Số 14 (2024)
Bài viết
-
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG KHOAI LANG PHỔ CƯỜNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP NUÔI CẤY MÔ TẾ BÀO
Abstract : 973 PDF: 0Khoai lang Phổ Cường là một loại khoai lang đặc sản bản địa của tỉnh Quảng Ngãi đang bị thoái hoá do việc nhân giống vô tính qua nhiều thế hệ. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm nhân nhanh in vitro để phục tráng giống khoai này. Đỉnh sinh trưởng của khoai lang Phổ Cường được sử dụng làm vật liệu để nuôi cấy tạo mẫu sạch in vitro. Kết quả cho thấy, khử trùng bằng javen 33% (5 phút) kết hợp với xử lý bằng HgCl2 0,1% (3 phút) cho hiệu quả khử trùng cao nhất. Môi trường tái sinh chồi phù hợp là môi trường MS + 20 g/l đường + 7 g/l agar + 2 mg/l NAA + 1 mg/l GA3 + 1,5 mg/l BAP, cho chất lượng chồi tốt, chiều cao chồi trung bình đạt 5,71 cm, với trung bình 5,4 lá/chồi. Môi trường nhân nhanh chồi khi mẫu được tái sinh từ đỉnh sinh trưởng là môi trường MS + 20 g/l đường + 7 g/l agar + 2 mg/l BAP + 1,5 mg/l kinetin + 2 mg/l GA3 cho chất lượng chồi tốt nhất, với hệ số nhân chồi đạt 3,33 lần và chiều cao chồi trung bình là 6,95 cm. Môi trường tạo cây con hoàn chỉnh cho giống khoai lang Phổ Cường là môi trường MS + 20 g/l đường + 7 g/l agar + 1 mg/l GA3 + 1 mg/l NAA + 0,5 mg/l IAA thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây con, với trung bình 3,15 rễ/chồi, chiều dài rễ trung bình là 10,24 cm và chiều cao cây trung bình đạt 7,91 cm.
-
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG CÁC DÒNG VÔ TÍNH TRÀM TRÀ (Melaleuca alternifolia Maiden & E. Betche ex Cheel) A32.23 VÀ A26.218 BẰNG KỸ THUẬT NUÔI CẤY IN VITRO
Abstract : 600 PDF: 0Tràm trà (Melaleuca alternifolia Maiden & E. Betche ex Cheel) là loài có thể sản xuất tinh dầu giàu terpinen-4-ol. Các dòng vô tính Tràm trà A26.218 và A32.23 có hàm lượng và chất lượng tinh dầu cao đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật. Để đưa nhanh các giống có triển vọng này vào sản xuất cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện kỹ thuật nhân giống in vitro. Kết quả nhân giống in vitro các dòng vô tính Tràm trà A26.218 và A32.23 cho thấy: Khử trùng mẫu chồi bằng Javel 5% trong thời gian 10 phút (với tỷ lệ mẫu sạch nảy chồi đạt 74,44 - 77,78% sau 3 tuần nuôi cấy). Môi trường thích hợp tạo cụm chồi là MS* (nồng độ NH4NO3 giảm đi 1/2 so với MS) + 1,0 mg/l BAP + 0,2 mg/l kinetin + 0,1 mg/l NAA với tỷ lệ mẫu tạo cụm chồi đạt 98,9 - 100%, hệ số nhân chồi 5,05 - 5,16 lần; chiều cao chồi 1,56 - 1,61 cm sau 4 tuần nuôi cấy). Môi trường kích thích tăng trưởng chồi là MS* + 0,5 mg/l kinetin + 1,0 mg/l BAP + 0,1 mg/l NAA với chế độ che sáng hoàn toàn trong 1 tuần đầu, sau đó chiếu sáng 1.000 lux (cho tỷ lệ chồi hữu hiệu đạt 96,7 - 100%, chiều cao chồi đạt 2,58 - 2,71 cm, chồi có chất lượng tốt sau 4 tuần nuôi cấy). Môi trường ra rễ thích hợp là MS* + 1,0 mg/l IBA (với tỷ lệ chồi ra rễ 96,7 - 98,9%, số rễ trên chồi từ 4,17 - 4,73, chiều dài rễ từ 1,59 - 1,65 cm sau 3 tuần nuôi cấy). Cây mô các dòng vô tính Tràm trà A26.218 và A32.23 được cấy vào giá thể gồm hỗn hợp 30% trấu hun + 70% đất tầng B sàng kỹ (đạt tỷ lệ cây cây sống 94,4 - 95,6%, chiều cao cây đạt 25,23 - 25,70 cm và chất lượng cây tốt sau 3 tháng ra ngôi ở vườn ươm).
-
CHỌN LỌC DÒNG CỐT KHÍ CỦ ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO NĂNG SUẤT VÀ HÀM LƯỢNG POLYDATIN, RESVERATROL
Abstract : 406 PDF: 0Cốt khí củ (Polygonum cuspidatum Sieb. et Zucc) là cây thuốc có giá trị y dược cao. Từ 3 quần thể cốt khí củ do Viện Dược liệu thu thập tại thành phố Hà Nội, tỉnh Lào Cai và Hưng Yên, chọn lọc ra được 30 dòng cốt khí củ triển vọng, tiến hành đánh giá và chọn lọc bằng phương pháp chọn lọc cá thể cho cây sinh sản vô tính được 10 dòng cốt khí củ ưu tú có năng suất thực thu củ khô dao động 30,05 - 38,85 tấn/ha và tổng hàm lượng Polydatin và Resveratrol đạt 1,32 - 2,81%. Đặc biệt, dòng CKC-23 và CKC-22 có năng suất thực thu đạt 38,85 tấn/ha và 36,58 tấn/ha, tổng hàm lượng Polydatin và Resveratrol đạt 2,81 và 2,30 %, là 2 dòng có tiềm năng về năng suất và chất lượng dược liệu. Kết quả này là cơ sở để khẳng định sự thành công trong chọn giống cốt khí củ cho năng suất trên 20 tấn/ha và tổng hàm lượng Polydatin và Resveratrol đạt trên 1,1%.
-
XÁC ĐỊNH ĐẶC TÍNH HÌNH THÁI VÀ TÍNH CHẤT HÓA HỌC PHẪU DIỆN ĐẤT MẶN CANH TÁC LÚA - TÔM TẠI HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
Abstract : 520 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu xác định đặc tính hình thái và hóa học đất ở mô hình lúa - tôm tại huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Mô tả đặc tính hình thái đất dựa trên bảng so màu đất Munsell. Mẫu đất được lấy theo tầng phát sinh đối với 2 phẫu diện đất trồng lúa - tôm để phân tích đặc tính hóa học đất. Dựa vào đặc tính hình thái cho thấy, cả 2 phẫu diện đất canh tác lúa - tôm thuộc đất phù sa có tầng Mollic, nhiễm mặn nhẹ, có tên phân loại Molli Hyposalic Gleysols. Đối với đặc tính hóa học, trị số pHKCl của các tầng đất ở mức trung bình, dao động từ 5,41 - 6,15. Hàm lượng đạm tổng số ở đất tầng mặt được đánh giá ở mức thấp, lượng đạm dễ tiêu dao động từ 201,0 - 312,3 mg kg-1. Tuy nhiên, hàm lượng lân tổng số được đánh giá ở mức nghèo và hàm lượng lân dễ tiêu ở đất tầng mặt từ 3,09 - 29,5 mg P kg-1, hàm lượng lân khó tan gồm: Nhôm - lân (Al-P); sắt - lân (Fe-P); can xi - lân (Ca-P) cao tương ứng 13,5 - 27,1; 85,9 - 214,4; 16,1 - 35,3 mg kg-1. Hàm lượng Na+ dao động 12,1 - 15,3 meq Na+ 100 g-1 đất. Ngoài ra, hàm lượng chất hữu cơ được đánh giá ở ngưỡng rất thấp đến thấp.
-
NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ LÂY NHIỄM BỆNH KHẢM LÁ SẮN QUA NGUỒN GIỐNG TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Abstract : 408 PDF: 0Sắn là cây trồng kinh tế ở các vùng đất nghèo dinh dưỡng của tỉnh Thừa Thiên Huế. Bệnh khảm lá sắn xâm nhập, phát triển mạnh kể từ năm 2019. Bệnh gây thiệt hại đáng kể nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về bệnh hại này. Để có cơ sở cho công tác quản lý bệnh khảm lá sắn tổng hợp, cần xác định mức độ lây nhiễm bệnh qua nguồn giống. Kết quả nghiên cứu trong điều kiện nhà lưới cho thấy, bệnh khảm lá sắn bị lây nhiễm qua nguồn giống do người dân tự để giống là rất cao. Bệnh phát triển liên tục trong các giai đoạn sinh trưởng cây trồng và ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất sinh khối. Đánh giá về mức độ lây nhiễm của bệnh qua nguồn giống trên đồng ruộng cho thấy, giống KM94 là giống sắn chủ lực (chiếm tỉ lệ trên 95%), bệnh nhiễm từ nguồn giống rất cao. Bệnh phát triển liên tục trong các giai đoạn sinh trưởng cây trồng và ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất. Các giống HN5 kháng bệnh và HN3 chống bệnh sinh trưởng, phát triển tốt, nhưng chỉ có giống HN5 cho năng suất cao hơn có ý nghĩa so với giống KM94 nhiễm bệnh. Tỉ lệ năng suất giảm do nhiễm bệnh khảm lá sắn biến động từ 30,7 - 38,1% trong điều kiện sinh thái và canh tác ở tỉnh Thừa Thiên Huế.
-
Khả năng đối kháng của xạ khuẩn đối với nấm Colletotrichum sp. gây bệnh thán thư hại cây hành lá (Allium fistulosum L.)
Abstract : 625 PDF: 0Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm ra xạ khuẩn có khả năng đối kháng với nấm Colletotrichum sp. gây bệnh thán thư trên Hành lá. Khả năng đối kháng của 20 chủng xạ khuẩn đối với nấm Colletotrichum sp. gây bệnh thán thư trên Hành lá được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm với 5 lần lặp lại. Kết quả cho thấy, 5 chủng xạ khuẩn MX12-ST, BT42-VL, MX5-ST, TM4-ĐT và CL3-TG thể hiện khả năng đối kháng cao với bán kính vòng vô khuẩn lần lượt là 10,75 mm; 7,75 mm; 5,75 mm; 5,50 mm; 5,25 mm và hiệu suất đối kháng lần lượt là 80,20%; 64,07%; 56,95%; 59,20%; 54,85% ở thời điểm 9 ngày sau khi bố trí thí nghiệm. Khả năng tiết enzyme β-glucanase phân giải β-glucan của 5 chủng xạ khuẩn (MX12-ST, BT42-VL, MX5-ST, TM4-ĐT, CL3-TG) được thực hiện với 5 lần lặp lại. Kết quả cho thấy, 2 chủng MX12-ST và BT42-VL có khả năng phân giải β-glucan cao nhất với bán kính vòng phân giải lớn nhất lần lượt là 11,1 mm và 11,7 mm ở thời điểm 14 ngày sau khi cấy. Khả năng phân giải chitin của 5 chủng xạ khuẩn trên cũng được thực hiện trong môi trường chitin với 5 lần lặp lại. Kết quả cho thấy, 2 chủng MX12-ST và BT42-VL có khả năng phân giải chitin cao nhất với bán kính vòng phân giải lớn nhất lần lượt là 19,9 mm và 18,7 mm ở thời điểm 7 ngày sau khi bố trí thí nghiệm.
-
Ảnh hưởng của maltodextrin bổ sung đến chất lượng bột xoài (Mangifera indica L.) sấy bằng cửa sổ khúc xạ
Abstract : 497 PDF: 0Xoài (Mangifera indica L.) là một loại trái cây có giá trị dinh dưỡng cao nhưng chưa được khai thác sản phẩm chế biến dạng bột hiệu quả. Mục đích của nghiên cứu này là cung cấp dữ liệu thực nghiệm phát triển sản phẩm mới từ xoài. Thí nghiệm được bố trí ảnh hưởng của một nhân tố (hàm lượng maltodextrin bổ sung) với 5 mức khảo sát (từ 0 - 10,5% w/w). Các chỉ tiêu đánh giá gồm: Phenolic tổng, đường khử, hoạt tính chống oxy hoá, tỉ trọng và độ hoà tan của bột xoài. Kết quả cho thấy, hàm lượng maltodextrin bổ sung ảnh hưởng lớn (P < 0,05) đến chất lượng bột xoài sau khi sấy. Việc bổ sung maltodextrin cũng làm tăng tỉ trọng và giảm độ hoà tan của bột xoài. Nghiên cứu xác định sấy puree xoài bằng phương pháp cửa sổ khúc xạ với tỉ lệ phối trộn 9% maltodextrin sẽ tạo ra sản phẩm bột xoài chất lượng cao giữ lại hơn 80% hàm lượng phenolic tổng và hoạt tính khử DPPH. Sản phẩm thu được có thể sử dụng trực tiếp hoặc định hướng phát triển các sản phẩm thực phẩm mới.
-
Nghiên cứu quy trình chế biến bột cần tây (Apium graveolens L.) bằng kỹ thuật sấy bọt xốp
Abstract : 687 PDF: 0Cần tây (Apium graveolens L.) chứa nhiều thành phần dinh dưỡng quý, có lợi cho sức khỏe con người. Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở khảo sát ảnh hưởng phụ gia đến quá trình tạo bọt (tỷ lệ bổ sung gum arabic và maltodextrin) và ảnh hưởng của thời gian sấy vi sóng đến chất lượng bột cần tây. Kết quả khảo nghiệm cho thấy, dịch cần tây được tiến hành tạo bọt xốp với 10% gum arabic và 5% maltodextrin giúp tạo được màng bọt tốt và bền vững. Mặt khác, màng bọt xốp được tiến hành sấy vi sóng trong thời gian 21 phút thu hồi bột cần tây có màu sắc tốt (giá trị màu L* và a* tương ứng là 37,22 và -7,47) và hàm lượng chất dinh dưỡng được lưu giữ tốt nhất với hàm lượng vitamin C 25,74 mg%; chlorophyll 0,22 µg/g; tannin 3,01 mgTAE/g và phenolic tổng 3,59 mgGAE/g. Kết quả nghiên cứu này giúp đa dạng hóa sản phẩm từ cần tây bằng phương pháp sấy mới giúp tiết kiệm chi phí nhưng vẫn giữ chất lượng.
-
Khả năng sinh trưởng và hiệu suất xử lý tổng đạm hòa tan và tổng lân của ba giống chuối hoa trồng trong nước thải đô thị
Abstract : 520 PDF: 0Sử dụng bè nổi thực vật cải thiện môi trường nước ô nhiễm đã và đang được quan tâm trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu được triển khai trong điều kiện thí nghiệm nhà lưới nhằm tuyển chọn giống Chuối hoa lai (Canna generalis) có tiềm năng sinh trưởng tốt và có hiệu suất xử lý đạm, lân trong nước thải đô thị cao. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức bao gồm 3 giống Chuối hoa: Hoa hồng, hoa đỏ, hoa cam và nghiệm thức không cây (đối chứng), 4 lần lặp lại. Sau 8 tuần thí nghiệm, 3 giống Chuối hoa đều có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt trong nước thải đô thị. Trong đó, giống Chuối hoa cam phát triển tốt hơn 2 giống còn lại và cho sinh khối tươi cao nhất, đạt 602,3 g/cây trong 8 tuần thí nghiệm, cao hơn 1,5 lần so với Chuối hoa đỏ (396,8 g/cây) và 2,5 lần so với Chuối hoa hồng (254,1 g/cây), tăng gấp 18,9; 9,4; 7,5 lần so với cây trồng ban đầu. Hàm lượng tổng đạm hòa tan (TIN) và tổng lân (TP) trung bình trong nước trước khi đưa vào hệ thống xử lý là 19,07 và 2,55 mg/L, sau 7 ngày giảm xuống còn 0,30 - 0,91 mg/L TIN và 0,21 - 0,46 mg/L TP. Hàm lượng TP sau xử lý ở Chuối hoa hồng vẫn còn cao hơn 1,5 lần so với QCVN 08:2023/BTNMT (Bảng 2, cột B; TP £ 0,3 mg/L). Hiệu suất xử lý của Chuối hoa cam, hoa đỏ và hoa hồng đạt 95,6; 95,7; 88,3% TIN và 74,4; 72,3; 46,9% TP, cao hơn so với nghiệm thức đối chứng (89,0% TIN và 38,5% TP), thể hiện được vai trò của thực vật trong việc hấp thu đạm, lân. Có thể chọn giống Chuối hoa cam để trồng thử nghiệm trên mô hình thực tế, đặc biệt là trong các kênh, hồ chứa nước thải đô thị, vừa góp phần đáng kể vào việc cải thiện môi trường nước, vừa tạo cảnh quan đô thị.
-
Nghiên cứu tính đa dạng thực vật trong mô hình vườn rừng tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
Abstract : 256 PDF: 0Nghiên cứu tính đa dạng thực vật trong mô hình vườn rừng tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ nhằm cung cấp và bổ sung dữ liệu về tính đa dạng thành phần loài. Áp dụng phương pháp nghiên cứu điều tra theo tuyến, thu thập số liệu và xử lý số liệu. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận trên mô hình vườn rừng có 567 loài, thuộc 430 chi, 129 họ, 6 ngành. Trong đó: Ngành Thông đất (Lycopodiophyta) có 2 loài, 2 chi, 2 họ; ngành Quyết lá thông (Psilotophyta) có 1 loài, 1 chi, 1 họ; ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) có 1 loài, 1 chi, 1 họ; ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 17 loài, 14 chi, 11 họ; ngành Thông (Pinophyta) có 2 loài, 2 chi, 2 họ; ngành Mộc lan (Magnoliophyta) có 544 loài, 410 chi, 112 họ. Trên đất nông nghiệp của mô hình vườn rừng đã thống kê được 128 loài; trên đất rừng của mô hình vườn rừng đã thống kê được 98 loài.








