NGUỒN GIỐNG TRỨNG CÁ, CÁ CON Ở VÙNG VEN BỜ VÀ VÙNG LỘNG CỦA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU, TRONG MÙA GIÓ ĐÔNG BẮC NĂM 2020
DOI:
https://doi.org/10.71254/4d3c0240Abstract
Fish eggs and larvae play a vital role in living marine resources recruitment. Therefore, it is essential to determine the species composition and distribution area in order to provide technical and scientific advice on planning and sustainable management. Following data collected from four coastal surveys of Ba Ria - Vung Tau province, representing 2020 Northeast monsoon (from september to december), 76 species belong to 44 families of fish eggs were initially identified; of which 42 species in 31 families from coastal areas and 59 species in 33 families from the inshore area. Anchovy (Engraulidae), took the largest proportion, accounting for 21.4%; for larvae, dominance was recorded in 4 families, including Goatfish (Mullidae), Threadfin breams (Nemipteridae); Jacks (Carangidae) and Gobies (Gobiidae) were accounted for 12.5-16.8% of the total. The average density per 1,000 m3 was 1,123 eggs/1,000 m3 and 581 larvae/1,000 m3. Concentrated areas for fish eggs and larvae were recorded in the coastal area of Vung Tau and the Eastern sea bordering Ben Tre province. The density of fish eggs and larvae varied decreased from september to november before increasing again in december.
Keywords:
Fish eggs and larvae, coastal area, inshore area, Ba Ria – Vung Tau province.Tóm tắt
Nguồn giống trứng cá, cá con đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn lợi. Do đó, xác định thành phần loài và khu vực tập trung phân bố của đối tượng này là hết sức cần thiết, nhằm đưa ra các tư vấn về quy hoạch và quản lý nguồn lợi theo hướng bền vững. Dựa trên nguồn số liệu thu được từ 4 chuyến điều tra ở vùng biển ven bờ và vùng lộng của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đại diện cho mùa gió Đông Bắc năm 2020 (từ tháng 9 đến tháng 12), bước đầu đã xác định được 76 loài thuộc 44 họ trứng cá cá con, trong đó vùng biển ven bờ bắt gặp 42 loài, 31 họ và vùng lộng bắt gặp 59 loài, 33 họ. Đối với trứng cá, xuất hiện với số lượng nhiều nhất là họ cá trỏng (Engraulidae), chiếm 21,4% và đối với cá con, có 4 họ chiếm ưu thế là cá phèn (Mullidae), cá lượng (Nemipteridae), cá khế (Carangidae) và cá bống trắng (Gobiidae), chiếm từ 12,5-16,8% tổng số. Mật độ nguồn giống trung bình đạt 1.123 trứng cá/1.000 m3 và 581 cá con/1.000 m3. Khu vực tập trung trứng cá, cá con với mật độ cao, bắt gặp ở vùng biển ven bờ TP. Vũng Tàu và vùng biển phía Đông giáp ranh với vùng biển Bến Tre. Thời gian xuất hiện trứng cá, cá con biến động, mật độ giảm dần từ tháng 9 đến tháng 11 và tăng trở lại vào tháng 12.








