tổng số là 1,75% tương đương trong dược liệu từ cây nhân giống bằng hạt.








