Số 10 (2025)
Bài viết
-
ẢNH HƯỞNG CỦA VI KHUẨN QUANG DƯỠNG KHÔNG LƯU HUỲNH MÀU TÍA LÊN NĂNG SUẤT VÀ HẤP THU ARSEN VÀO HẠT LÚA
Abstract : 1566 PDF: 0Ô nhiễm arsen (As) trong nước và đất dẫn đến sự nhiễm As vào cây trồng, đặc biệt là cây lúa. Nghiên cứu khả năng hạn chế sự hấp thu As cũng như cải thiện năng suất của các chủng vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía (PNSB) đối với lúa để có thể ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp. Kết quả cho thấy, PNSB không ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm, nhưng tăng sự phát triển mầm và rễ mầm. Năng suất lúa dao động từ 12,46 - 24,78 g/chậu và có sự khác biệt ý giữa các nghiệm thức. Hỗn hợp các chủng W47 + S29 + W22 + W25 cho năng suất cao nhất trong môi trường có As3+ nhưng không giảm As hấp thu vào hạt. Các chủng PNSB: W44, W14, W4.3, W25 đơn và hỗn hợp các chủng cho hiệu quả giảm lượng As hấp thu vào hạt lúa trong môi trường có độc chất As5+ (3,36 - 6,83 mg/kg) so với nghiệm thức đối chứng As5+ (10,5 mg/kg). Kết quả cho thấy, có thể sử dụng PNSB để hạn chế As hấp thu vào trong hạt lúa và cải thiện năng suất lúa.
-
TÌNH HÌNH CANH TÁC, QUẢN LÝ DỊCH HẠI VÀ GIẢI PHÁP SẢN XUẤT MÍT TẠI CÁC VÙNG SINH THÁI NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Abstract : 1455 PDF: 0Cây mít (Artocarpus heterophyllus Lam.) là cây ăn quả truyền thống và có từ rất lâu đời ở Việt Nam. Hiện nay cả nước ghi nhận được 6 giống mít (bao gồm 3 giống nhập nội và 3 giống địa phương). Ghi nhận 15 loài sâu và 10 loại bệnh hại trên các giống mít. Trong đó, loài sâu đục quả (Glyphodes sp.) và loài rệp sáp giả đuôi dài (Pseudococcus sp.) với mức độ gây hại rất phổ biến (++++). Đối với loại bệnh hại, bệnh thối đen quả (Lasiodiplodia theobromae Griffon & Maubl.), bệnh đen xơ mít (Pantoea stewartii), bệnh thối thân xì mủ (Phytophthora sp.) và bệnh lõm thân khô cành (Rugonectria sp.) cũng hiện diện gây hại từ mức phổ biến trở lên. Để quản lý các loài sâu, bệnh hại, người dân sử dụng đa dạng các loại thuốc bảo vệ thực vật khác nhau để xử lý (8 loại). Tuy nhiên, số lần xử lý không được như mong muốn, số lần xử lý chỉ từ 0 - 5 lần trong năm, các loài sâu, bệnh hại vẫn gây hại nặng, ảnh hưởng tới sản xuất. Diện tích mít hầu hết đều được trồng xen canh với các cây trồng khác (chiếm từ 70,4 - 99,6%) tại các địa phương. Về tình hình sử dụng phân bón, vẫn đảm bảo được so với quy trình kỹ thuật. Thời gian bón phân tập trung vào mùa mưa từ tháng 5 - 10 hàng năm. Tình hình sâu, bệnh hại diễn biến phức tạp là vấn đề gây khó khăn nhất cho người dân. Bên cạnh đó, giá bán mít thấp hơn các loại quả khác như: Sầu riêng, măng cụt, xoài… cũng là những băn khoăn của người dân. Việc đưa ra các giải pháp nhằm phát triển giá trị cây mít được tăng cao tại Việt Nam như: Xây dựng các kênh tiêu thụ, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP; liên kết các hộ nông dân với nhau giúp tạo môi trường tiêu thụ ổn định, qua đó giúp nâng cao giá trị cây mít, tăng thu nhập cho nông dân và góp phần phát triển ngành nông sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
-
KHẢ NĂNG ỨC CHẾ CHỌN LỌC CỦA CHIẾT XUẤT LÁ SAO NHÁI VÀNG (Cosmos sulphureus Cav.) ĐỐI VỚI CỎ DẠI VÀ PHẢN ỨNG SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI
Abstract : 2114 PDF: 0Trong bối cảnh nhu cầu phát triển các giải pháp kiểm soát cỏ dại thân thiện với môi trường ngày càng gia tăng, nghiên cứu ứng dụng chiết xuất lá sao nhái vàng (Cosmos sulphureus Cav.) (LSNV) trong điều kiện nhà lưới cho thấy, tiềm năng phát triển chất diệt cỏ sinh học thân thiện môi trường. Thí nghiệm sử dụng dịch chiết methanol từ LSNV đánh giá hiệu quả ức chế ba loài cỏ dại phổ biến là cỏ lồng vực nước (Echinochloa crus-galli), cỏ đuôi phụng (Leptochloa chinensis), cỏ chác (Fimbristylis miliacea) và tác động đến giống lúa OM5451. Kết quả cho thấy, chiết xuất LSNV ảnh hưởng đáng kể đến sự sinh trưởng của cỏ theo thời gian xử lý và nồng độ. Ở 0,96 g/mL, chiều cao E. crus-galli giảm còn 29,80 cm sau 14 ngày và duy trì mức thấp đến 28 ngày sau xử lý (NSXL). L. chinensis và F. miliacea cũng cho thấy, ức chế mạnh ở nồng độ ≥ 0,48 g/mL. Ngoài ra, sinh khối tươi của cả ba loài cỏ giảm 58,92 -71,23% tại 0,96 g/mL (28 NSXL), đi kèm với sự suy giảm rõ rệt tỷ lệ tăng trưởng tương đối (GR). Đáng chú ý, lúa OM5451 phản ứng tích cực ở nồng độ thấp, với chiều cao đạt 59,85 cm tại 0,03 g/mL, cao hơn đối chứng. Tuy nhiên, ở nồng độ cao hơn (0,96 g/mL), lúa bị ức chế sinh trưởng. Như vậy, LSNV có tiềm năng vừa ức chế cỏ dại hiệu quả ở nồng độ ≥0,24 g/mL, vừa có thể kích thích lúa phát triển ở nồng độ thấp hơn.
-
XÁC ĐỊNH NẤM GÂY BỆNH THỐI ĐEN ĐẦU TRÁI BƠ VÀ KHẢ NĂNG KIỂM SOÁT BỆNH CỦA VẬT LIỆU CHITOSAN
Abstract : 1815 PDF: 0Bệnh thối đen đầu trái bơ là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến thất thoát sản lượng trái bơ tươi sau thu hoạch. Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định tác nhân gây bệnh thối đen đầu quả bơ và thử nghiệm sử dụng các vật liệu chitosan để kiểm soát mầm bệnh trong điều kiện phòng thí nghiệm. Nội dung nghiên cứu gồm phân lập, định danh, lây nhiễm nhân tạo nấm gây bệnh và đánh giá hiệu lực ức chế, diệt trừ nấm bệnh của các vật liệu chitosan khác nhau. Kết quả nghiên cứu đã xác định được loài Lasiodiplodia theobromae gây bệnh thối đen đầu trái bơ sau thu hoạch với các triệu chứng điển hình là phần vỏ ở đầu cuống trái bị nâu đen với rìa vết bệnh ghồ ghề, các mạch dẫn bị hóa nâu, thịt trái bị mềm và có màu nâu. Phức chitosan I2 với nồng độ 1.500 ppm có khả năng ức chế, diệt trừ được nấm bệnh L. theobromae, hiệu lực đạt 100% đối với nấm bệnh nuôi cấy trên môi trường PDA và đạt 81,94% đối với bệnh thối đen đầu trái bơ khi lây nhiễm nhân tạo.
-
ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT VÀ HIỆU SUẤT CHUYỂN HÓA SINH HỌC CỦA NẤM ĐÔNG TRÙNG HẠ THẢO (Cordyceps militaris) TRÊN CƠ CHẤT KHOAI LANG
Abstract : 1897 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm tuyển chọn cơ chất bổ sung khoai lang để nuôi trồng nấm đông trùng hạ thảo (Cordyceps militaris) đạt sản lượng nấm tươi và hiệu suất chuyển hóa sinh học cao. Trong số 8 môi trường nhân giống cấp 1, C. militaris phát triển hệ sợi nhanh nhất trên môi trường Martin’s peptone dextrose agar (MPDA; dextrose 10 g/l, peptone 5 g/l, MgSO4 × 7H2O 0,5 g/l, KH2PO4 1 g/l, agar 20 g/l, pH 6,0) sau 28 ngày ủ. Khối lượng khô hệ sợi đạt 13,5 - 13,7 g/l sau 144 giờ nhân giống trên môi trường YM bổ sung khoáng. Trong thử nghiệm đánh giá sự phát triển của C. militaris trên 5 loại cơ chất khoai lang gồm: Khoai lang trắng, khoai lang vàng, khoai lang tím, khoai lang như ngọc và khoai lang sữa, tuyển chọn được cơ chất khoai lang sữa với khối lượng quả thể tươi và hiệu suất chuyển hóa sinh học cao nhất đạt 18,2 ± 0,7 g/hộp và 41,0 ± 1,1%. Cơ chất có tỷ lệ phối chế giữa gạo huyết rồng và khoai lang sữa là 2 : 1, đạt tổng số lượng mầm 82,3 ± 0,6 mầm/hộp, khối lượng nấm tươi 49,6 ± 0,2 g/hộp và hiệu suất chuyển hóa sinh học 58,6 ± 1,0%. Hàm lượng hoạt chất adenosine và cordycepin quả thể khô đạt 2.147 mg/kg và 914 mg/kg, khác biệt không đáng kể so với mẫu đối chứng.
-
THU NHẬN PROTEIN TỪ VI TẢO Chlorella vulgaris BẰNG CÔNG NGHỆ KẾT HỢP ENZYME THỦY PHÂN KẾT HỢP VÀ SIÊU ÂM
Abstract : 2091 PDF: 0Với nhiều ưu điểm như: Hiệu quả, thân thiện với môi trường, có khả năng ứng dụng ở quy mô công nghiệp, siêu âm và enzyme là những công nghệ tiềm năng, được chú ý nghiên cứu và ứng dụng trong sản xuất protein từ thực vật, bao gồm từ vi tảo. Mục tiêu của nghiên cứu này là nghiên cứu phối hợp công nghệ siêu âm và enzyme thương phẩm (viscozyme và flavourzyme) trích ly protein từ vi tảo Chlorella vulgaris, một trong những nguồn cung cấp protein và peptide chức năng dồi dào cho công nghiệp thực phẩm. Các công đoạn được nghiên cứu và tối ưu hóa gồm: Phá vỡ tế bào bằng siêu âm, hỗ trợ trích ly protein bằng viscozyme và trích ly protein bằng flavourzyme. Điều kiện siêu âm phá tế bào sau nghiên cứu tối ưu là pH 8, nhiệt độ 50°C, thời gian siêu âm 40 phút và tỷ lệ vi tảo/nước 100 g/L. Phương pháp bề mặt đáp ứng và mô hình I-optimal được áp dụng để tối ưu hóa điều kiện thủy phân, phá tế bào bằng viscozyme và trích ly protein bằng flavourzyme. Điều kiện tối ưu cho thủy phân phá tế bào và hỗ trợ trích ly protein bằng viscozyme là: pH 6, nhiệt độ 50°C, thời gian 90 phút và nồng độ enzyme 0,75%. Điều kiện tối ưu cho trích ly protein bằng flavourzyme là: pH 6,8, nhiệt độ 50°C, thời gian 2,5 giờ, tốc độ khuấy 380 vòng/phút và nồng độ (NH4)2SO4 là 2,8%. Tỷ lệ tế bào bị phá vỡ sau quá trình xử lý bằng siêu âm và viscozyme đạt 73,45%. Hiệu suất trích ly protein từ Chlorella vulgaris Việt Nam sử dụng flavourzyme đạt 76%, với mức độ thủy phân DH là 37,53%. Kết quả của nghiên cứu khả thi, có khả năng ứng dụng ở quy mô công nghiệp và làm nguyên liệu sản xuất sản phẩm chức năng từ protein vi tảo Chlorella vulgaris.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM IMUNO-ONE ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei)
Abstract : 1801 PDF: 0Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tác động của chế phẩm Imuno-One đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei). Thí nghiệm bao gồm 7 nghiệm thức, trong đó nghiệm thức đối chứng (ĐC) sử dụng thức ăn công nghiệp không bổ sung Imuno-One và 6 nghiệm thức thí nghiệm (IO1, IO2, IO3, IO5, IO7,5, IO10) tương ứng với các liều lượng Imuno-One là 1; 2; 3; 5; 7,5 và 10 mL/kg thức ăn, thí nghiệm được lặp lại 3 lần. Tôm thẻ chân trắng với khối lượng ban đầu từ 0,76 - 0,81 g/con, được nuôi trong các bể nhựa có thể tích 120 L, chứa 80 L nước, mật độ 50 con/bể. Sau 30 ngày nuôi kết quả cho thấy, nghiệm thức bổ sung 7,5 mL (IO7,5) và 10 mL/kg thức ăn (IO10) có tốc độ tăng trưởng về khối lượng và chiều dài tốt hơn so với các nghiệm thức còn lại (p < 0,05). Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) của tôm ở nghiệm thức IO7,5 thấp nhất (0,94), thấp hơn đáng kể so với các nghiệm thức khác (p < 0,05) nhưng không có sự khác biệt giữa nghiệm thức IO7,5 và IO10 (p < 0,05). Tỷ lệ sống của tôm không có sự sai khác giữa các nghiệm thức (p > 0,05). Do đó, bổ sung Imuno-One liều dùng 7,5 và 10 mL/kg thức ăn cho kết quả tăng trưởng tốt nhất và nên được khuyến cáo áp dụng trong thực tế.
-
ĐÁNH GIÁ BƯỚC ĐẦU TÍNH KHẢ THI CỦA BÈ NỔI THỰC VẬT TRONG VIỆC CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG NƯỚC THẢI NÔNG NGHIỆP TẠI TRẠI LÚA GIỐNG TỈNH VĨNH LONG
Abstract : 1346 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm bước đầu đánh giá tính khả thi của mô hình bè nổi thực vật trong kiểm soát ô nhiễm nước thải nông nghiệp để có thêm thông tin minh chứng cho giải pháp xử lý nước bằng thực vật kết hợp tạo cảnh quan. Bốn loài cây Bách thủy tiên (Echinodurus cordiforlius), Thủy trúc (Cyperus alternifolius), Chuối hoa (Canna generalis) và Chuối mỏ két (Heliconia psittacorum) được trồng trên bè nổi có diện tích 2 m2 với tổng cộng 6 bè nổi đã được đặt tại đoạn kênh dẫn nước thải từ ruộng lúa của trại lúa giống. Các thông số môi trường nước được đánh giá định kỳ 2 tuần/lần; sinh trưởng của cây được đánh giá mỗi tháng và sinh khối cây được cắt tỉa sau mỗi 2 tháng và xác định lượng N, P cây hấp thu. Kết quả cho thấy, mô hình bè nổi thử nghiệm đã góp phần hấp thu đạm và lân trong nước thải. Chất lượng nước tại khu vực thử nghiệm sau khi đi qua các bè nổi đều có xu hướng giảm so với vị trí đầu vào, ngoại trừ vị trí 6, do vị trí này nằm ngay cống xả nước thải sinh hoạt của công nhân viên làm việc tại đây dẫn đến hàm lượng các chất ô nhiễm có xu hướng tăng trở lại. Thông số pH và TP tại các vị trí khảo sát đều nằm trong giới hạn cho phép của bảng 2, mức B, QCVN 08:2023/BTNMT, hàm lượng DO và COD mặc dù được cải thiện sau khi đi qua các bè nổi tuy nhiên vẫn chưa đạt giới hạn cho phép. Các loài thực vật nghiên cứu thử nghiệm sinh trưởng và phát triển qua việc tăng trưởng chiều cao và khối lượng cây. Chiều cao cây trung bình của cây Chuối hoa, Chuối mỏ két, Bách thủy tiên, Thủy trúc đầu vào lần lượt là 45,0 ± 2,0; 46,0 ± 2,0; 26,0 ± 2,0; 30,0 ± 0 cm, sau mỗi tháng chiều cao tăng lên 54,7; 49,1; 26,4; 57,8 cm, tăng tương ứng gấp 1,2; 1,06; 1,02; 1,9 lần; khối lượng cây tăng thêm lần lượt là 76,4; 58,9; 7,7; 121,1 g/cây. Ước tính sau mỗi 2 tháng, cây đã hấp thu trung bình 4,37 - 29,5 g N/m2 (26,2 - 177,1 g N/m2/năm); 0,35 - 3,26 g P/m2 (2,1 - 19,6 g P/m2/năm).
-
THỰC TRẠNG PHÁT SINH VÀ GIẢI PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN CHĂN NUÔI LỢN TẠI HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
Abstract : 2008 PDF: 0Nghiên cứu này áp dụng kỹ thuật kiểm toán chất thải cho quy trình chăn nuôi để đánh giá thực trạng phát sinh chất thải và đề xuất giải pháp quản lý chất thải phù hợp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, theo chu kỳ chăn nuôi lợn nái (200 ngày), mỗi con tiêu thụ 0,88 tấn thức ăn, 1,45 m3 nước uống, 5 mL vắc xin, thải ra 0,71 tấn phân và 15,34 m3 nước thải. Trong một chu kỳ chăn nuôi lợn thịt (210 ngày), mỗi con tiêu thụ 0,64 tấn thức ăn, 1,10 m3 nước uống, 4,5 ml vắc xin, thải ra 0,55 tấn phân và 7,08 m3 nước thải. Nước thải sau biogas có TSS vượt quy chuẩn 1,18 - 1,21 lần, tổng nitơ vượt quy chuẩn 1,12 lần, BOD5 vượt quy chuẩn 1,55 - 1,65 lần. Quản lý chất thải tại các trang trại có 36,6% theo mô hình VACB, 36,7% cơ sở thu gom và tái sử dụng chất thải rắn (CTR). CTR trong chăn nuôi lợn cần được xử lý theo hướng thu hồi tài nguyên để phù hợp với mục tiêu chăn nuôi bền vững và cụ thể hóa trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cũng như các văn bản hướng dẫn. Nghiên cứu này bước đầu tính toán được các đặc trưng chất thải trên từng chu trình chăn nuôi, các nghiên cứu sâu về tái sử dụng vật chất, tạo giá trị kinh tế từ dòng chất thải sẽ được tiếp tục nghiên cứu.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT ĐẾN NGƯỜI DÂN: NGHIÊN CỨU TẠI DỰ ÁN WHA INDUSTRIAL ZONE 1 TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
Abstract : 1848 PDF: 0Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp giảm thiểu những ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến người dân có đất bị thu hồi trong giai đoạn 1 tại dự án WHA Industrial Zone 1 trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Nghiên cứu đã tiến hành điều tra 100 hộ bị thu hồi đất tại dự án đã chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Sử dụng phương pháp so sánh và dùng thang đo 5 cấp của Likert để đánh giá thực trạng và ảnh hưởng của thu hồi đất đến đời sống người dân. Về cơ bản, thu hồi đất đã thực hiện đúng tiến độ, đúng pháp luật và được đại đa số người bị thu hồi đất đồng ý. Công tác thu hồi đất được đánh giá qua 15 tiêu chí, trong đó 2/15 tiêu chí đánh giá ở mức trung bình, 8/15 tiêu chí đánh giá ở mức tốt, 5/15 tiêu chí đánh giá ở mức rất tốt. Một số tồn tại như: Phương án bồi thường chủ yếu bằng tiền; giá bồi thường về đất và tài sản trên đất thấp; hỗ trợ tìm kiếm việc làm và khả năng tìm kiếm việc làm của người bị thu hồi đất thấp; chưa có định hướng sử dụng hiệu quả các khoản tiền bồi thường, hỗ trợ. Đã đề xuất các giải pháp để giảm thiểu ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến người dân có đất bị thu hồi.








