Số 16 (2021)

					Xem Số 16 (2021)
Đã Xuất bản: 30-08-2021

Bài viết

  • ẢNH HƯỞNG CỦA BỔ SUNG NẤM Trichoderma spp. ĐẾN ĐỘ PHÌ NHIÊU ĐẤT VÀ HẤP THU DƯỠNG CHẤT N, P, K CỦA QUÝT ĐƯỜNG TRÊN ĐẤT PHÈN TẠI XÃ LONG TRỊ, THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

    Abstract : 13 PDF: 14
    Nguyễn Quốc Khương, Trần Đan Trường, Lê Vĩnh Thúc, Nguyễn Hồng Huế, Trần Ngọc Hữu, Phạm Duy Tiễn, Trần Chí Nhân, Lý Ngọc Thanh Xuân
    3-12

    Mục tiêu nghiên cứu là xác định hiệu quả của phân hữu cơ vi sinh chứa nấm Trichoderma spp. và chế phẩm vi sinh đến độ phì nhiêu đất và hấp thu N, P, K của cây quýt đường. Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên, bao gồm tám nghiệm thức với ba lần lặp lại tại xã Long Trị, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Trong đó, nghiệm thức (i) bón phân theo nông dân, (ii) chế phẩm sinh học, (iii) bón phân hữu cơ vi sinh kết hợp xử lý vôi mỗi tháng, (iv) bón phân hữu cơ vi sinh kết hợp tưới năm dòng nấm Trichoderma spp. dạng dung dịch đối kháng nấm Fusarium spp., (v) bón phân hữu cơ vi sinh kết hợp xử lý vôi mỗi tháng và tưới 5 dòng nấm Trichoderma spp. dạng dung dịch đối kháng nấm Fusarium spp., (vi) nghiệm thức iv và chế phẩm vi sinh, (vii) nghiệm thức vi, chế phẩm vi sinh và giảm 25% N, P và (viii) nghiệm thức vi, chế phẩm vi sinh và giảm 50% N, P. Kết quả cho thấy bón phân hữu cơ vi sinh có chứa nấm T. harziamum T-HG2Fa, T. asperellum T-HG4Ga phân hủy xenluloza đã cải thiện hàm lượng lân dễ tiêu trong đất phèn trồng quýt đường. Ngoài ra, nghiệm thức bón phân hữu cơ vi sinh kết hợp bón vôi và chế phẩm vi sinh chứa các dòng vi khuẩn Rhodopseudomonas palustris đạt hàm lượng lân dễ tiêu cao nhất, 84,5 mg/kg. Bên cạnh đó, bón phân hữu cơ vi sinh chứa hỗn hợp hai dòng nấm T-HG2Fa và T-HG4Ga, bổ sung nấm Trichoderma spp. T-AG5Ab, T-AG5Da, T-AG5Ab, T-AG6Cb và T- AG6Cc có khả năng đối kháng nấm Fusarium spp. và vôi hoặc chế phẩm vi sinh ở mức bón 100% N, P tăng hấp thu đạm, lân và kali so với đối chứng, với 84,1-169,5, 54,8-158,1 và 90,5-214,3%, theo thứ tự.

    DOI: https://doi.org/10.71254/3smw0y97
  • ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG PHÒNG TRỊ BỆNH THỐI CỦ KHOAI LANG DO NẤM FUSARIUM SOLANI GÂY RA CỦA MỘT SỐ CHỦNG XẠ KHUẨN

    Abstract : 5 PDF: 7
    Vũ Thanh Tuấn, Lê Minh Tường
    13-20

    Nghiên cứu được thực hiện tại Bộ môn Bảo vệ thực vật, Trường Đại học Cần Thơ nhằm tìm ra chủng xạ khuẩn có khả năng phòng trừ bệnh thối củ cây khoai lang với nấm Fusarium solani gây ra. Khả năng đối kháng của 14 chủng xạ khuẩn đối với nấm F. solani gây bệnh thối củ khoai lang được thực hiện với 5 lần lặp lại trong điều kiện phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy 4 chủng xạ khuẩn HB2-BL, CT4.8, LM6 và AG7 có khả năng làm giảm sự phát triển của sợi nấm thông qua bán kính vòng vô khuẩn cao lần lượt là 9,6 mm; 7,2 mm; 5,8 mm và 3,8 mm và hiệu suất đối kháng lần lượt là 57,78%; 47,80%; 41,33% và 38,72% ở thời điểm 6 ngày sau bố trí thí nghiệm. Khả năng phòng trừ bệnh thối củ khoai lang của 4 chủng xạ khuẩn (HB2-BL, CT4.8, LM6 và AG7) cũng đã được đánh giá trong điều kiện phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy 3 chủng xạ khuẩn CT4.8, HB2-BL và LM6 khi được xử lý 2 lần vào 2 ngày trước và 2 ngày sau khi lây bệnh nhân tạo cho hiệu quả phòng trừ bệnh thối củ khoai lang cao thông qua đường kính vết bệnh thấp lần lượt là 0,72 mm; 0,76 mm và 0,73 mm và hiệu quả giảm bệnh cao lần lượt là 59,91%; 57,69% và 59,25% ở thời điểm 6 ngày sau khi chủng bệnh nhân tạo.

    DOI: https://doi.org/10.71254/qtczwy85
  • NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN GIỐNG LÚA CHẤT LƯỢNG CHO TỈNH THANH HÓA

    Abstract : 9 PDF: 6
    Nguyễn Thị Vân, Hoàng Tuyết Minh, Nguyễn Bá Thông
    21-28

    Nghiên cứu tuyển chọn giống lúa chất lượng được thực hiện tại xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn và xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa vụ xuân năm 2016 và 2017. Mục tiêu của nghiên cứu là xác định được một giống lúa có năng suất cao > 6,0 tấn/ha, thời gian sinh trưởng phù hợp, chống chịu tốt với sâu bệnh hại, chất lượng cao. Vật liệu nghiên cứu bao gồm 10 giống lúa chất lượng được chọn tạo từ các cơ quan khoa học Việt Nam, giống đối chứng là BT7. Kết quả nghiên cứu đánh giá các giống lúa nghiên cứu đã tuyển chọn được 01 giống lúa chất lượng thuộc nhóm Japonica là giống VAAS16; đây là giống có nhiều đặc điểm nổi trội: sinh trưởng và phát triển tốt, thời gian sinh trưởng trung bình từ 133-134 ngày, năng suất đạt (6,82 tấn/ha tại Đông Sơn và 6,81 tấn/ha tại Hoằng Hóa) ở mức xác suất có ý nghĩa P=95%; độ thuần ổn định, nhiễm nhẹ các loại sâu bệnh hại chính, chất lượng gạo tốt, cơm ngon dẻo phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng và trong điều kiện đồng ruộng vụ xuân tại tỉnh Thanh Hoá. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/hkb03w80
  • ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI VỤ CẮT TỈA CÀNH ĐẾN KHẢ NĂNG RA HOA, ĐẬU QUẢ VÀ RẢI VỤ THU HOẠCH NA TẠI HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN

    Abstract : 11 PDF: 13
    Nguyễn Quốc Hùng, Lê Thị Mỹ Hà, Vũ Văn Nhân
    29-36

    Na dai trồng tại huyện Chi Lăng là một trong những đặc sản nổi tiếng, có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao của tỉnh Lạng Sơn. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ cắt tỉa cành, tuốt lá nhằm cải thiện quá trình ra hoa, đậu quả và rải vụ na dai trồng tại Chi Lăng được tiến hành trong 2 năm 2018-2019, với 5 thời vụ cắt tỉa từ 5/6 đến 30/8. Nghiên cứu được thực hiện trên vườn na 7-8 năm tuổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cắt tỉa, tuốt lá cưỡng bức trên cây na dai trong thời gian từ 5/6 đến 10/8 đã tạo ra 2 vụ thu hoạch quả, vụ quả chính vụ và vụ quả trái vụ, nâng cao năng suất và rải vụ thu hoạch na. Năng suất thực thu đạt 20,7 - 21,3 kg/cây/năm, tăng hơn 75,4 - 83,6% so với đối chứng không cắt tỉa. Cắt tỉa cành và tuốt lá cưỡng bức trong khoảng thời gian từ 15/7 đến 10/8 cho năng suất cao nhất, thời gian thu hoạch quả muộn hơn so với thu hoạch chính vụ từ 3 - 4 tháng. Cắt tỉa, tuốt lá cưỡng bức trong thời gian từ 5/6 đến 10/8 có tác dụng nâng cao hàm lượng đường trong quả (độ brix đạt 22,5 - 23,6% so với quả chính vụ chỉ đạt 19,8 - 20,3%). Các chỉ tiêu cơ giới và đánh giá chất lượng quả khác không có sự khác biệt so với các chỉ tiêu đánh giá tương ứng ở quả thu hoạch chính vụ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/3xkjsx67
  • NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÁI SINH CỦA CỦ NĂNG KIM (Eleocharis ochrostachys Steud.)

    Abstract : 8 PDF: 7
    Võ Thị Phượng, Nguyễn Du Sanh
    37-42

    Trong những năm gần đây, tình hình biến đổi khí hậu diễn ra phức tạp, làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của Năng kim ở Vườn Quốc gia Tràm Chim, đặc biệt ảnh hưởng đến khả năng tái sinh của cây Năng kim. Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích đánh giá khả năng tái sinh của cây Năng kim ở các điều kiện khác nhau như tuổi củ, độ sâu trồng và lượng nước trong củ. Kết quả cho thấy, củ Năng kim có tỉ lệ tái sinh cây ở tuổi thứ 4, đạt cao nhất ở tuổi 7 và 8 (97,14% và 100%). Củ cho khả năng tái sinh cây cao nhất 97,14% khi trồng ở độ sâu 1 - 3 cm và củ bị mất hoàn toàn khả năng tái sinh cây khi được trồng ở độ sâu 14 - 15 cm. Khi lượng nước trong củ 100%, tỉ lệ tái sinh đạt 100%. Tuy nhiên, khi lượng nước trong củ giảm đi 20% đã ảnh hưởng đến khả năng tái sinh của cây Năng kim, làm cho củ Năng kim có tỉ lệ tái sinh cây cũng giảm theo. Khả năng tái sinh của củ giảm dần theo lượng nước trong củ và mất khả năng tái sinh khi lượng nước giảm đi 60 - 70% so với ban đầu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/dqpqss84
  • HIỆU QUẢ CỦA PHÂN BORAX (Na2B4O7.10H2O) ĐỐI VỚI CÂY ĐƯƠNG QUY NHẬT BẢN (Angelica acutiloba Kitagawa) TRỒNG TRÊN ĐẤT ĐỎ BAZAN TỈNH LÂM ĐỒNG

    Abstract : 6 PDF: 7
    Phạm Anh Cường, Huỳnh Thanh Hùng
    43-49

    Để xác định được liều lượng bo thích hợp bón cho cây đương quy trên đất đỏ bazan tại Lâm Đồng, hai thí nghiệm về ảnh hưởng của liều lượng bo bón trên nền 250 kgN:125 kg P2O5: 200 kg K2O đã được thực hiện. Kết quả cho thấy: (i) Khi bón bo ở các liều lượng 1,2; 2,4; 3,6 và 4,8 kgB/ha cho đương quy trên đất bazan trẻ Đơn Dương đều có tác dụng làm tăng dần sự sinh trưởng của cây. (ii) Năng suất đương quy đạt cao nhất ở nghiệm thức bón 4,8 kgB/ha là 7,12 tấn/ha, tăng tăng 37,6% và hàm lượng ligustilide cũng đạt cao nhất là 0,231%, tăng 38,4% so với đối chứng không bón. Kết quả tương tự thu được đối với thí nghiệm trên đất bazan cổ ở Di Linh, tuy nhiên ở lượng bón vượt giới hạn 4,8 kg B/ha, năng suất và hàm lượng ligustilide trong rễ củ của cây bắt đầu có chiều hướng giảm. Khi bón từ 1,2 đến 3,6 kgB/ha cho cây đương quy đã làm hiệu suất phân borax tăng từ 408; 475 và 478 kg đương quy/kgB, nhưng khi bón đến 4,8 kgB/ha đã làm cho hiệu suất giảm xuống chỉ còn 406 kg đương quy/kgB, tuy nhiên lợi nhuận thu được lại tăng từ 80,7; 187,8; 283,3 và 321,1 triệu đồng/ha so với đối chứng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/43jf3z72
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠI HOM VÀ CHẤT KÍCH THÍCH RA RỄ ĐẾN NHÂN GIỐNG CÂY MÚ TỪN (Rourea oligophlebia Merr.)

    Abstract : 13 PDF: 13
    Nguyễn Quang Huy, Nguyễn Đăng Tùng, Ngụy Khắc Đức, Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Văn Sinh, Ngô Hoàng Linh
    50-55

    Mú từn (Rourea oligophlebia Merr.) hay còn gọi là Dây lửa ít gân là cây thuốc quý, từ lâu đã được đồng bào dân tộc Thái ở Nghệ An sử dụng trong bồi bổ sức khỏe và chữa các bệnh như đau nhức, rạn xương khớp, cầm máu. Do bị khai thác quá mức trong thời gian dài nên hiện nay nguồn gen cây Mú từn trong tự nhiên đã suy giảm đáng kể. Việc nghiên cứu sản xuất giống cây Mú từn để bảo tồn, phục hồi và khai thác bền vững cây Mú từn, góp phần phát triển kinh tế cho đồng bào dân tộc thiểu số là rất cấp thiết. Nghiên cứu này trình bày một số kết quả đầu tiên trong nhân giống bằng giâm hom cây Mú từn. Loại hom có ảnh hưởng đến tỉ lệ sống và khả năng phát triển của hom. Sử dụng cùng chất kích thích ra rễ ABT ở nồng độ 2000 ppm, hom bánh tẻ có tỉ lệ sống (28,0%), số rễ chính/hom (4,0), tỉ lệ bật chồi (6,4%) đều cao hơn hom già. Chất kích thích ra rễ IBA-K hiệu quả hơn ABT trong giâm hom cây Mú từn. Sử dụng hom bánh tẻ với chất kích thích ra rễ IBA-K ở nồng độ 2000 ppm có hiệu quả nhất cho giâm hom cây Mú từn trong số các nồng độ thử nghiệm từ 1000 đến 4000 ppm. Tỉ lệ sống của hom bánh tẻ ở nồng độ IBA-K 2000 ppm đạt 83,3%, số rễ chính trung bình đạt 4,6 rễ/hom, chiều dài rễ chính trung bình là 13,2 cm và tỉ lệ bật chồi đạt 11,1% với chiều dài chồi trung bình đạt 8,4 cm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/mbsr4881
  • ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA CÁC MẪU GIỐNG ĐỊA LIỀN (Kaempferia galanga L.) TRỒNG TẠI THANH TRÌ, HÀ NỘI

    Abstract : 12 PDF: 12
    Phạm Hồng Minh, Trần Hữu Khánh Tân, Hoàng Thuý Nga, Nguyễn Văn Khiêm
    56-61

    Địa liền (Kaempferia galanga L.) là loài cây thuốc quý, có giá trị kinh tế và y học cao đang được ưu tiên phát triển quy mô lớn ở nước ta. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nhiều nghiên cứu về chọn giống, trong khi năng suất dược liệu Địa liền còn thấp, chất lượng không ổn định. Trong nghiên cứu này, tổng số 6 mẫu giống Địa liền đã được thu thập từ các vùng sản xuất ở các tỉnh/thành phố: Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nội, Hưng Yên và Thái Bình. Các đặc điểm nông sinh học của chúng đã được đánh giá phục vụ chọn giống. Kết quả nghiên cứu cho thấy các mẫu giống Địa liền có một số đặc điểm nông sinh học khác nhau. Hai mẫu giống Địa liền ĐL1 và ĐL2 có tiềm năng năng suất và chất lượng đã được tuyển chọn. Mẫu giống ĐL1 thu thập từ Bắc Giang có năng suất 21,2 tấn/ha, hàm lượng tinh dầu 2,9%. Mẫu giống ĐL2 thu thập từ Hưng Yên có năng suất 23,7 tấn/ha, hàm lượng tinh dầu 3,1%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/1mhast56
  • ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN HỮU CƠ TẠO TỪ THÂN CHUỐI ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CÂY NGẢI CỨU (Artemisia vulgaris)

    Abstract : 8 PDF: 8
    Vũ Thị Quyền, Lê Quốc Bảo
    62-67

    Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của phân hữu cơ từ thân chuối (gọi tắt là phân chuối) đến sinh trưởng và năng suất cây ngải cứu trồng theo phương thức hữu cơ tại vùng đất xám thuộc xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả sau hơn 2 tháng thử nghiệm đã chỉ ra rằng: (i) bón phân chuối với liều lượng 15 tấn/ha cho chiều cao cây đạt 44,11 cm, tổng số lá/cây 150 lá, năng suất sinh khối bình quân 18 tấn/ha, hệ số giữa sinh khối khô và sinh khối tươi của cây ngải cứu dao động ở mức 23 – 27%; (ii) việc bón lót phân chuối  để trồng ngải cứu có ý nghĩa rất lớn trong việc cải thiện pH và độ dẫn điện của đất (EC) đối với khu vực đất xám thuộc huyện Củ Chi. Chỉ sau 70 ngày thí nghiệm, độ pHH2O từ 5,26 (chua) tăng  lên 6,77 (trung tính) và độ dẫn điện của đất (EC) từ 124 µS/cm tăng lên 252,25 µS/cm, thể hiện đất được tăng cường ion hòa tan sau khi bón lót phân chuối và thực hiện canh tác hữu cơ cho cây ngải cứu; giúp tăng khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây từ đất. Điều này ghi nhận vai trò to lớn của phân bón hữu cơ từ thân chuối đến năng suất cây ngải cứu, cũng như việc cải thiện tính chất lý, hóa của đất canh tác.

    DOI: https://doi.org/10.71254/p5cb5175
  • ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG PHÂN HỮU CƠ VI SINH ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG DƯỢC LIỆU ĐƯƠNG QUY NHẬT BẢN (Angelica acutiloba Kitagawa.) TRỒNG TẠI XÃ AN TOÀN, HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH

    Abstract : 13 PDF: 9
    Nguyễn Thị Y Thanh, Bùi Hồng Hải
    68-75

    Đương quy Nhật Bản (Angelica acutiloba Kitagawa.) là cây thuốc quan trọng trong nhiều bài thuốc đông y, được di thực vào Việt Nam năm 1990 và trồng ở nhiều nơi. Ở tỉnh Bình Định, đương quy được trồng tại xã An Toàn, huyện An Lão từ năm 2015 nhưng năng suất chưa cao. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của một số mức bón phân hữu cơ vi sinh (HCVS) đến sinh trưởng, năng suất và hàm lượng dược chất cây đương quy Nhật Bản. Kết quả cho thấy mức bón phân HCVS 2,0 tấn/ha khi trồng đương quy Nhật Bản giúp rút ngắn thời gian hồi xanh, tăng chiều cao cây, tăng kích thước lá, hàm lượng diệp lục, kích thước rễ chính và rễ phụ, khối lượng rễ tươi và khô đạt cao nhất (tương ứng 123,56 g và 49,0 g/cây), năng suất rễ tươi đạt 87,14 tạ/ha, năng suất rễ khô đạt 32,11 tạ/ha, lợi nhuận tăng 137,9 triệu đồng/ha so với đối chứng và hàm lượng chất chiết được cao (45,95%). Vì vậy, mức bón phân HCVS 2,0 tấn/ha là phù hợp với cây đương quy Nhật Bản trong điều kiện canh tác ở xã An Toàn, huyện An Lão, tỉnh Bình Định.

    DOI: https://doi.org/10.71254/cdthq355
  • NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI CHẤT LƯỢNG LIPID TRÊN PHI LÊ CÁ RÔ PHI VẰN (Oreochromis niloticus) TRONG QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN LẠNH/ĐÔNG CUỐI CHUỖI CUNG ỨNG

    Abstract : 13 PDF: 13
    Nguyễn Thị Kiều Diễm, Châu Văn Đan, Mai Thị Tuyết Nga
    76-81

    Nghiên cứu nhằm khảo sát sự biến đổi chất lượng lipid của cá rô phi vằn trong quá trình bảo quản lạnh và lạnh đông, kết quả nghiên cứu cho thấy phi lê cá rô phi vằn có hàm lượng FFA ban đầu là 4,87 g/100 g chất béo, khi bảo quản ở nhiệt độ -18 ± 2°C lượng FFA sau 3, 6, 9 và 12 tháng lần lượt là: 5,81;  3,55, 4,07 và 3,97 g/100 g chất béo, trong khi đó chỉ số acid thiobarbituric (TBARs) tăng từ 0,11 lên 0,8 mg MDA/kg sau 12 tháng bảo quản, chỉ số peroxide (PV) không được phát hiện sau 12 tháng bảo quản. Khi bảo quản phi lê cá rô phi vằn ở nhiệt độ lạnh 4 ± 1oC, sự hình thành các FFA, chỉ số PV và chỉ số TBARs tăng cao hơn khi bảo quản phi lê cá rô phi vằn ở 1 ± 1oC. Sau 10 ngày bảo quản ở 4 ± 1oC phi lê cá rô phi vằn có hàm lượng FFA là 6,3%, chỉ số PV là 1,82 meq/kg và chỉ số TBARs là 1,23 mg MDA/kg. Trong khi đó sau 13 ngày bảo quản ở 1 ± 1oC phi lê cá rô phi vằn có hàm lượng FFA là 1,93%, chỉ số PV là 2 meq/kg và TBARs là 0,75 mg MDA/kg. Các acid béo như: acid myristic, acid palmitic, acid palmitoleic, acid stearic, acid oleic, acid arachinodic và acid docosahexaenoic (DHA) được tìm thấy trên phi lê cá rô phi vằn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/3sx3vw10
  • ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM PROTEASE CHUYỂN HÓA BÃ ĐẬU NÀNH THU DỊCH THỦY PHÂN ĐỂ LÊN MEN TẠO ĐỒ UỐNG

    Abstract : 7 PDF: 11
    Mai Thị Vân Anh, Nguyễn Thị Xuân Sâm, Nguyễn Kim Loan, Nguyễn Thanh Hằng
    82-89

    Bã đậu nành, một phụ phẩm của ngành công nghiệp chế biến sữa đậu nành, đã được xác nhận còn chứa một lượng đáng kể protein, chất béo, chất xơ và một phần các nguyên tố khoáng, các vitamin, isoflavone... Tận dụng được nguồn phụ phẩm này sẽ hứa hẹn đem lại nhiều lợi ích kinh tế, khả năng đa dạng hóa sản phẩm đồng thời giúp giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường. Với mục đích chuyển hóa nguồn protein bã đậu nành thành các peptit mạch ngắn và các axit amin làm nguồn dinh dưỡng và tăng hoạt tính chống oxy hóa cho dịch thủy phân sử dụng cho quá trình lên men của các thử nghiệm sau này, chế phẩm protease Alcalase® 2.4 L đã được nhóm nghiên cứu lựa chọn. Kết quả nghiên cứu đã xác định được chế độ tiền xử lý bã bằng hấp áp lực ở 121oC trong 15 phút. Thủy phân thích hợp nhất ở 50oC, pH 7, nồng độ bã đậu 4%, lượng enzyme 32,5 U/g chất khô trong thời gian 1 giờ thu được dịch thủy phân có  hàm lượng protein 384,32 mg/100 ml; hàm lượng peptit mạch ngắn và axit amin 322,20 mg/100 ml; hàm lượng polyphenol tổng số 17,65 mg GAE/100 ml.

    DOI: https://doi.org/10.71254/f4m55k43
  • KHAI THÁC NGUỒN LỢI TỰ NHIÊN VÀ ƯƠNG NUÔI CÁ CHÌNH (Anguilla sp.) GIỐNG TẠI VIỆT NAM

    Abstract : 9 PDF: 9
    Nguyễn Thức Tuấn, Lê Minh Hải, Trương Thị Thành Vinh, Nguyễn Thị Thanh, Hoàng Văn Duật
    90-95

    Cá chình là nhóm đối tượng nuôi kinh tế nhưng nguồn giống hiện phụ thuộc vào khai thác tự nhiên và ngày càng suy giảm. Tại Việt Nam hiện nay, nghề khai thác cá chình trắng (Glass eel) để ương lên cá chình đen (Elver eel) làm giống khá phổ biến tại các tỉnh như Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa… Nghiên cứu này đã xác định được mùa vụ, ngư cụ khai thác và cơ cấu thành phần loài từ nguồn giống tự nhiên tại các tỉnh vùng Nam Trung bộ, đồng thời cung cấp các thông tin kỹ thuật trong ương nuôi từ cá bột - giai đoạn chình trắng (Glass eel) lên cá giống - giai đoạn cá chình đen (Elver eel) như cơ cấu loài, các giai đoạn và thời gian ương nuôi, tỷ lệ sống và thức ăn được sử dụng trong quá trình quá trình ương giống.

    DOI: https://doi.org/10.71254/rfdbdf24
  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DINH DƯỠNG CÁ DÀY (Channa lucius Cuvier, 1831) GIAI ĐOẠN CÁ BỘT ĐẾN CÁ GIỐNG

    Abstract : 12 PDF: 10
    Tiền Hải Lý
    96-103

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định một số đặc điểm dinh dưỡng của cá dày (Channa lucius Cuvier, 1831) từ giai đoạn cá bột đến giai đoạn cá giống. Nghiên cứu được thực hiện trong ao có kích cỡ 5 m × 20 m và chiều sâu 1 m. Cá dày bột (3 ngày tuổi) được ương với mật độ 200 con/m2 trong thời gian 30 ngày. Các mẫu thực vật, động vật phiêu sinh và mẫu cá được thu vào các ngày tuổi thứ 3, 4, 5, 6, 9, 12, 15, 18, 21, 25, 27 và 30 để phân tích thành phần và số lượng của phiêu sinh vật và đặc điểm dinh dưỡng của cá dày. Kết quả cho thấy, cá dày bắt đầu ăn thức ăn ngoài lúc 3 ngày tuổi và Cladocera (Moina) là thức ăn chính của cá. Tỷ lệ chiều dài ruột và chiều dài chuẩn của cá dao động 0,46 – 0,67. Kích cỡ miệng của cá dao động từ 0,57 – 2,79 mm. Cladocera  (Moina) và Nauplius được cá chọn lựa từ ngày thứ 3 đến thứ 5 của quá trình ương. Cá dày ăn thức ăn ngoài lúc 3 ngày tuổi và Nauplius là thức ăn ban đầu của cá, từ 3 đến 5 ngày tuổi cá chọn lựa Nauplius, từ ngày thứ 4 đến 15 cá lựa chọn Cladocera (Moina) làm thức ăn và từ ngày thứ 18 đến 30 cá dày chọn Moina và Copepod (Diaptomus).

    DOI: https://doi.org/10.71254/f2zp1203
  • KHẢO SÁT BỆNH KÝ SINH TRÙNG MÁU TRÊN CHÓ NUÔI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Abstract : 5 PDF: 14
    Nguyễn Thị Lan Anh, Ngô Đức Duy, Dư Thanh Vũ
    104-110

    Bệnh ký sinh trùng máu là một bệnh quan trọng đối với nhiều người nuôi chó tại TP. Hồ Chí Minh. Việc khảo sát 716 cá thể chó nghi nhiễm bệnh ký sinh trùng máu được thực hiện từ tháng 10/2020 đến tháng 5/2021 tại một số phòng khám thú y ở TP. Hồ Chí Minh bằng phương pháp khám lâm sàng, xét nghiệm sinh lý máu và nhuộm Giemsa. Kết quả cho thấy 35,75% số chó nuôi bị nhiễm ký sinh trùng máu, trong đó có 48,05% nhiễm Anaplasma, 26,56% nhiễm Ehrlichia, 14,06% nhiễm Babesia và 11,33% nhiễm Hepatozoon. Chó nuôi thả bị bệnh nhiều hơn chó nuôi nhốt (25,98% và 9,78%), chó từ 1 - 5 tuổi nhiễm nhiều hơn (18,85%) dưới 1 tuổi (10,89%) và trên 5 tuổi (6,01%). Triệu chứng niêm mạc nhợt nhạt và xuất huyết dưới da thường xuất hiện ở chó bị nhiễm Anaplasma (38,21% và 39,84%), ngoài ra triệu chứng chảy máu mũi cũng thường xuất hiện ở chó bị nhiễm Ehrlichia (36,76%). Trong khi đó, triệu chứng niêm mạc nhợt nhạt và hoàng đản thường xuất hiện ở chó bị nhiễm Babesia (58,33% và 19,44%) và chó bị nhiễm Hepatozoon thường bị co giật (20,69%). Chó bị nhiễm ký sinh trùng máu cũng có sự thay đổi các chỉ số sinh lý máu như giảm tiểu cầu (56,08%), thiếu máu (53,33%), tăng số lượng bạch cầu (39,61%) hoặc giảm số lượng bạch cầu (10,55%).

    DOI: https://doi.org/10.71254/aqbntg18
  • NGUỒN GIỐNG TRỨNG CÁ, CÁ CON Ở VÙNG VEN BỜ VÀ VÙNG LỘNG CỦA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU, TRONG MÙA GIÓ ĐÔNG BẮC NĂM 2020

    Abstract : 15 PDF: 16
    Phạm Quốc Huy, Nguyễn Phước Triệu, Nguyễn Xuân Toản, Trần Bảo Chương
    111-117

    Nguồn giống trứng cá, cá con đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn lợi. Do đó, xác định thành phần loài và khu vực tập trung phân bố của đối tượng này là hết sức cần thiết, nhằm đưa ra các tư vấn về quy hoạch và quản lý nguồn lợi theo hướng bền vững. Dựa trên nguồn số liệu thu được từ 4 chuyến điều tra ở vùng biển ven bờ và vùng lộng của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đại diện cho mùa gió Đông Bắc năm 2020 (từ tháng 9 đến tháng 12), bước đầu đã xác định được 76 loài thuộc 44 họ trứng cá cá con, trong đó vùng biển ven bờ bắt gặp 42 loài, 31 họ và vùng lộng bắt gặp 59 loài, 33 họ. Đối với trứng cá, xuất hiện với số lượng nhiều nhất là họ cá trỏng (Engraulidae), chiếm 21,4% và đối với cá con, có 4 họ chiếm ưu thế là cá phèn (Mullidae), cá lượng (Nemipteridae), cá khế (Carangidae) và cá bống trắng (Gobiidae), chiếm từ 12,5-16,8% tổng số. Mật độ nguồn giống trung bình đạt 1.123 trứng cá/1.000 m3 và 581 cá con/1.000 m3. Khu vực tập trung trứng cá, cá con với mật độ cao, bắt gặp ở vùng biển ven bờ TP. Vũng Tàu và vùng biển phía Đông giáp ranh với vùng biển Bến Tre. Thời gian xuất hiện trứng cá, cá con biến động, mật độ giảm dần từ tháng 9 đến tháng 11 và tăng trở lại vào tháng 12.

    DOI: https://doi.org/10.71254/4d3c0240
  • NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ GHÉP DÀI PHÔI GỖ HÌNH THANG TỪ GỖ THÔNG VÀ GỖ KEO TAI TƯỢNG

    Abstract : 13 PDF: 13
    Tạ Thị Phương Hoa, Vũ Huy Đại, Nguyễn Thị Loan, Lê Xuân Ngọc, Phạm Văn Thanh
    118-124

    Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu về xác lập thông số công nghệ tạo gỗ ghép hình thang theo chiều dài bằng phương pháp ghép ngón từ phôi gỗ hình thang cân, hình thang vuông của 2 loại gỗ Keo tai tượng và gỗ Thông nhựa sử dụng chất kết dính PVAc. Kết quả xác định được các bước công nghệ và yêu cầu kỹ thuật tạo gỗ ghép hình thang theo chiều dài trên dây chuyền sản xuất ván ghép thanh bao gồm các khâu: Xác định yêu cầu phôi gỗ hình thang cân, hình thang vuông; kỹ thuật phay ngón ghép; tráng keo, ghép dọc; xác định ảnh hưởng của áp suất ép dọc có giá trị 0,6 MPa, 0,8 MPa đến độ bền ngón ghép khi chịu uốn tĩnh của thanh ghép dọc. Kết quả cho thấy khi áp suất ép dọc có giá trị bằng 0,8 MPa đối với cả 2 loại phôi hình thang cân, hình thang vuông từ 2 loại gỗ, giá trị nhỏ nhất của độ bền ngón ghép đạt từ 26,3 - 29,2 MPa, cao hơn giá trị yêu cầu về độ bền ngón ghép khi chịu uốn tĩnh là 26 MPa. Khi ghép dọc các thanh gỗ hình thang cân, hình thang vuông sử dụng áp suất ép 0,8 MPa sẽ thu được các thanh ghép dài đạt yêu cầu về chất lượng mối ghép.   

    DOI: https://doi.org/10.71254/2xbrmw13
  • ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG THỨC TRỒNG, MẬT ĐỘ VÀ TUỔI LÂM PHẦN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG LOÀI CÂY TRỒNG RỪNG NGẬP MẶN TỈNH THÁI BÌNH

    Abstract : 14 PDF: 12
    Lê Đức Thắng, Nguyễn Đắc Bình Minh, Phạm Văn Ngân, Đỗ Quý Mạnh, Đinh Văn Cao
    125-134

    Các yếu tố sinh trưởng phát triển của cây trồng rừng ngập mặn ven biển chịu ảnh hưởng của các yếu tố về lập địa, phương thức trồng, mật độ và tuổi lâm phần. Kết quả nghiên cứu cho thấy, lượng tăng trưởng bình quân đạt 1,14 cm/năm về đường kính, 0,52 m/năm về chiều cao, 0,23 m/năm về đường kính tán đối với các lâm phần Trang thuần loài; đạt 1,94 cm/năm về đường kính, 0,75 m/năm về chiều cao, 0,43 m/năm về đường kính tán đối với các lâm phần Bần chua thuần loài và có sự khác nhau rõ giữa các điểm điều tra. Ở cùng loài cây, các lâm phần rừng trồng hỗn giao đều được ghi nhận có lượng tăng trưởng bình quân về đường kính gốc, chiều cao, và đường kính tán cao hơn rõ rệt so với các lâm phần rừng trồng thuần loài. Các yếu tố về loài cây trồng, phương thức trồng, tuổi lâm phần, mật độ lâm phần hiện tại có mức tương quan từ yếu, vừa phải đến chặt với các chỉ tiêu sinh trưởng, và lượng tăng trưởng bình quân chung về đường kính, chiều cao, đường kính tán các lâm phần rừng trồng ngập mặn ven biển tỉnh Thái Bình.

    DOI: https://doi.org/10.71254/838s7c34
  • ĐA DẠNG HỌ CÚC (ASTERACEAE) Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HUỐNG, TỈNH NGHỆ AN

    Abstract : 7 PDF: 9
    Phạm Văn Đông, Mai Văn Chung, Trần Minh Hợi, Lê Thị Hương
    135-140

    Kết quả nghiên cứu về đa dạng họ Cúc (Asteraceae) ở Khu Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Pù Huống, tỉnh Nghệ An, từ tháng 12 năm 2019 đến tháng 3 năm 2021. Tổng số mẫu thu được là 230, đã xác định được 70 loài, thuộc 40 chi; trong đó bổ sung cho Danh lục thực vật Khu BTTN Pù Huống là 29 chi và 56 loài. Các loài cây thuộc họ Cúc ở khu vực nghiên cứu có các giá trị sử dụng khác nhau như: làm thuốc với 45 loài, cho tinh dầu với 37 loài, cây ăn được với 10 loài, cây làm cảnh với 4 loài và thấp nhất là cây cho gỗ với 1 loài. Lập phổ dạng sống của họ Cúc ở Khu BTTN Pù Huống là SB = 21,43% Ph + 22,86% Ch + 4,29% Hm + 51,43 Th. Họ Cúc ở khu vực nghiên cứu có 7 yếu tố địa lý, yếu tố nhiệt đới châu Á chiếm 75,71%; yếu tố ôn đới bắc chiếm 8,57%; yếu tố liên nhiệt đới và yếu tố cận đặc hữu cùng chiếm 4,29%; yếu tố cổ nhiệt đới và yếu tố cây trồng cùng chiếm 2,86% và yếu tố toàn thế giới chiếm 1,43% tổng số loài.

    DOI: https://doi.org/10.71254/wt8cjy57
  • XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI KHẢ NĂNG DI TRUYỀN THEO THỜI GIAN VỀ SINH TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG THÂN CÂY CỦA CÁC GIA ĐÌNH KEO LÁ LIỀM TRONG HAI KHẢO NGHIỆM HẬU THẾ TẠI BẮC TRUNG BỘ

    Abstract : 5 PDF: 8
    Phí Hồng Hải, Lê Xuân Toàn
    141-150

    Nghiên cứu xu hướng biến đổi biến dị di truyền về sinh trưởng, độ thẳng thân cây, độ nhỏ cành, độ duy trì trục thân của các gia đình Keo lá liềm được thực hiện tại các tuổi khác nhau ở khảo nghiệm hậu thế tại Nam Đàn (Nghệ An) (2, 7, 12 tuổi) và Cam Lộ (Quảng Trị) (3, 6, 11 tuổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh trưởng và chất lượng thân cây giữa các xuất xứ và gia đình đã có sự phân hóa rất rõ rệt ở cả 2 khảo nghiệm. Ba xuất xứ mới nhập về Việt Nam có nguồn gốc từ Queensland - Australia, đó là Old claudie airstrip, Merluna và Luncida, được xác định là những xuất xứ ưu việt tại lập địa Nam Đàn. Năm gia đình ưu việt có nguồn gốc từ Queensland và các gia đình ưu việt thu hái từ vườn giống ở Việt Nam có thể tích lần lượt vượt từ 47 - 78% và 24 - 27% so với thể tích trung bình khảo nghiệm. Ở cả 2 khảo nghiệm hệ số di truyền và CVa của các tính trạng sinh trưởng và chất lượng thân cây có xu hướng tăng từ tuổi 2 - 3 tới tuổi 6 - 7 và bắt đầu ổn định từ tuổi 6 - 7 tới tuổi 11 - 12. Hệ số di truyền của các tính trạng sinh trưởng của các gia đình Keo lá liềm ở tuổi 11 - 12 đạt mức trung bình (h2 = 0,21 - 0,34), trong khi hệ số di truyền của các tính trạng chất lượng thân cây mức thấp (h2 = 0,09 - 0,14), ngoại trừ độ thẳng thân tại Nam Đàn (h2 = 0,28). Ở cả 2 khảo nghiệm, hệ số biến động di truyền lũy tích biến động từ thấp tới cao tùy thuộc vào tính trạng và tuổi (CVa = 2,2 - 15,6%). Tăng thu di truyền dự đoán cho tính trạng sinh trưởng đạt từ 4,9 - 10,8%, trong khi tăng thu cho tính trạng chất lượng thân cây chỉ đạt 1,3 - 5,9%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/h9xakd61
  • ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC CỦA RỪNG TRUNG BÌNH PHÂN BỐ TRÊN ĐẤT NÂU VÀNG Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN BÌNH CHÂU - PHƯỚC BỬU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

    Abstract : 14 PDF: 13
    Phan Minh Xuân, Nguyễn Thị Minh Hải
    151-159

    Bài báo này giới thiệu những đặc điểm về cấu trúc và đa dạng của rừng trung bình phân bố trên đất nâu vàng ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Bình Châu – Phước Bửu thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Mục tiêu nghiên cứu là xác định danh lục loài cây gỗ, kết cấu, cấu trúc rừng, tái sinh rừng và tính đa dạng loài cây gỗ để làm cơ sở cho quản lý rừng và bảo tồn đa dạng sinh vật. Số liệu được thu thập trên 10 ô mẫu điển hình với kích thước 0,2 ha. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tổng số loài cây gỗ bắt gặp là 63 loài thuộc 50 chi, 30 họ thực vật khác nhau; trong đó loài Dầu cát chiếm ưu thế (24,6%), những loài cây gỗ đồng ưu thế là Sến cát (13,9%), Trâm mốc (5,6%) và Sơn huyết lông (5,3%). Độ ưu thế của 4 loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế là 49,4%, 59 loài khác là 50,6%; những họ có độ giàu có về loài cao là Đào lộn hột (Anacardiaceae), Sao Dầu (Dipterocarpaceae), Na (Annonaceae), Măng cụt (Clusiaceae), Đậu (Fabaceae), Sim (Myrtaceae); mật độ, tiết diện ngang và trữ lượng của rừng tương ứng 852 cây/ha, 25,4 m2/ha và 125,8 m3/ha; 1,3 = 17,2 cm;  = 9,0 m; phân bố phần trăm số cây theo cấp đường kính và chiều cao phù hợp với phân bố Weibull; tái sinh diễn ra liên tục dưới tán rừng, mật độ tái sinh là 9.304 cây/ha, các cây tái sinh chủ yếu có phẩm chất tốt và có nguồn gốc từ hạt; đa dạng loài cây gỗ nhận giá trị ở mức trung bình; trong đó chỉ số d = 5,28; J’ = 0,79; H’ = 2,62; λ’ = 0,15; theo chỉ số hiếm (RI), khu vực nghiên cứu bắt gặp 25 loài cây gỗ ở mức độ hiếm. Số loài cây gỗ quý hiếm là 11 loài, trong đó cả 11 loài này đều nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), 1 loài thuộc Nghị định 06/2019/NĐ - CP (2019) và 8 loài thuộc IUCN (2020).

    DOI: https://doi.org/10.71254/jertkg16
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG TRONG TIẾP CẬN THÔNG TIN NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

    Abstract : 11 PDF: 14
    Hoàng Gia Hùng, Lê Thị Hoa Sen, Trương Quang Hoàng, Nguyễn Thị Thùy Linh
    160-166

    Để thúc đẩy người dân sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT), cần phải hiểu rõ quan điểm của người dân về ảnh hưởng của CNTT-TT trong tiếp cận thông tin nông nghiệp (TTNN). Nghiên cứu này được thiết kế để đánh giá ảnh hưởng của CNTT-TT trong tiếp cận TTNN tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Mẫu khảo sát gồm 250 người được chọn ngẫu nhiên từ 657 nông hộ sản xuất nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy các công cụ CNTT-TT gồm: ti vi (TV), loa phát thanh và điện thoại di động là 3 loại công cụ được người dân sử dụng thường xuyên nhất và đây cũng là các loại CNTT-TT có hiệu quả nhất. Nghiên cứu này phát hiện ra rằng CNTT-TT giúp người sản xuất: (1) cải thiện tính kịp thời của thông tin nông nghiệp; (2) cải thiện độ chính xác của thông tin nông nghiệp; (3) gia tăng kiến thức về lĩnh vực nông nghiệp; (4) gia tăng khối lượng thông tin quan trọng; (5) cải thiện chất lượng thông tin nông nghiệp; (6) khuyến khích chia sẻ và phổ biến thông tin; (7) cải thiện tiếp cận thị trường nông nghiệp; và (8) cải thiện tiếp cận sử dụng đầu vào trong sản xuất nông nghiệp. Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng tồn tại một mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa quan điểm của người dân về ảnh hưởng của CNTT-TT đến tiếp cận TTNN và trình độ giáo dục (Chi square = 2,426, p = 0,001), đặc điểm giới tính (Chi square = 3,31, p = 0,069) và loại hộ (Chi square = 7,32, p = 0,026) của đối tượng khảo sát. Tăng cường đầu tư nâng cấp hệ thống mạng internet và tổ chức các lớp tập huấn hướng dẫn cho người dân cách thức sử dụng CNTT-TT là các giải pháp để nâng cao việc sử dụng CNTT-TT trong tiếp cận thông tin nông nghiệp.

    DOI: https://doi.org/10.71254/vchb1y61
  • ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI TỈNH ĐẮK LẮK

    Abstract : 12 PDF: 13
    Trần Xuân Biên, Lưu Thùy Dương
    167-174

    Đắk Lắk là địa phương có tiềm năng rất lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp. Trong những năm gần đây Đắk Lắk cũng là một trong những địa phương chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, đặc biệt là hiện tượng khô hạn, xói mòn, rửa trôi. Theo kịch bản biến đổi khí hậu RCP4.5 giai đoạn 2016 – 2035, bằng công nghệ ArcGIS nghiên cứu đã xác định được mức độ khô hạn và xói mòn, rửa trôi tại tỉnh Đắk Lắk. Nghiên cứu tiến hành chồng xếp bản đồ định hướng phát triển kinh tế, xã hội, bản đồ tái cơ cấu ngành nông nghiệp, bản đồ quy hoạch sử dụng đất, bản đồ dự báo mức độ khô hạn, bản đồ mức độ xói mòn của tỉnh Đắk Lắk. Đề xuất đến năm 2035 diện tích đất sản xuất nông nghiệp khoảng 561.970 ha (chiếm 43,13% tổng diện tích tự nhiên). Trong đó: đất trồng cây hằng năm 221.470 ha (chiếm 17% tổng diện tích tự nhiên), đất trồng cây lâu năm 340.500 ha (chiếm 26,13% tổng diện tích tự nhiên), đất lâm nghiệp 585.760 ha (chiếm 44,95% tổng diện tích tự nhiên).

    DOI: https://doi.org/10.71254/jhwf4c17
  • TÁC ĐỘNG XÂM NHẬP MẶN LÊN HOẠT ĐỘNG CANH TÁC LÚA 3 VỤ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ TẠI HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

    Abstract : 13 PDF: 14
    Phạm Việt Nữ, Nguyễn Hải Thanh, Nguyễn Thị Ngọc Diệu, Huỳnh Thị Diễm, Nguyễn Thị Hồng Điệp, Ngô Thụy Diễm Trang
    175-181

    Long Phú và một trong những địa phương sản xuất lúa gạo quan trọng nhất của tỉnh Sóc Trăng. Tuy nhiên, do tình hình mặn xâm nhập dưới tác động của biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng đến canh tác lúa của huyện Long Phú, đặc biệt là thời điểm từ tháng 1 đến tháng 4. Nghiên cứu nhằm đánh giá (i) tác động của xâm nhập mặn đến canh tác lúa, (ii) thiệt hại diện tích và năng suất lúa do xâm nhập mặn và (iii) các biện pháp ứng phó. Điều tra được thực hiện ngẫu nhiên với 30 hộ canh tác lúa ở 3 xã Long Phú, Long Đức và Tân Hưng thuộc huyện Long Phú với bảng câu hỏi soạn sẵn. Kết quả cho thấy, xâm nhập mặn ảnh hưởng đến sinh trưởng của lúa khiến hơn 3 nghìn ha lúa mất trắng và ảnh hưởng đến hơn 60% lợi nhuận do lúa lép hạt, giảm năng suất. Trong đó, các khó khăn gặp phải của nông hộ thường là đất lúa nhiễm mặn, thiếu nước ngọt, giống lúa không chịu mặn, năng suất thấp do ảnh hưởng của hạn mặn, thời tiết nắng nóng kéo dài và thiếu kinh nghiệm ứng phó với xâm nhập mặn. Bên cạnh việc cải tạo đất nhiễm mặn bằng các biện pháp như rửa mặn bằng nước, cày xới, phơi đất, bón vôi, … nông hộ và chính quyền còn áp dụng các biện pháp công trình và phi công trình giúp giảm thiểu thiệt hại do xâm nhập mặn gây ra.

    DOI: https://doi.org/10.71254/kynwmx83
  • ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NUÔI ONG MẬT TRONG ĐIỀU KIỆN NÔNG HỘ QUY MÔ NHỎ Ở XÃ HỒNG TIẾN, THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ

    Abstract : 8 PDF: 6
    Hồ Tấn Đức, Nguyễn Hoàng Khả Tú, TANAKA Ueru, Hồ Trung Thông
    182-189

    Để khuyến khích các hộ tham gia hoạt động nuôi ong nhằm nâng cao thu nhập và đa dạng nguồn thu, nghiên cứu về đánh giá thực trạng hoạt động nuôi ong mật trong điều kiện nông hộ quy mô nhỏ đã được thực hiện ở xã Hồng Tiến, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Nghiên cứu cho thấy, hộ nuôi ong có quy mô nhỏ, số lượng thùng nuôi từ 5 đến 12 thùng, được đặt cố định trong vườn nhà và không di chuyển theo mùa hoa. Từ tháng 2 đến tháng 8 có 12 loài cây chính cho mật và phấn hoa; cây Keo (Acacia auriculiformis) và Cao su (Hevea brasiliensis) là nguồn chính cung cấp mật lá, phấn hoa. Diện tích 763 ha rừng trồng cây keo và cao su là nguồn cung cấp mật và phấn hoa chính cho đàn ong nuôi. Mật ong thu từ cây Keo, mật ong hoa cỏ Lào và mật ong hỗn hợp là 03 loại mật được xác định ở vùng nuôi. Mật thu từ cây Keo thường tối màu sau 4 đến 6 tuần thu hoạch; mật có vị ngọt đậm so với mật ong từ cây cỏ Lào và mật ong hỗn hợp. Kết quả phân tích độ ẩm, đường tổng số, pH,…của mật ong nuôi ở xã Hồng Tiến đạt tiêu chuẩn TCVN 12605:2019. Thị trường và kênh tiêu thụ mật ong trên địa bàn nghiên cứu đang phụ thuộc rất lớn vào các thương lái từ các công ty xuất khẩu mật ở miền Nam (chiến 50% sản lượng mật), nhưng giá mua thấp và không ổn định. Kênh tiêu thụ trong và ngoài tỉnh có giá mua cao hơn, nhưng chỉ chiếm thị phần khoảng 25%. Nuôi ong là hoạt động sinh kế mới và góp phần đa dạng nguồn thu nhập. Các hộ nuôi ong đã có thu nhập bình quân trên 7,5 triệu đồng/năm; chiếm tỷ trọng 11% trong tổng nguồn thu của hộ. Một số điểm hạn chế của hoạt động nuôi ong như sản phẩm mật ong đang bán ở dạng thô. Kỹ thuật đóng chai, nhãn hiệu và vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được người nuôi thực hiện. Hộ nuôi ong chưa chú trọng việc xây thương hiệu và công tác quảng bá thương hiệu đối với sản phẩm mật ong.

    DOI: https://doi.org/10.71254/cyjwe154
  • LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT, TIÊU THỤ RAU AN TOÀN TẠI XÃ ĐẶNG XÁ, HUYỆN GIA LÂM, HÀ NỘI

    Abstract : 13 PDF: 12
    Lê Thị Kim Oanh, Nguyễn Quang Tin
    190-198

    Nghiên cứu này nhằm phân tích liên kết trong sản xuất, tiêu thụ rau an toàn tại xã Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội thông qua điều tra 105 hộ sản xuất rau an toàn. Bằng phương pháp thống kê và so sánh, nghiên cứu đã chỉ ra những ưu, nhược điểm, lợi ích, khó khăn của các hộ sản xuất khi tham gia liên kết với doanh nghiệp (bao gồm liên kết trực tiếp và gián tiếp), thu gom, người bán lẻ trong sản xuất, tiêu thụ rau an toàn. So với nhóm hộ không liên kết, đối với các chỉ tiêu giá bán, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, nhóm hộ liên kết trực tiếp với doanh nghiệp có kết quả cao hơn trong khi nhóm hộ liên kết gián tiếp có kết quả không khác biệt. Từ đó nghiên cứu đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường hoạt động liên kết trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tại xã Đặng Xá trong thời gian tới.

    DOI: https://doi.org/10.71254/exth3k02