Số 18 (2024)
Bài viết
-
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ KHẢ NĂNG KẾT HỢP CỦA MỘT SỐ DÒNG BỐ, MẸ LÚA LAI HAI DÒNG
Abstract : 367 PDF: 0Nghiên cứu nhằm đánh giá đặc điểm nông sinh học, tính dục, khả năng kết hợp của các dòng bố, mẹ lúa lai hai dòng mới chọn tạo thông qua thí nghiệm sản xuất thử hạt lai F1 và so sánh con lai F1 tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Kết quả cho thấy, các dòng bố, mẹ lúa lai hai dòng có thời gian sinh trưởng ngắn, khoảng 85 - 98 ngày đối với dòng mẹ, 89 - 97 ngày đối với dòng bố. Các dòng mẹ 54S, 55AS, 89S, E15S và 394S bất dục hoàn toàn, các dòng bố có tỷ lệ hạt phấn hữu dục trên 80%, phù hợp làm dòng bố, mẹ lúa lai hai dòng. Con lai F1 của các dòng bố, mẹ đều có thời gian sinh trưởng ngắn, 4 tổ hợp lai có năng suất cao hơn giống đối chứng HQ19 là 54S/VN20, 54S/ĐH16, E15S/ĐH16, 394S/ĐH15. Hai dòng mẹ (54S, 56S) và hai dòng bố (ĐH16, VN20) có khả năng kết hợp chung cao nhất về số bông/khóm, số hạt/bông và năng suất thực thu. Dòng bố ĐH15 có khả năng kết hợp chung cao về khối lượng 1.000 hạt. Ba tổ hợp lai 54S/VN20, 54S/ĐH16 và 56S/ĐH16 có khả năng kết hợp riêng cao về chiều dài bông, số bông trên khóm, số hạt trên bông, khối lượng 1.000 hạt và năng suất thực thu.
-
NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG THỦY TÙNG (Glyptostrobus pensilis) BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM
Abstract : 766 PDF: 0Thủy tùng là loài duy nhất còn tồn tại thuộc chi Glyptostrobus và được xem như hóa thạch sống của ngành hạt trần. Đây là loài vừa có giá trị kinh tế cao vừa có giá trị bảo tồn. Để bảo tồn và phát triển loài Thủy tùng hiệu quả, nhân giống bằng hom là một phương pháp nhân giống sinh dưỡng được áp dụng khá phổ biến với việc sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng thực vật: IAA, IBA, NAA, .... Thí nghiệm giâm hom Thủy tùng được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ kết quả cho thấy: Sử dụng hom dài 10 - 12 cm, đường kính 1 - 2 mm, ngâm gốc hom trong dung dịch IBA 1.000 ppm trong 2 giờ, vào vụ xuân, sau 2 tháng tỷ lệ hom sống và tỷ lệ hom ra rễ đạt cao nhất lần lượt là 80% và 34,29%; giâm hom vào vụ đông, sau 2 tháng tỷ lệ hom sống là 67,5%, tỷ lệ hom ra rễ là 25,83%, số rễ trung bình trên hom là 2,67 rễ/hom, chiều dài rễ đạt 13,59 cm và chỉ số ra rễ đạt 51,13; sử dụng hỗn hợp IBA 1.000 ppm + IAA 800 ppm vào vụ thu cho tỷ lệ hom ra rễ 20%, trung bình 3 rễ/hom, chiều dài rễ 12,92 cm và chỉ số ra rễ cao nhất là 38,95.
-
KHẢ NĂNG NẢY MẦM VÀ SINH TRƯỞNG GIAI ĐOẠN CÂY CON CỦA CÂY ĐẬU NÀNH, MÈ, HƯỚNG DƯƠNG VÀ RAU SAM TRỒNG TRÊN ĐẤT NHIỄM MẶN NHÂN TẠO TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI
Abstract : 457 PDF: 0Nghiên cứu này đánh giá khả năng nảy mầm và sinh trưởng ở giai đoạn cây con của cây đậu nành, mè, hướng dương và rau sam trồng trên đất nhiễm mặn nhân tạo trong điều kiện nhà lưới nhằm tuyển chọn loài có khả năng chịu mặn để đưa vào bộ giống cây ngắn ngày chịu mặn. Thí nghiệm 1 nhằm đánh giá đặc tính đất mặn nhân tạo ở điều kiện ngập nước mặn 4, 6 và 8‰ trong 6 tuần. Thí nghiệm 2 nhằm đánh giá khả năng nảy mầm của 4 loài cây: Đậu nành (giống MTĐ 305), mè (giống mè vỏ đen 2 vỏ Bình Thuận), hướng dương TN 282 và rau sam trồng trên đất nhiễm mặn nhân tạo từ thí nghiệm 1 (tương ứng là nghiệm thức Đ0, Đ4, Đ6 và Đ8) với 6 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức. Sau 6 tuần ngập mặn nhân tạo, giá trị ECe trung bình trong đất ở 3 nghiệm thức Đ4, Đ6 và Đ8 là 4,1 - 8,9 mS/cm, đạt giá trị “đất mặn vừa phải” làm giảm năng suất của nhiều loại cây trồng. Hàm lượng Na+, K+ và Ca2+ tích lũy trong đất tăng theo độ mặn trong nước ngâm và tăng theo thời gian ngâm. Độ mặn trong đất càng cao thì tỷ lệ nảy mầm của cả 4 loài cây càng giảm, đặc biệt là cây hướng dương có tỷ lệ nảy mầm dưới 50%. Ngoài ra, độ mặn trong đất làm giảm khả năng sinh trưởng như chiều cao cây, chiều dài rễ, khối lượng tươi, khối lượng khô của cây đậu nành, mè, hướng dương, ngoại trừ cây rau sam. Qua đó cho thấy, rau sam là loài cây có tiềm năng chịu mặn cao nhất ở giai đoạn cây con trong điều kiện đất mặn có giá trị ECe 4,1 - 8,9 mS/cm.
-
TUYỂN CHỌN VÀ ĐỊNH TÊN CHỦNG VI SINH VẬT CÓ KHẢ NĂNG SINH AXIT LACTIC, CELLULASE, XYLANASE, AMYLASE ỨNG DỤNG TRONG XỬ LÝ BÃ DONG RIỀNG LÀM THỨC ĂN CHĂN NUÔI
Abstract : 562 PDF: 0Bã dong riềng là sản phẩm phụ của quá trình chế biến tinh bột dong, phụ phẩm này chiếm khoảng 80% khối lượng củ tươi. Việc tận thu bã dong riềng làm thức ăn gia súc là giải pháp có tính thực tế cao trong hoàn cảnh nguồn thức ăn thô xanh cho gia súc đang còn thiếu, đồng thời gia tăng hiệu quả kinh tế và giảm tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề chế biến tinh bột dong. Mục đích của nghiên cứu này là tuyển chọn các chủng vi khuẩn lactic có khả năng sinh axit lactic cao, các enzym ngoại bào (cellulase, xylanase, amylase) và có hoạt tính ức chế vi khuẩn gây bệnh để ứng dụng cho xử lý bã dong riềng làm thức ăn gia súc. Kết quả cho thấy, trong số 20 chủng vi khuẩn lactic thử nghiệm đã tuyển chọn được 3 chủng vi khuẩn lactic kí hiệu là: L. DM6; L. DR9 và L. DR27 có khả năng sinh axit lactic, sinh enzym ngoại bào và kháng khuẩn ở mức cao: Hàm lượng axit lactic đạt 14,3; 14,8; 15,4 mg/ml; hoạt tính amylase thể hiện qua đường kính vòng phân giải đạt 18, 20, 25 mm, xylanase đạt 23, 20, 35 mm, cellulose đạt 20, 22, 30 mm; hoạt tính kháng khuẩn với E. coli là 13, 16, 21 mm, với B. cereus là 7, 11 và 13 mm và S. typhi là 12, 10 và 17 mm. Định danh bằng phương pháp giải trình tự 16S rDNA, chủng L. DM6 là loài Lactiplantbacillus plantarum, chủng L. DR9 được xác định là Lactobacillus acidophilus và chủng L. DR27 xác định là loài Lactiplantbacillus plantarum.
-
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH THU NHẬN CELLULOSE TỪ GỐC MĂNG TÂY
Abstract : 353 PDF: 0Các nguồn phụ phẩm nông nghiệp giàu cellulose như: Cuống bông, thân cây ngô, bã mía và vỏ trấu hiện đang được tận dụng khá nhiều, ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau và một trong số đó là tận dụng để sản xuất phụ gia thực phẩm, trích ly một số hợp chất sinh học. Trong nghiên cứu này, phụ phẩm gốc măng tây được sử dụng để thu nhận cellulose như một nguồn cellulose vi tinh thể dùng làm thực phẩm chức năng. Kết quả thu được cho thấy, thành phần hóa học của bột gốc măng tây có hàm lượng xơ thô là 73,7%, trong đó xơ không tan là 67,9% và xơ tan là 5,8%. Điều kiện phản ứng thích hợp để thu được khối lượng cellulose nhiều nhất bao gồm: Tỉ lệ bột/dung dịch NaOH, nồng độ NaOH, tỉ lệ H2O2/dung dịch NaOH, nhiệt độ và thời gian đã chọn tương ứng là 1/30 g/mL, 6% (w/v), 0,9% (v/v), 80oC và 120 phút.
-
TỐI ƯU HÓA THÀNH PHẦN TẠO CHẾ PHẨM PHỦ MÀNG TỪ HỖN HỢP SÁP ONG, SÁP CỌ VÀ CARBOXYMETHYL CELLULOSE (MW - CMC) ĐẾN HIỆU QUẢ BẢO QUẢN QUẢ CHANH LEO TÍM
Abstract : 462 PDF: 0Mục đích của nghiên cứu này là thực nghiệm đa yếu tố và tối ưu hóa thành phần tạo chế phẩm từ hỗn hợp sáp ong, sáp cọ và carboxymethyl cellulose (MW - CMC) đến hiệu quả bảo quản quả chanh leo tím trồng tại tỉnh Sơn La. Kế hoạch thực nghiệm sử dụng mô hình quy hoạch của Box - Behnken với 3 biến độc lập tương ứng miền thực nghiệm: Tỷ lệ sáp ong (1,5 - 2,5%), tỷ lệ sáp cọ (0,6 - 1,2%) và tỷ lệ carboxymethyl cellulose (0,4 - 0,8%). Các hàm mục tiêu đánh giá hiệu quả bảo quản quả chanh leo gồm: Hao hụt khối lượng (%), hàm lượng vitamin C (mg/100 g) và chất lượng cảm quan (điểm). Xử lý số liệu thực nghiệm và tối ưu hóa sử dụng thuật toán hàm mong đợi bằng phần mềm Design - Expert 7.1 với mục tiêu tỷ lệ hao hụt khối lượng thấp nhất, hàm lượng vitamin C và chất lượng cảm quan cao nhất, tương ứng hệ số quan trọng 5/5, 4/5, 5/5. Kết quả đã xác định được thông số công nghệ tối ưu với tỷ lệ sáp ong 2,28%, sáp cọ 1,04% và carboxymethyl cellulose 0,68%, tương ứng mục tiêu đạt được tỷ lệ hao hụt khối lượng 2,15%, hàm lượng vitamin C 23,36 mg/100 g (tổn thất 17,36% so với nguyên liệu ban đầu) và chất lượng cảm quan đạt 17,57 điểm ở điều kiện bảo quản lạnh 5 ± 1oC, độ ẩm 90 ± 2%, thời gian bảo quản 56 ngày.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ HOA BIA BỔ SUNG ĐẾN CÁC ĐẶC TÍNH CHẤT LƯỢNG CỦA SẢN PHẨM CRAFT BEER XOÀI
Abstract : 436 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ hoa bia bổ sung (0,05; 0,10; 0,15; 0,20% w/v) đến các đặc tính chất lượng của sản phẩm craft beer xoài. Thành phần chất lượng bao gồm: Hàm lượng các hợp chất có hoạt tính sinh học, đường tổng, axit tổng, protein, ethanol, các thông số màu sắc và giá trị cảm quan của sản phẩm được phân tích. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ hoa bia bổ sung 0,15% w/v là thích hợp cho quá trình sản xuất craft beer xoài. Ở điều kiện tối ưu này, sản phẩm có giá trị cảm quan hài hòa nhất về mùi vị (4,1 điểm), màu sắc (4,1 điểm) và mức độ ưa thích (6,9 điểm). Ngoài ra, sản phẩm có chứa các thành phần polyphenol 1,47 g GAE/100 g chất khô (CK), flavonoid 0,98 g QE/100 g CK, carotenoids 0,89 mg/g CK, protein 1,76%, đường tổng 69,36%, axit tổng 0,44% và ethanol 4,40%. Các thông số màu sắc L*, a*, b* và DE lần lượt là 41,27; -4,56; 1,54; 52,33.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ VÀ THỜI GIAN CHIÊN CHÂN KHÔNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM SNACK BÍ ĐỎ (Cucurbita moschata D.)
Abstract : 750 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng của nhiệt độ (90 - 110oC) và thời gian (30 -50 phút) chiên chân không đến chất lượng sản phẩm snack bí đỏ (Cucurbita moschata D.). Kết quả cho thấy, độ ẩm, hoạt độ nước, hàm lượng carotenoid, độ sáng (L*) và độ đỏ (a*) của sản phẩm giảm theo nhiệt độ và thời gian chiên, trong khi độ cứng, độ vàng (b*) và hàm lượng dầu có xu hướng ngược lại. Sản phẩm có cấu trúc cảm quan tốt hơn khi tăng nhiệt độ và thời gian chiên nhưng màu sắc, mùi, vị được cho là bị suy giảm đáng kể. Sản phẩm snack bí đỏ được chiên ở 100oC trong 40 phút có độ ẩm 1,26 ± 0,15%, hoạt độ nước 0,54 ± 0,02, độ cứng 15,96 ± 0,22 N, hàm lượng carotenoid 20,12 ± 0,21 mg/100 g, giá trị L* 58,35 ± 0,46, a* 14,59 ± 0,13, b* 25,83 ± 0,31, hàm lượng dầu 34,39 ± 1,51% và các thuộc tính cảm quan phù hợp với các thông số chất lượng đối với sản phẩm chiên. Kết quả phân tích cho thấy, có sự tương quan cao giữa các chỉ tiêu: Độ ẩm, hoạt độ nước, lượng dầu thấm, cấu trúc (p < 0,01). Cụ thể, độ ẩm và hoạt độ nước tương quan nghịch chiều với lượng dầu thấm (hệ số tương quan tương ứng r = -0,873 và -0,969); với cấu trúc (hệ số tương quan tương ứng r = -0,929 và -0,798). Ngược lại, có sự tương quan thuận chiều giữa lượng dầu thấm và cấu trúc (r = 0,760).
-
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MỘT SỐ TÍNH NĂNG GIA CÔNG VÀ TRANG SỨC CỦA CẤU KIỆN GỖ LÕI RỖNG ÉP ĐỊNH HÌNH TỪ VÁN BÓC GỖ KEO
Abstract : 275 PDF: 0Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu đánh giá khả năng gia công và trang sức của cấu kiện gỗ rỗng bằng phương pháp ép định hình trên máy ép 3 chiều. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cấu kiện gỗ rỗng, nhiều lớp có tính năng gia công tương đối tốt (tương đương gỗ nhóm 4); đáp ứng được yêu cầu nguyên liệu trong sản xuất đồ mộc xây dựng và nội thất, với chất lượng bề mặt sau quá trình cưa tương đối nhẵn. Cấu kiện có khả năng khoan tốt, biến dạng của kích thước lỗ khoan sau 24 giờ rất nhỏ. Cường độ bám vít của cấu kiện gỗ cao hơn 1,3 lần khi so sánh với gỗ Keo tai tượng. Kết quả đánh giá khả năng trang sức của cấu kiện gỗ cho thấy, bề mặt cấu kiện gỗ được trang sức bằng sơn Polyurethane và sơn Inchem đều cho chất lượng tốt. Về tổng thể, sơn Inchem có chất lượng màng sơn tốt hơn sơn Polyurethane. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở để xác định phương pháp gia công, trang sức cấu kiện gỗ sử dụng trong xây dựng và đồ gỗ nội thất.
-
HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ Ô NHIỄM RÁC THẢI NHỰA TẠI THỦY VỰC ĐÔ THỊ: TRƯỜNG HỢP HỒ XÁNG THỔI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Abstract : 1097 PDF: 0Hiện nay, rác thải nhựa là một trong những tác nhân mới gây ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nước. Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá số lượng, khối lượng và thành phần hóa học của rác thải nhựa bị rơi vãi trên vỉa hè, thảm cỏ ở xung quanh kênh dẫn và xung quanh hồ, cũng như tích tụ trên mặt nước ở kênh dẫn và lòng hồ Xáng Thổi (phường An Cư, thành phố Cần Thơ). Rác thải nhựa bị vứt bỏ trên vỉa hè, thảm cỏ xung quanh hồ được thu nhặt bằng tay và rác thải nhựa tích tụ trong lòng hồ được vớt bằng vợt trong ngày 22/10/2023. Kết quả cho thấy, rác thải nhựa bị rơi vãi và tích tụ đã ảnh hưởng đến chất lượng và cảnh quan môi trường của thủy vực đô thị. Việc ô nhiễm nhựa do các hoạt động dân sinh xung quanh hồ với số lượng mảnh đa dạng và khối lượng đáng kể. Thành phần rác nhựa rơi vãi trên vỉa hè, thảm cỏ xung quanh kênh dẫn và xung quanh hồ chiếm 76,92%; tích tụ trong lòng hồ và kênh dẫn trên 88,89%. Nhựa PP (Polypropylene) được tìm thấy rơi vãi xung quanh hồ với 76,67%; nhựa PET (Polyethylene terephthalate) được tìm thấy xung quanh kênh dẫn với 46,51%. Nhựa PET tích tụ trong lòng hồ nhiều nhất, chiếm 38,08% và nhựa PP tích tụ trong kênh dẫn chiếm 50%. Các giải pháp cần thực hiện như: Tuyên truyền, hướng dẫn người dân hạn chế vứt rác bừa bãi cũng như tăng mật độ thùng rác công cộng xung quanh hồ. Bên cạnh đó, tăng cường ý thức của người dân sử dụng vật liệu thân thiện môi trường nhằm giảm thiểu rác thải nhựa. Giải pháp quản lý bền vững, đồng bộ bằng cách tăng cường tái chế rác thải nhựa, sau khi định kỳ thu gom làm sạch hồ, cần được xem xét trong bối cảnh nền kinh tế tuần hoàn như hiện nay.








