ĐÁNH GIÁ BƯỚC ĐẦU TÍNH KHẢ THI CỦA BÈ NỔI THỰC VẬT TRONG VIỆC CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG NƯỚC THẢI NÔNG NGHIỆP TẠI TRẠI LÚA GIỐNG TỈNH VĨNH LONG

Các tác giả

  • Trần Hồng Tuyết Bình, Võ Thị Phương Thảo, Phan Văn Nhiệm, Nguyễn Tiến Đạt, Trần Hải Anh, Huỳnh Thị Thu Hương, Nguyễn Tiến An, Ngô Thụy Diễm Trang

DOI:

https://doi.org/10.71254/7zxst810

Abstract

The study was conducted for preliminary evaluation of the feasibility of the floating plant raft model in controlling agricultural wastewater pollution in order to provide more information to demonstrate the solution of water treatment using plants combined with landscape creation. Four ornamental species Echinodurus cordiforlius, Cyperus alternifolius, Canna generalis and Heliconia psittacorum were grown on floating rafts with an area of ​​2 m2 with a total of 6 floating rafts which were placed on the drainage canal from rice fields of the rice seed center. Water quality parameters were periodically assessed biweekly; plant growth was determined monthly and plant biomass was pruned bimonthly and determined for plant uptake N, P. The results showed that the floating rafts contributed to the absorption of nitrogen and phosphorus in wastewater. Water quality in the studied area after passing through the floating rafts tended to decrease compared to the inlet, except for location 6 because this one is located right next to the domestic wastewater discharge of workers working here, leading to a tendency for the content of pollutants to increase again. The pH and TP outlet values of all locations were within the allowable limits of table 2, level B, QCVN 08:2023/BTNMT, although DO and COD concentrations were improved after passing through the floating rafts, they still did not reach the allowable limits. The studied plants grew and developed through increased height and weight. The average initial plant height of C. generalis, H. psittacorum, E. cordiforlius and C. alternifolius was 45.0 ± 2.0; 46.0 ± 2.0; 26.0 ± 2.0 and 30.0 ± 0 cm, respectively, they were increased to 54.7; 49.1; 26.4; 57.8 cm after each month, increasing by 1.2; 1.06; 1.02; 1.9 times, respectively; with the increased corresponding plant weight was 76.4; 58.9; 7.7; 121.1 g/plant. It is estimated that after every 2 months, the plants accumulated an average of 4.37 - 29.5 g N/m2 (26.2 - 177.1 g N/m2/year); 0.35 - 3.26 g P/m2 (2.1 - 19.6 g P/m2/year).

Keywords:

Floating raft, phytoremediation, agricultural wastewater, growth, ornamental plant

Tóm tắt

Nghiên cứu được thực hiện nhằm bước đầu đánh giá tính khả thi của mô hình bè nổi thực vật trong kiểm soát ô nhiễm nước thải nông nghiệp để có thêm thông tin minh chứng cho giải pháp xử lý nước bằng thực vật kết hợp tạo cảnh quan. Bốn loài cây Bách thủy tiên (Echinodurus cordiforlius), Thủy trúc (Cyperus alternifolius), Chuối hoa (Canna generalis) và Chuối mỏ két (Heliconia psittacorum) được trồng trên bè nổi có diện tích 2 m2 với tổng cộng 6 bè nổi đã được đặt tại đoạn kênh dẫn nước thải từ ruộng lúa của trại lúa giống. Các thông số môi trường nước được đánh giá định kỳ 2 tuần/lần; sinh trưởng của cây được đánh giá mỗi tháng và sinh khối cây được cắt tỉa sau mỗi 2 tháng và xác định lượng N, P cây hấp thu. Kết quả cho thấy, mô hình bè nổi thử nghiệm đã góp phần hấp thu đạm và lân trong nước thải. Chất lượng nước tại khu vực thử nghiệm sau khi đi qua các bè nổi đều có xu hướng giảm so với vị trí đầu vào, ngoại trừ vị trí 6, do vị trí này nằm ngay cống xả nước thải sinh hoạt của công nhân viên làm việc tại đây dẫn đến hàm lượng các chất ô nhiễm có xu hướng tăng trở lại. Thông số pH và TP tại các vị trí khảo sát đều nằm trong giới hạn cho phép của bảng 2, mức B, QCVN 08:2023/BTNMT, hàm lượng DO và COD mặc dù được cải thiện sau khi đi qua các bè nổi tuy nhiên vẫn chưa đạt giới hạn cho phép. Các loài thực vật nghiên cứu thử nghiệm sinh trưởng và phát triển qua việc tăng trưởng chiều cao và khối lượng cây. Chiều cao cây trung bình của cây Chuối hoa, Chuối mỏ két, Bách thủy tiên, Thủy trúc đầu vào lần lượt là 45,0 ± 2,0; 46,0 ± 2,0; 26,0 ± 2,0; 30,0 ± 0 cm, sau mỗi tháng chiều cao tăng lên 54,7; 49,1; 26,4; 57,8 cm, tăng tương ứng gấp 1,2; 1,06; 1,02; 1,9 lần; khối lượng cây tăng thêm lần lượt là 76,4; 58,9; 7,7; 121,1 g/cây. Ước tính sau mỗi 2 tháng, cây đã hấp thu trung bình 4,37 - 29,5 g N/m2 (26,2 - 177,1 g N/m2/năm); 0,35 - 3,26 g P/m2 (2,1 - 19,6 g P/m2/năm).

Từ khóa:

Bè nổi, làm sạch bằng thực vật, nước thải nông nghiệp, sinh trưởng

Tải xuống

Ngày nhận bài:

15-06-2025

Ngày nhận bài sửa:

17-06-2026

Ngày duyệt đăng:

17-06-2026

Ngày xuất bản:

30-05-2025

Title:

PRELIMINARY ASSESSMENT OF THE FEASIBILITY OF PLANT FLOATING RAFTS IN IMPROVING AND REDUCING AGRICULTURAL WASTEWATER POLLUTION IN RICE SEED CENTER IN VINH LONG PROVINCE
Bài viết

Các trích dẫn

ĐÁNH GIÁ BƯỚC ĐẦU TÍNH KHẢ THI CỦA BÈ NỔI THỰC VẬT TRONG VIỆC CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG NƯỚC THẢI NÔNG NGHIỆP TẠI TRẠI LÚA GIỐNG TỈNH VĨNH LONG. (2025). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, 10, 70-82. https://doi.org/10.71254/7zxst810
Lượt xem
1346
Lượt tải
0

Các bài báo được đọc nhiều nhất của cùng tác giả