Số 7 (2026)
Bài viết
-
ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ BA (6-benzyl-adenine) ĐẾN SỰ NHÂN NHANH CHỒI CÂY NGÃI(Kaempferia sp.) IN VITRO
Abstract : 11 PDF: 0Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của nồng độ 6-benzyladenine (BA) đến sự nhân nhanh chồi cây Ngãi (Kaempferia sp.) in vitro nhằm cung cấp dữ liệu ban đầu, làm cơ sở cho chọn giống và nhân giống quy mô lớn. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức (môi trường MS bổ sung BA ở nồng độ 0,50; 1,00; 1,50 và 2,00 mg/L), mỗi nghiệm thức 3 mẫu cấy và 5 lần lặp lại. Sau 21 ngày nuôi cấy, môi trường MS bổ sung 2,00 mg/L BA cho số chồi cao nhất (4,20 chồi/mẫu) và chiều cao chồi lớn nhất (2,67 cm), tiếp theo là 1,50 mg/L (3,20 chồi; 2,19 cm), 1,00 mg/L (2,20 chồi; 1,76 cm) và thấp nhất ở 0,50 mg/L (1,60 chồi; 1,09 cm). Tỷ lệ nhiễm nấm thấp, ổn định và không ghi nhận nhiễm ở nồng độ 1,00 - 1,50 mg/L BA. Kết quả góp phần bổ sung dữ liệu thực nghiệm cho nguồn gene Kaempferia sp. địa phương tại Việt Nam.
-
KHẢO SÁT MỨC ĐỘ MẪN CẢM VÀ KHÁNG THUỐC DIỆT CỎ CYHALOFOP-BUTYL CỦA CỎ LỒNG VỰC (Echinochloa spp.) VÀ CỎ ĐUÔI PHỤNG (Dinebra spp.) TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP
Abstract : 14 PDF: 0Sự gia tăng nhanh chóng của cỏ lồng vực (Echinochloa spp.) và cỏ đuôi phụng (Dinebra spp.) có khả năng kháng thuốc diệt cỏ đang gây áp lực lên sản xuất lúa nói chung và ở đồng bằng sông Cửu Long nói riêng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá mức độ mẫn cảm và kháng thuốc diệt cỏ cyhalofop-butyl điển hình của các quần thể cỏ lồng vực (Echinochloa spp.) và cỏ đuôi phụng (Dinebra spp.) thu thập tại tỉnh Đồng Tháp, đồng thời định danh loài cỏ dại dựa trên chỉ thị phân tử ITS. Có 33 mẫu cỏ được xử lý với cyhalofop-butyl ở 3 mức liều lượng dựa trên liều lượng khuyến cáo (1X). Liều thuốc diệt cỏ được tăng lên 1,5 lần (1,5X), 2 lần (2X) và đối chứng là phun với nước (0X). Kết quả cho thấy, ở liều khuyến cáo, cyhalofop-butyl đạt độ hữu hiệu 81,34 - 100% đối với các mẫu cỏ mẫn cảm. Tuy nhiên, hiệu lực này sụt giảm mạnh trên nhóm cỏ kháng, đặc biệt là mẫu L18 với độ hữu hiệu chỉ đạt 33,46%. Xét trên số lượng mẫu, có 69,7% (23/33 mẫu) mẫn cảm, trong khi 30,3% số mẫu còn lại xuất hiện tính kháng ở các mức độ khác nhau. Đặc biệt, hai mẫu cỏ L11 và L18 duy trì khả năng sống sót cao ngay cả khi tăng liều lên 2X. Phân tích vùng gen ITS xác định các biotype kháng thuốc thuộc loài Dinebra chinensis. Đáng chú ý, mẫu L24 có sự tách nhóm di truyền rõ rệt (tương đồng cao với D. panicea) và vẫn duy trì sự mẫn cảm với thuốc. Nghiên cứu phản ánh thực trạng diễn tiến tính kháng của cỏ đuôi phụng tại địa phương, cung cấp cơ sở cho việc điều chỉnh chiến lược quản lý cỏ dại bền vững.
-
PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN CHỦNG VI KHUẨN Bacillus thuringiensis TỔNG HỢP ENZYME CHITINASE TỪ ĐẤT TRỒNG RAU TẠI XÃ BA BỂ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Abstract : 11 PDF: 0Nhằm mục đích tuyển chọn chủng Bacillus thuringiensis (Bt) có hoạt tính chitinase cao và xác định một số điều kiện nuôi cấy phù hợp, nghiên cứu tập trung vào phân lập, tuyển chọn, định danh chủng Bt có hoạt tính phân giải chitin từ đất trồng rau tại xã Ba Bể, tỉnh Thái Nguyên và xác định điều kiện nuôi cấy phù hợp cho tổng hợp chitinase. Kết quả nghiên cứu đã phân lập được 6 chủng vi khuẩn có khả năng phân giải chitin với đường kính vòng phân giải đạt 0,54 - 2,35 cm và xác định được chủng BT-16 có hoạt độ chitinase mạnh nhất, đạt 1,52 U/mL. Từ kết quả nghiên cứu trình tự 16S rRNA, chủng BT-16 được định danh thuộc loài Bacillus thuringiensis gv. thuringiensis và đặt tên là Bacillus thuringiensis gv. thuringiensis BT-16. Chủng BT-16 có hoạt độ chitinase cao nhất, đạt 17,51 U/mL sau 3 ngày nuôi cấy trong môi trường LB có bổ sung 1,5% chitin, 0,5% galactose ở nhiệt độ 35oC và pH = 7,0. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chủng BT-16 có tiềm năng ứng dụng để sản xuất thuốc trừ sâu sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp an toàn và bền vững.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA GIẢO CỔ LAM (Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino) TẠI XÃ TAM ĐẢO, TỈNH PHÚ THỌ
Abstract : 11 PDF: 0Giảo cổ lam là một loại thảo dược phổ biến trong điều trị giảm mỡ máu, huyết áp và đái tháo đường. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6 - 10/2025 tại Trung tâm Nghiên cứu Dược liệu Tam Đảo. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD), 3 lần nhắc lại và 11 công thức (nước sạch; sử dụng đạm tôm ở các mức: 1, 2, 3, 4 và 5 lít/ha; sử dụng Oligochitosan ở các mức: 1, 2, 3, 4 và 5 lít/ha). Kết quả nghiên cứu cho thấy, phân bón lá có ảnh hưởng đến tăng trưởng chiều dài thân chính, số lá trên thân chính, năng suất và chất lượng của cây giảo cổ lam. Đối với đạm tôm, sử dụng ở liều lượng 3 lít/ha cho hiệu quả tốt nhất đến sinh trưởng, năng suất, hàm lượng saponin tổng số và hiệu quả kinh tế. Đối với phân bón lá Oligochitosan, sử dụng ở liều lượng 4 lít/ha cho hiệu quả tốt đến sinh trưởng, năng suất, hàm lượng saponin tổng số và hiệu quả kinh tế tốt nhất. Kết quả nghiên cứu đã xác định được ngưỡng liều lượng tối ưu khi sử dụng phân bón lá đạm tôm và Oligochitosan một cách hợp lý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng của giảo cổ lam.
-
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA NANO SẮT XITRAT LÀM PHÂN BÓN VI LƯỢNG ĐỐI VỚI SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA DƯA CHUỘT (Cucumis sativus) VÀ CÀ CHUA (Solanum lycopersicum L.) TRỒNG TRÊN GIÁ THỂ TRONG NHÀ LƯỚI
Abstract : 16 PDF: 0Hiện nay, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về phân bón sắt, nhưng các thử nghiệm có hệ thống trên cây rau lấy quả như cà chua và dưa chuột trồng trên giá thể trong nhà lưới, so sánh trực tiếp hiệu quả của nano sắt xitrat (FeCit) với các nguồn sắt truyền thống như FeSO4 và Fe-EDDHA về sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng quả vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của các nồng độ nano sắt xitrat (FeCit) khác nhau đối với chỉ tiêu sinh trưởng (SPAD, chiều cao cây, khối lượng sinh khối), sinh thực (số lượng hoa), năng suất và các chỉ số chất lượng quả của dưa chuột (Cucumis sativus) và cà chua (Solanum lycopersicum L.) trồng trên giá thể trong nhà màng. Kết quả cho thấy nano FeCit có khả năng cải thiện sinh trưởng sinh dưỡng, sinh trưởng sinh thực và chất lượng quả của cả hai loài cây. Ở dưa chuột, nano FeCit 2,5 ppm (CT2) thúc đẩy quá trình ra hoa và đạt năng suất trung bình cao hơn so với đối chứng, trong khi nồng độ cao hơn 5 ppm (CT3) chỉ cải thiện nhẹ các chỉ tiêu. Ở cà chua, nano FeCit 0,9 ppm (CC3) duy trì SPAD, hỗ trợ phát triển lá, thân và rễ, đồng thời tăng số quả trung bình, năng suất cá thể, hàm lượng carotenoit tổng số và độ Brix mà không làm thay đổi hình thái quả. Những kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tối ưu hóa dạng và nồng độ nano sắt nhằm nâng cao hiệu quả hấp thu sắt, cải thiện năng suất và chất lượng quả. Đồng thời, nano FeCit cho thấy tiềm năng thay thế sắt chelate (có càng) thương mại, mở ra hướng ứng dụng trong các hệ thống nông nghiệp công nghệ cao và canh tác nhà lưới, góp phần nâng cao giá trị dinh dưỡng và phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ PHỐI TRỘN BỘT NỀN VÀ HYDROCOLLOID ĐẾN ĐẶC TÍNH CỦA BỘT ÁO CHO VIÊN NUGGET THỰC VẬT
Abstract : 9 PDF: 0Nghiên cứu này tập trung giải quyết các hạn chế về đặc tính kết cấu và khả năng hấp thụ dầu cao của lớp vỏ bột áo cho sản phẩm nugget thực vật bằng cách tối ưu hóa công thức bột nền và hệ phụ gia hydrocolloid. Quá trình nghiên cứu được thực hiện theo 02 giai đoạn: Xác định tỷ lệ phối trộn bột mì - bột gạo - bột bắp và đánh giá hiệu quả của các tổ hợp hydrocolloid (methylcellulose, xanthan gum, guar gum). Kết quả cho thấy, công thức bột nền gồm 50% bột mì, 40% bột gạo và 10% bột bắp đạt sự cân bằng tốt nhất về độ nhớt và tính chất cơ lý, với độ giòn đạt 18,00 ± 1,97 N. Việc bổ sung các hydrocolloid giúp làm tăng đáng kể hiệu suất chế biến, khả năng giữ ẩm và giảm đáng kể lượng dầu giữ lại trong dịch bột áo. Dịch bột áo bổ sung 0,25% methylcellulose và 0,75% guar gum là công thức tốt nhất, đạt hiệu suất chế biến cao nhất (90,88 ± 1,87%), khả năng giữ ẩm cao (1,08 ± 0,02 g/g ck) và hàm lượng chất béo tổng thấp (0,107 ± 0,007g/g ck), trong khi có sự ổn định màu sắc (ΔE = 2,36 ± 0,34). Kết quả của nghiên cứu này đã cung cấp cơ sở khoa học và thông số công nghệ để thiết kế công thức lớp bột áo bổ sung hydrocolloid giúp giảm hấp thụ dầu, tăng giữ ẩm và duy trì đặc tính kết cấu và màu sắc của sản phẩm nugget thực vật, từ đó nâng cao tiềm năng thị trường của sản phẩm này.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN NẢY MẦM ĐẾN THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG, HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA VÀ CHẤT LƯỢNG CẢM QUAN CỦA BỘT ĐẬU NÀNH (Glycine max (L.) Merrill)
Abstract : 16 PDF: 0Nghiên cứu này đánh giá tác động của quá trình nảy mầm đến thành phần dinh dưỡng, các hợp chất có hoạt tính chống oxy hóa và chất lượng cảm quan của bột đậu nành. Quá trình nảy mầm được thực hiện ở nhiệt độ 25oC, trong điều kiện tối, với các khoảng thời gian 0, 12, 24, 36, 48, 60 giờ. Kết quả cho thấy, quá trình nảy mầm làm gia tăng đáng kể hàm lượng protein và giảm hàm lượng lipid. Các hợp chất có hoạt tính chống oxy hóa như: Vitamin C, α–tocopherol, phenolic tăng đáng kể theo thời gian nảy mầm dẫn đến cùng với hoạt tính chống oxy hóa cũng tăng thể hiện qua giá trị IC50 của bột đậu nành giảm rõ rệt trong quá trình nảy mầm. Chất lượng cảm quan của bột đậu nành cũng bị ảnh hưởng bởi thời gian nảy mầm hạt. Đậu nành được nảy mầm trong tối đa 36 giờ, chất lượng cảm quan của bột đậu nành vẫn duy trì tốt, nên được xem như thời gian nảy mầm thích hợp chế biến bột đậu nành nảy mầm. Bột đậu nành nảy mầm trong 36 giờ có hàm lượng protein, lipid và đường khử lần lượt là 41,52; 18,87; 5,95%, đạt hiệu suất thu hồi chất khô 92,8%. Bột thành phẩm có hàm lượng vitamin C, α–tocopherol, hợp chất phenolic và giá trị IC50 lần lượt là 5,97 mg/g; 0,19 mg/g; 5,28 mg GAE/g và 10,1 mg/mL. Quá trình nảy mầm đã cải thiện giá trị dinh dưỡng và hoạt tính chống oxy hóa của bột đậu nành, đồng thời thấy được tiềm năng ứng dụng của bột đậu nành nảy mầm vào các sản phẩm thực phẩm giàu protein và hoạt tính sinh học.
-
NGHIÊN CỨU TÍNH CHẤT HOÁ LÝ VÀ HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HOÁ CỦA MẬT ONG HOA DỪA VÀ MẬT HOA DỪA CÔ ĐẶC CÓ NGUỒN GỐC TỪ TỈNH BẾN TRE (CŨ), NAY LÀ TỈNH VĨNH LONG
Abstract : 12 PDF: 0Nghiên cứu này nhằm so sánh các tính chất hóa lý, thành phần hoạt chất sinh học và khả năng chống oxy hóa của mật ong hoa dừa và mật hoa dừa cô đặc có nguồn gốc từ tỉnh Bến Tre (cũ), nay là tỉnh Vĩnh Long. Mười hai mẫu đại diện cho hai nhóm sản phẩm đã được phân tích theo các chỉ tiêu: Độ ẩm, axit tự do, HMF, diastase, đường tổng, saccharose, màu sắc, phenolic tổng, flavonoid tổng và hoạt tính chống oxy hóa. Kết quả cho thấy, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai sản phẩm ở hầu hết các chỉ tiêu. Mật ong hoa dừa thể hiện độ ẩm thấp (18,3%) và hàm lượng saccharose thấp (4,8%); hoạt tính enzyme diastase (3,0 °DN) và hàm lượng phenolic - flavonoid cao; cùng khả năng quét gốc tự do DPPH vượt trội. Ngược lại, mật hoa dừa cô đặc có hàm lượng HMF cao (174,2 mg/kg) và saccharose rất cao (45,7%), màu sẫm hơn (123,5 mm Pfund) và giá trị FRAP lớn, phản ánh ảnh hưởng mạnh của quá trình cô đặc nhiệt. Phân tích thành phần chính (PCA) cho thấy, có thể phân tách hoàn toàn hai nhóm mẫu, với các biến đặc trưng cho mật ong hoa dừa và mật hoa dừa cô đặc. Những kết quả này cung cấp bằng chứng rõ ràng về sự khác biệt bản chất giữa hai sản phẩm và đề xuất các chỉ tiêu quan trọng có thể dùng để nhận diện và kiểm soát chất lượng.
-
CHUYỂN DỊCH MÔ HÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NƯỚC TẠI VIỆT NAM SANG GIÁM SÁT DỰA TRÊN DỮ LIỆU SỐ THỜI GIAN THỰC
Abstract : 24 PDF: 0Nghiên cứu này phân tích quá trình chuyển đổi số trong công tác quản lý môi trường nước tại Việt Nam thông qua việc nghiên cứu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, với trọng tâm là Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và Luật Tài nguyên nước năm 2023. Bằng phương pháp phân tích chính sách, nghiên cứu làm sáng tỏ sự thay đổi căn bản trong tư duy lập pháp từ kiểm soát nồng độ ô nhiễm đơn thuần qua lấy mẫu định kỳ sang kiểm soát tổng tải lượng dựa trên hệ thống quan trắc tự động, liên tục và dữ liệu thời gian thực. Đồng thời, làm rõ nguyên tắc xác định tổng tải lượng, thông qua việc tích hợp nồng độ chất ô nhiễm và lưu lượng xả thải. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, việc ban hành Nghị định số 05/2025/NĐ-CP và Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia mới vừa chuẩn hóa dữ liệu đầu vào, vừa cung cấp cơ sở pháp lý vững chắc cho cơ chế xử phạt vi phạm hành chính dựa trên chứng cứ điện tử. Nghiên cứu cho thấy, việc tích hợp dữ liệu quan trắc nguồn thải và môi trường xung quanh vào hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất là giải pháp then chốt để chuyển dịch từ ứng phó sự cố thụ động sang kiểm soát chủ động nguồn ô nhiễm, phục vụ hiệu quả cho quản trị sức chịu tải lưu vực sông và phát triển kinh tế tuần hoàn.
-
SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐA MỤC ĐÍCH TẠI HUYỆN ĐỨC TRỌNG (CŨ), TỈNH LÂM ĐỒNG: THỰC TRẠNG, THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP
Abstract : 28 PDF: 0Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, áp lực gia tăng dân số và yêu cầu phát triển nông thôn bền vững, việc sử dụng đất nông nghiệp đa mục đích (SDĐNNĐMĐ) trở thành xu hướng tất yếu nhằm tối ưu hóa nguồn lực đất đai, đa dạng hóa sinh kế và giảm thiểu rủi ro môi trường. Mặc dù đã được nghiên cứu ở nhiều quốc gia, tại Việt Nam, các phân tích toàn diện về hiệu quả và các yếu tố tác động đến mô hình này vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở huyện Đức Trọng (cũ), tỉnh Lâm Đồng - khu vực có tiềm năng lớn về nông nghiệp kết hợp dịch vụ. Mục đích nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng, đánh giá hiệu quả và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến SDĐNNĐMĐ, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp với điều kiện địa phương. Khảo sát ngẫu nhiên 120 hộ gia đình (HGĐ) trong giai đoạn 2022 - 2024 được tiến hành bằng thang đo Likert 5 mức độ kết hợp phân tích SWOT. Kết quả cho thấy, diện tích SDĐNNĐMĐ tăng từ 142,24 ha lên 187,78 ha, số hộ tham gia tăng từ 317 hộ lên 348 hộ. Hiệu quả sử dụng đất đạt mức cao với điểm trung bình 4,17 điểm, trong đó hiệu quả kinh tế nổi bật nhất, đồng thời các khía cạnh xã hội và môi trường cũng được cải thiện. Phân tích các yếu tố tác động đến mô hình xác định nhân lực và chính sách - pháp luật là hai nhóm ảnh hưởng mạnh nhất, tiếp theo là điều kiện tự nhiên, thị trường - công nghệ và vốn đầu tư. Các giải pháp đề xuất tập trung vào hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao chất lượng nhân lực, cải thiện cơ chế vốn, khai thác lợi thế tự nhiên và tăng cường liên kết thị trường - công nghệ. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách và nhân rộng mô hình ở những địa phương khác có điều kiện tương tự.








