Số 21 (2025)

					Xem Số 21 (2025)
Đã Xuất bản: 10-11-2025

Bài viết

  • ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, NÔNG SINH HỌC CỦA MỘT SỐ DÒNG LÚA CHỌN TẠO MỚI CÓ KHẢ NĂNG CHỊU MẶN

    Abstract : 257 PDF: 0
    Nguyễn Thị Huế, Lê Hùng Lĩnh, Mai Thế Tuấn, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Khuất Thị Mai Lương
    3-11

    Nghiên cứu đã đánh giá đặc điểm hình thái, nông sinh học của 6 dòng lúa mới chọn tạo ở thế hệ BC3F4 từ cặp lai bố/mẹ là giống lúa Trắng Cụt và Bắc Thơm số 7. Thí nghiệm được tiến hành trong vụ xuân và vụ mùa năm 2024. Kết quả cho thấy, các dòng lúa đều có thời gian sinh trưởng ngắn, hầu hết đặc điểm hình thái, nông sinh học và các yếu tố cấu thành năng suất tương đương giống lúa Bắc Thơm số 7. Bốn dòng PT1, PT2, PT5, PT6 có vỏ trấu vàng sáng, khác với giống lúa Bắc Thơm số 7 (màu nâu), cao cây hơn giống lúa Bắc Thơm số 7 từ 2 - 10 cm và thời gian sinh trưởng dài hơn từ 2 - 7 ngày. Trong đó, hai dòng PT1 và PT2 có năng suất thực thu cao nhất ở cả hai vụ đánh giá (5,7 - 6,9 tấn/ha), vượt giống đối chứng Bắc Thơm số 7 từ 16,3 - 35,3%. Tất cả các dòng/giống lúa thí nghiệm có mức độ chống chịu tốt với sâu, bệnh hại chính ngoài đồng ruộng. Dựa trên kết quả tổng hợp, hai dòng PT1 và PT2 được lựa chọn tiếp tục gieo trồng đánh giá trong các vụ tiếp theo và các vùng sinh thái khác để đánh giá khả năng thích nghi ngoài sản xuất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/05es9b85
  • PHÂN LẬP, ĐỊNH DANH VÀ ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA NẤM NỘI SINH GIỐNG Rhizoctonia TỪ RỄ LAN THUỶ TIÊN MỠ GÀ (Dendrobium thyrsiflorum) TRONG NẢY MẦM HẠT

    Abstract : 185 PDF: 0
    Trần Gia Tường, Hồ Hoàn Hảo, Lương Thị Hoài Thu, Phạm Ngọc Dương, Nguyễn Hữu Hoàng
    12-20

    Dendrobium thyrsiflorum là một loài lan có giá trị, đang được khai thác nhiều ở Việt Nam cho mục đích dược liệu và cảnh quan. Việc phân lập và đánh giá ảnh hưởng của nấm nội sinh trên D. thyrsiflorum cho phép tìm hiểu sâu hơn về sự tương tác giữa lan và nấm trong môi trường. Bằng bốn cách phân lập khác nhau, nghiên cứu đã thu được 14 chủng nấm giống với Rhizoctonia từ rễ cây con và protocorm của D. thyrsiflorum từ Vườn Quốc gia Cát Tiên. Trong đó, 5 chủng nấm có ảnh hưởng tích cực đến nảy mầm của hạt khi được đồng nuôi cấy trên môi trường OMA. Sau 30 ngày, hạt đã phát triển tới giai đoạn 2 của quá trình nảy mầm với tỷ lệ protocorm từ 50,84 - 91,89%. Trên môi trường ½ MS, hạt đã phát triển đến giai đoạn 3. Nồng độ khoáng thấp trong môi trường OMA có thể là nguyên nhân cản trở quá trình nảy mầm. Việc bổ sung khoáng bằng cách thêm 1/10 MS vào OMA đã giúp hạt phát triển đến giai đoạn 3 sau 30 ngày đồng nuôi cấy với chủng nấm TTP1C3 và F7C1, với tỷ lệ protocorm lần lượt là 1,61 và 2,67%. Sự phát triển của protocorm đến giai đoạn 4 và 5 cũng được quan sát thấy, sau 90 ngày đồng nuôi cấy. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của peloton trong rễ cây con đồng nuôi cấy với TTP1C3 và F7C1 đã được ghi nhận. Kết quả định danh phân tử dựa trên trình tự vùng gen nhân (ITS-DNA) cho thấy, hai chủng nấm có quan hệ gần với các loài thuộc chi Hypoxylon Daldinia. Đây là những chi nấm nội sinh lần đầu tiên được báo cáo xuất hiện trên chi Dendrobium. Mặc dù chúng chưa thể được xem là nấm nội cộng sinh đặc hiệu, hai chủng này cho thấy tiềm năng kích thích nảy mầm và phát triển phôi, đồng thời góp phần làm phong phú hệ nấm nội sinh của Dendrobium và hỗ trợ bảo tồn nguồn gen lan dược liệu quý hiếm này.

    DOI: https://doi.org/10.71254/t2n9j979
  • NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH TRỒNGVÀ SƠ CHẾ DƯỢC LIỆU NẦN NGHỆ (Dioscorea collettii Hook.f.)

    Abstract : 182 PDF: 0
    Phouphachan Vongnarath, Trần Thị Liên, Nguyễn Hải Văn, Nguyễn Xuân Trường, Phùng Thị Thu Hà
    21-31

    Cây Nần nghệ (Dioscorea collettii Hook.f.) là một loài thuộc chi Củ nâu (Dioscorea), được biết đến như nguồn thực phẩm và dược liệu có giá trị nhưng hiện nay các quy trình trồng chưa được nghiên cứu. Nghiên cứu nhằm xây dựng quy trình kỹ thuật trồng cây Nần nghệ, góp phần bảo tồn và phát triển nguồn gen cây thuốc quý đang trong diện sắp nguy cấp. Kết quả cho thấy: Thời vụ trồng từ tháng 2 - 5 đều thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây Nần nghệ. Mật độ trồng 50.000 cây/ha và bón 5 tấn hữu cơ vi sinh (HCVS) + 110 kg N + 200 kg P2O5 + 110 kg K2O phù hợp nhất cho cây Nần nghệ với năng suất thực thu đạt 4,64 tấn/ha. Khi trồng tại xã Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, cây Nần nghệ xuất hiện sâu xám, bệnh lở cổ rễ và tuyến trùng nốt sưng gây hại ở mức độ cục bộ và không phổ biến. Phương pháp sơ chế phù hợp nhất cho dược liệu củ Nần nghệ là sấy lạnh, với hàm lượng diosgenin đạt cao nhất 2,62%, lượng chất chiết được đạt 18,7%. Chất lượng dược liệu vẫn đảm bảo sau 9 tháng bảo quản lạnh trong túi bao bì PP có hút chân không với hàm lượng chất chiết được là 18,1% và lượng diosgenin đạt 2,52% sau 9 tháng bảo quản.

    DOI: https://doi.org/10.71254/hsfts544
  • NGHIÊN CỨU BƯỚC ĐẦU VỀ PHƯƠNG THỨC TRỒNG VÀ BÓN PHÂN CHO HOÀNG ĐÀN HỮU LIÊN (Cupressus tonkinensis Silba. J.) Ở TỈNH LẠNG SƠN VÀ PHÚ THỌ

    Abstract : 188 PDF: 0
    Lê Minh Cường, Nguyễn Trọng Điển, Đặng Thị Tuyết, Hoàng Doãn Phú, Lê Văn Bình
    32-40

    Hoàng đàn hữu liên (Cupressus tonkinensis Silba. J.) là một trong 10 loài Thông ưu tiên cho hoạt động bảo tồn tại Việt Nam. Đây là loài thực vật đặc hữu hẹp, hiếm, được xếp ở mức độ rất nguy cấp (CR A1a, d - Crictically Endangered) trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và nhóm IA (Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm) Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Loài này hiện nay phân bố ngoài tự nhiên còn rất ít chỉ còn một vài cá thể tại khu vực núi đá vôi nơi khó tiếp cận trong Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hữu Liên và hầu như không có cây con tái sinh xuất hiện trong tự nhiên. Kết quả nghiên cứu bước đầu về phương thức trồng và phân bón lót cho thấy, trồng theo phương thức nông lâm kết hợp (xen canh cây nông nghiệp ngắn ngày với ngô) trong 2 năm đầu cho kết quả tốt hơn rõ rệt so với phương thức trồng cây phân tán và trồng hỗn giao. Phân bón lót ảnh hưởng tích cực tới sinh trưởng của Hoàng đàn hữu liên ở giai đoạn đầu sau khi trồng trên cả 2 địa điểm thí nghiệm là tỉnh Lạng Sơn và Vĩnh Phúc trước đây, nay là tỉnh Phú Thọ. Công thức phân bón lót cho kết quả tốt nhất là 2 kg phân chuồng hoai + 0,5 kg supe lân + 0,5 kg NPK (16: 16: 8) và lấp hố trước khi trồng cây 15 ngày. Thí nghiệm tại tỉnh Lạng Sơn cho kết quả tốt hơn tỉnh Phú Thọ cả về tỷ lệ sống, sinh trưởng đường kính, chiều cao và phẩm chất cây trồng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/exxhj333
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC TỔ HỢP CHỦNG VI SINH XỬ LÝ PHỤ PHẨM CÂY THANH LONG LÀM PHÂN BÓN HỮU CƠ

    Abstract : 84 PDF: 0
    Nguyễn Thị Ngọc Trúc, Trần Thị Vân, Trần Ngọc Phú Tịnh, Nguyễn Văn Sơn
    41-47

    Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 8/2024 đến tháng 10/2024 tại tỉnh Tiền Giang trước đây nay là tỉnh Đồng Tháp sử dụng tổ hợp vi sinh để ủ phụ phẩm thanh long thành phân hữu cơ. Kết quả cho thấy, các nghiệm thức được bổ sung vi sinh giúp quá trình ủ diễn ra nhanh hơn so với đối chứng không bổ sung vi sinh vật. Trong đó, tổ hợp của các chủng Bacillus sp, vi khuẩn phân giải cellulose sp., Trichoderma sp., Streptomyces sp. và một số chủng vi sinh vật khác, với mật số từ 109 CFU/gam (NT3) sau khi ủ 45 ngày thu được phân hữu cơ có hàm lượng hữu cơ từ 53,05%, chỉ số C/N từ 20,63; không có các vi khuẩn E. coli, Salmonella, nấm Colletorichum gloeosporioides và Neoscytalidium dimidiatum gây hại.

    DOI: https://doi.org/10.71254/c8k0b287
  • XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM BAO LƯỚI CHẮN RUỒI VÀNG PHÙ HỢP TRONG SẢN XUẤT TÁO (Ziziphus mauritiana L.) TẠI VÙNG NAM TRUNG BỘ

    Abstract : 129 PDF: 0
    Phan Công Kiên, Nguyễn Văn Chính, Mai Văn Hào, Phạm Trung Hiếu, Võ Thị Kim Trâm
    48-56

    Nghiên cứu xác định thời điểm bao lưới chắn ruồi vàng phù hợp trong sản xuất táo tại vùng Nam Trung bộ được bố trí theo khối CRD, với 4 công thức, 3 lần nhắc lại (tương ứng 3 địa điểm). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc bao lưới chắn ruồi vàng có ảnh hưởng đến các yếu tố tiểu khí hậu trong vườn táo, khi bao lưới làm giảm cường độ ánh sáng và nhiệt độ; nhưng ẩm độ không khí trong vườn táo có xu hướng tăng. Bao lưới đã ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả qua các đợt nở hoa, đặc biệt là bao lưới ngay từ đầu vụ đã ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả lứa hoa đầu (chỉ đạt 14,3%) và thấp hơn so với các công thức khác (17,0 - 17,3%). Bao lưới đã giúp quản lý tốt ruồi vàng hại quả táo (thông qua tỷ lệ quả bị hại và mật độ ấu trùng) ngay cả trên đồng ruộng và sau khi thu hoạch bảo quản trong phòng thí nghiệm (các công thức bao lưới có tỷ lệ hại dưới 12% và mật độ ấu trùng dưới 22,0 con/100 quả nhưng công thức không bao lưới có tỷ lệ hại từ 75,0 - 81% và mật độ ấu trùng từ 504 - 619,3 con/100 quả); các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất táo thực thu cao hơn hẳn so với đối chứng không bao lưới; năng suất các công thức bao lưới đạt từ 42,6 - 44,4 tấn/ha; trong khi đó đối chứng chỉ đạt 14,1 tấn/ha. Đồng thời, việc sử dụng bao lưới chắn ruồi vàng cũng giúp chất lượng quả táo cũng cải thiện đáng kể thông qua độ brix (%) và tỷ lệ quả ruồi gây hại sau khi thu hoạch (các công thức bao lưới có tỷ lệ quả thối sau 5 ngày thu hoạch là 12,5% nhưng công thức không bao lưới có tỷ lệ quả thối sau 5 ngày thu hoạch là 100%). Trong đó, thời điểm bao lưới phù hợp nhất cho cây táo tại vùng Nam Trung bộ là sau khi đậu quả lứa đầu tiên (sau cắt cành khoảng 100 - 110 ngày), giúp cây táo sinh trưởng, phát triển ổn định (tỷ lệ đậu quả trên 17%, năng suất thực thu đạt 44,4 tấn/ha, độ brix đạt 11,0 - 11,6%) và phòng trừ ruồi vàng đạt hiệu quả cao với tỷ lệ quả bị hại chỉ dưới 2%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/a9dsw653
  • KHẢO SÁT QUẦN XÃ TUYẾN TRÙNG KÝ SINH THỰC VẬT, CẤU TRÚC DINH DƯỠNG VÀ ĐẶC TÍNH HÓA HỌC ĐẤT CÁC VƯỜN TRỒNG CÂY CÓ MÚI Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 256 PDF: 0
    Nguyễn Văn Sinh, Trần Kiến Nguyên, Lê Thị Ngọc Tiền, Nguyễn Thị Kim Phượng
    57-69

    Tuyến trùng ký sinh thực vật là một trong những tác nhân gây hại quan trọng đối với cây có múi. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá thành phần loài, cấu trúc dinh dưỡng của quần xã tuyến trùng và đặc tính hóa học đất tại các vườn chanh, cam, quýt và bưởi ở 3 tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và Đồng Tháp (cũ) thuộc đồng bằng sông Cửu Long, với tổng số 134 mẫu đất được thu thập. Kết quả cho thấy, mật số tuyến trùng biến động mạnh giữa các địa phương và loại cây trồng, dao động từ 212 - 928 cá thể/100 g đất khô, cao nhất ở tỉnh Trà Vinh và thấp nhất ở tỉnh Đồng Tháp. Vườn cam và chanh có tổng mật số cao hơn so với quýt và bưởi. Trong cấu trúc dinh dưỡng, nhóm ăn vi khuẩn chiếm ưu thế, tiếp đến là ký sinh thực vật và ăn nấm; riêng đất trồng cam ghi nhận tỷ lệ tuyến trùng ăn nấm cao bất thường. Thành phần tuyến trùng ký sinh thực vật gồm 13 giống/loài, phổ biến nhất là Aphelenchus (73 cá thể/100 g đất; 69,4%), tiếp theo là Tylenchulus semipenetransAphelenchoides. Sự phân bố loài thay đổi theo cây trồng, trong đó cam có số lượng giống cao nhất (11 giống). Các vườn sinh trưởng tốt thường gắn với sự hiện diện của nhóm ăn vi khuẩn và ăn nấm, trong khi sinh trưởng kém liên quan đến Pratylenchus, Meloidogyne, RotylenchulusHelicotylenchus. Đặc tính đất chủ yếu có pH từ chua vừa đến chua cao, hàm lượng hữu cơ thấp (2 - 4% C) và một số vườn có tình trạng thừa lân. Phân tích tương quan cho thấy, T. semipenetrans và nhóm ăn vi khuẩn có mối liên hệ chặt chẽ với NO₃⁻-N; Aphelenchoides có tương quan thuận với EC, NO₃⁻-N và N hữu dụng; trong khi nhóm ăn thịt liên quan thuận với hàm lượng lân dễ tiêu trong đất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/w3shqk35
  • MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẶC TÍNH CẤU TRÚC CÔNG CỤ VÀ CẢM NHẬN NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI SẢN PHẨM CHẢ LỤA VIỆT NAM

    Abstract : 236 PDF: 0
    Nguyễn Thị Hiền, Phạm Hữu Thịnh
    70-78

    Nghiên cứu lần đầu tiên kết hợp phương pháp Texture Profile Analysis (TPA) và Ideal Profile Method (IPM) để khảo sát mối quan hệ giữa đặc tính cấu trúc công cụ và thị hiếu người tiêu dùng đối với chả lụa Việt Nam, một sản phẩm thực phẩm truyền thống có giá trị kinh tế và văn hóa cao. Bảy mẫu chả lụa từ các nguồn phân phối và phân khúc giá khác nhau được đo đạc các đặc tính cấu trúc vật lý theo phương pháp TPA và đánh giá cảm nhận người tiêu dùng theo phương pháp IPM trên 70 người thử. Phân tích thành phần chính (Principal Component Analysis - PCA) và phân tích đa nhân tố (Multiple Factor Analysis - MFA) được áp dụng để đánh giá phân bố mẫu và mối liên hệ giữa hai phương pháp. Kết quả cho thấy, sự đa dạng về đặc tính cấu trúc của các mẫu chả lụa không phụ thuộc vào nguồn gốc phân phối hay mức giá. Chỉ số RV coefficient đạt 0,229, thể hiện sự tương quan hạn chế giữa dữ liệu TPA và IPM. Kết quả MFA cho thấy, sự bất đồng thuận ở một số mẫu giữa tính chất cấu trúc và cảm nhận của người tiêu dùng, phản ánh bản chất bổ sung giữa hai phương pháp. Nghiên cứu kết luận rằng, việc kết hợp TPA và IPM cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về chất lượng sản phẩm và thị hiếu người tiêu dùng, hỗ trợ nhà sản xuất tối ưu hóa công thức, cải thiện chất lượng cảm quan và nâng cao giá trị thương mại cho sản phẩm chả lụa truyền thống Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/5ykgcm11
  • KHẢO SÁT ĐA DẠNG SINH HỌC THỰC VẬT BẬC CAO TRÊN MÔ HÌNH LUÂN CANH LÚA - TÔM VÀ CHUYÊN TÔM TẠI XÃ HÒA TÚ VÀ NGỌC TỐ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

    Abstract : 166 PDF: 0
    Võ Thị Phương Thảo, Quách Ngọc Ngân Khánh, Nguyễn Hồng Minh Phương, Ngô Thụy Diễm Trang
    79-90

    Nghiên cứu đánh giá sự đa dạng sinh học (ĐDSH) thực vật bậc cao (TVBC) giữa hai mô hình canh tác luân canh lúa - tôm và chuyên tôm tại xã Hòa Tú và Ngọc Tố, thành phố Cần Thơ. Thông qua việc thu mẫu thực vật (TV) vào thời điểm mùa khô (đầu vụ tôm, cuối tháng 3/2024 âm lịch, tháng 4/2024 dương lịch) và mùa mưa (cuối vụ tôm, tháng 6/2024 âm lịch, tháng 7/2024 dương lịch), tính toán và so sánh các chỉ số sinh học như: Chỉ số đa dạng Shannon – Wiener (H’), chỉ số phong phú (D), chỉ số cân bằng (E), chỉ số chiếm ưu thế (Cd) và chỉ số tương đồng (SI). Nghiên cứu ghi nhận, tổng cộng có 83 loài TV thuộc 39 họ hiện diện trong khu vực khảo sát. Trong đó, mô hình lúa - tôm có 68 loài, cao hơn so với 57 loài trong mô hình chuyên tôm. Thành phần loài trong mô hình lúa - tôm phong phú hơn. Chỉ số H’ trung bình ở mô hình lúa - tôm là 2,50, cao hơn so với chuyên tôm là 2,27; chỉ số E và chỉ số D của mô hình lúa - tôm cũng cao hơn (E = 0,63; D = 0,86) so với chuyên tôm (E = 0,59; D = 0,84). Đồng thời, chỉ số Cd trong mô hình lúa - tôm là 0,15, thấp hơn mô hình chuyên tôm là 0,17, phản ánh cấu trúc loài ổn định và không bị chi phối bởi một số ít loài vượt trội. Đặc biệt, chỉ số SI giữa hai mô hình lúa - tôm và chuyên tôm đạt 67,2%, cho thấy một tỷ lệ lớn loài TV là loài chung. Kết quả cho thấy, mô hình lúa - tôm có mức độ ĐDSH cao hơn so với mô hình chuyên tôm, có thể liên quan đến đặc điểm canh tác kết hợp và điều kiện môi trường ít chịu tác động của hóa chất nông nghiệp (NN). Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp bảo tồn ĐDSH trong hệ thống canh tác NN, góp phần bảo vệ tài nguyên sinh học và đảm bảo sinh kế lâu dài cho nông dân vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long.

    DOI: https://doi.org/10.71254/yg02bk08
  • HẠ TẦNG XANH CHO KHU VỰC ĐÔ THỊ: HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP - TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI BỐN PHƯỜNG (NINH KIỀU, CÁI KHẾ, TÂN AN VÀ AN BÌNH) THÀNH PHỐ CẦN THƠ

    Abstract : 263 PDF: 0
    Châu Thúy Ngân, Nguyễn Thành Đạt, Lâm Tấn Phát, Trần Văn Tỷ
    91-100

     Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm đánh giá sự thay đổi sử dụng đất và tốc độ đô thị hóa tại thành phố Cần Thơ (TPCT); từ đó phân tích lợi ích của hạ tầng xanh (HTX) theo bốn tiêu chí: kinh tế, xã hội, môi trường, và giải trí. Trường hợp nghiên cứu tập trung vào ba địa điểm tiêu biểu: Hồ Búng Xáng, Hồ Xáng Thổi, và Công viên Lưu Hữu Phước bốn phường (Ninh Kiều, Cái Khế, Tân An và An Bình). Các số liệu sơ cấp về ảnh viễn thám được thu thập, phân tích, và kiểm tra độ chính xác để làm cơ sở đánh giá hiện trạng thay đổi sử dụng đất và tốc độ đô thị hóa. Kết quả này được kiểm chứng bằng cách so sánh với các số liệu thu thập được từ khảo sát cộng đồng và thực tế tại khu vực nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy bốn phường tại khu vực nghiên cứu đang đối mặt với thách thức từ đô thị hóa nhanh chóng, dẫn đến vấn đề ngập lụt, thiếu không gian xanh và ô nhiễm môi trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy khu vực nghiên cứu đang đối mặt với thách thức từ đô thị hóa nhanh chóng, dẫn đến vấn đề ngập lụt, thiếu không gian xanh và ô nhiễm môi trường. Cụ thể, diện tích cây xanh trong giai đoạn 2000 - 2024 đã giảm 27,89%, trong khi diện tích hạ tầng xây dựng tăng 32,26%. Bên cạnh đó, kết quả khảo sát 80 người dân và phỏng vấn 6 chuyên gia chứng minh các giải pháp HTX mang lại nhiều lợi ích, như giảm ngập lụt, cải thiện chất lượng không khí, điều hòa nhiệt độ, và tạo môi trường sống lành mạnh cho cư dân.

    DOI: https://doi.org/10.71254/dcyrdk73