XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM BAO LƯỚI CHẮN RUỒI VÀNG PHÙ HỢP TRONG SẢN XUẤT TÁO (Ziziphus mauritiana L.) TẠI VÙNG NAM TRUNG BỘ

Các tác giả

  • Phan Công Kiên, Nguyễn Văn Chính, Mai Văn Hào, Phạm Trung Hiếu, Võ Thị Kim Trâm

DOI:

https://doi.org/10.71254/a9dsw653

Abstract

The study determined the appropriate time for covering fruit fly nets in jujube production in the South Central region, arranged in CRD blocks, with 4 formulas, 3 replications (corresponding to 3 locations). The research results showed that covering fruit fly nets affected microclimatic factors in jujube orchards, when covering nets reduced light intensity and temperature; but air humidity in apple orchards tended to increase. Covering nets affected the fruit set rate through flowering periods, especially covering nets from the beginning of the season affected the fruit set rate of the first flower (only 14.3%) and was lower than other formulas (17.0 - 17.3%). Covering nets helped to effectively manage fruit flies that harm jujube (through the rate of damaged fruit and larval density) both in the field and after harvesting and storage in the laboratory (netting formulas had a damage rate of less than 12% and larval density of less than 22.0 individuals/100 fruits, but the formula without netting had a damage rate of 75.0 - 81% and larval density of 504 - 619.3 individuals/100 fruits); the factors contributing to yield and actual jujube yield were significantly higher than the control without covering nets; the yield of the net covering formulas reached from 42.6 - 44.4 tons/ha; while the control only reached 14.1 tons/ha. At the same time, the use of fruit fly net covers also significantly improved the quality of jujube through Brix (%) and the rate of fruit flies after harvest (netting formulas had a rate of rotten fruit after 5 days of harvest of 12.5% ​​but the formula without net bags has a rate of rotten fruit after 5 days of harvest of 100%). In particular, the most suitable time for net covering for jujube trees in the South Central region is after the first fruit set (about 100 - 110 days after pruning), helping the jujube trees grow and develop stably (fruit set rate over 17%, actual yield of 44.4 tons/ha, Brix level of 11.0 - 11.6%) and fruit fly control is highly effective with a rate of damaged fruit of less than 2%.

Keywords:

Fruit fly netting, jujube, jujube fruit fly, netting time, South Central region.

Tóm tắt

Nghiên cứu xác định thời điểm bao lưới chắn ruồi vàng phù hợp trong sản xuất táo tại vùng Nam Trung bộ được bố trí theo khối CRD, với 4 công thức, 3 lần nhắc lại (tương ứng 3 địa điểm). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc bao lưới chắn ruồi vàng có ảnh hưởng đến các yếu tố tiểu khí hậu trong vườn táo, khi bao lưới làm giảm cường độ ánh sáng và nhiệt độ; nhưng ẩm độ không khí trong vườn táo có xu hướng tăng. Bao lưới đã ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả qua các đợt nở hoa, đặc biệt là bao lưới ngay từ đầu vụ đã ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả lứa hoa đầu (chỉ đạt 14,3%) và thấp hơn so với các công thức khác (17,0 - 17,3%). Bao lưới đã giúp quản lý tốt ruồi vàng hại quả táo (thông qua tỷ lệ quả bị hại và mật độ ấu trùng) ngay cả trên đồng ruộng và sau khi thu hoạch bảo quản trong phòng thí nghiệm (các công thức bao lưới có tỷ lệ hại dưới 12% và mật độ ấu trùng dưới 22,0 con/100 quả nhưng công thức không bao lưới có tỷ lệ hại từ 75,0 - 81% và mật độ ấu trùng từ 504 - 619,3 con/100 quả); các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất táo thực thu cao hơn hẳn so với đối chứng không bao lưới; năng suất các công thức bao lưới đạt từ 42,6 - 44,4 tấn/ha; trong khi đó đối chứng chỉ đạt 14,1 tấn/ha. Đồng thời, việc sử dụng bao lưới chắn ruồi vàng cũng giúp chất lượng quả táo cũng cải thiện đáng kể thông qua độ brix (%) và tỷ lệ quả ruồi gây hại sau khi thu hoạch (các công thức bao lưới có tỷ lệ quả thối sau 5 ngày thu hoạch là 12,5% nhưng công thức không bao lưới có tỷ lệ quả thối sau 5 ngày thu hoạch là 100%). Trong đó, thời điểm bao lưới phù hợp nhất cho cây táo tại vùng Nam Trung bộ là sau khi đậu quả lứa đầu tiên (sau cắt cành khoảng 100 - 110 ngày), giúp cây táo sinh trưởng, phát triển ổn định (tỷ lệ đậu quả trên 17%, năng suất thực thu đạt 44,4 tấn/ha, độ brix đạt 11,0 - 11,6%) và phòng trừ ruồi vàng đạt hiệu quả cao với tỷ lệ quả bị hại chỉ dưới 2%.

Từ khóa:

Cây táo, lưới chắn ruồi vàng, thời điểm bao lưới, Nam Trung bộ.

Tải xuống

Ngày nhận bài:

28-12-2025

Ngày nhận bài sửa:

17-06-2026

Ngày duyệt đăng:

17-06-2026

Ngày xuất bản:

15-11-2025

Title:

DETERMINING THE APPROPRIATE TIME TO APPLY FRUIT FLY NETTING IN JUJUBE (Ziziphus mauritiana L.) PRODUCTION IN THE SOUTH CENTRAL REGION
Bài viết

Các trích dẫn

XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM BAO LƯỚI CHẮN RUỒI VÀNG PHÙ HỢP TRONG SẢN XUẤT TÁO (Ziziphus mauritiana L.) TẠI VÙNG NAM TRUNG BỘ. (2025). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, 21, 48-56. https://doi.org/10.71254/a9dsw653
Lượt xem
130
Lượt tải
0