Số 5 (2025)
Bài viết
-
KẾT QUẢ CHỌN LỌC PHỤC TRÁNG GIỐNG LÚA NẾP HẠT CAU ĐẶC SẢN TẠI TỈNH THANH HÓA
Abstract : 375 PDF: 0Giống lúa nếp Hạt Cau là giống đặc sản cổ truyền của tỉnh Thanh Hóa, có thời gian sinh trưởng 150 - 158 ngày. Gạo trắng đục, dẻo thơm, được người tiêu dùng ưa chuộng. Năng suất trung bình 35 - 38 tạ/ha, năng suất cao có thể đạt 42 - 45 tạ/ha. Quá trình phục tráng giống lúa nếp Hạt Cau được thực hiện tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá từ vụ mùa năm 2020 đến vụ mùa năm 2022 theo TCVN 12181:2018. Kết quả phục tráng vụ thứ nhất (vụ mùa năm 2020) chọn được 101 dòng G0; vụ thứ 2 (vụ mùa năm 2021) chọn được 24 dòng G1 và vụ thứ 3 (vụ mùa năm 2022) chọn được 11 dòng G2 có độ đồng đều cao, thời gian sinh trưởng 155 ngày, chiều cao thân trung bình đạt 128,5 cm, chiều dài trục bông chính trung bình đạt 28,1 cm, số bông/khóm trung bình đạt 5,5 bông, tổng số hạt chắc/bông trung bình đạt 129,6 hạt, khối lượng nghìn hạt trung bình 27,7 g, năng suất hạt trung bình 0,42 kg/m2, màu sắc hạt gạo lật trắng đục, có hương thơm. Các dòng này hoàn toàn phù hợp với các tính trạng đặc trưng theo bảng mô tả và đã hỗn dòng đạt khối lượng 2.500 kg, được Trung tâm Kiểm nghiệm và Chứng nhận chất lượng Nông, Lâm, Thủy sản tỉnh Thanh Hóa cấp phiếu kết quả thử nghiệm ngày 8/12/2022, mã số 38.SNC.M22.001 xác nhận hạt giống đạt cấp siêu nguyên chủng.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT NGÔ NẾP NÚI ĐÁ
Abstract : 1787 PDF: 0Ngô nếp núi đá là giống ngô thụ phấn tự do bản địa của người H’Mông vùng núi cao. Cũng như các giống ngô khác, mật độ trồng là một trong các yếu tố kỹ thuật quyết định năng suất của ngô nếp núi đá. Để xác định mật độ trồng phù hợp, thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của ngô nếp núi đá đã được thực hiện từ năm 2022 - 2024 với 5 công thức (CT): CT1 trồng 39.000 - 41.000 cây/ha; CT2 trồng 44.000 - 46.000 cây/ha; CT3 trồng 49.000 - 51.000 cây/ha (đối chứng); CT4 trồng 55.000 - 57.000 cây/ha; CT5 trồng 60.000 - 62.000 cây/ha với 3 lần nhắc lại. Kết quả cho thấy, mật độ trồng có ảnh hưởng đến chỉ số diện tích lá (LAI), các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất ngô nếp núi đá trong cả 3 năm thử nghiệm. Chỉ số diện tích lá (LAI) cao nhất khi trồng ở mật độ 60.000 - 62.000 cây/ha, thấp nhất khi trồng ở mật độ 39.000 - 41.000 cây/ha (CT1). Năng suất hạt khô cao nhất ở CT4 (trồng mật độ 55.000 - 57.000 cây/ha) là 2,96 tấn/ha năm 2022, 3,27 tấn/ha năm 2023 và 3,38 tấn/ha năm 2024 và sai khác có ý nghĩa so với CT1, CT2, CT3 ở mức độ tin cậy 95%, chênh lệch không đáng kể so với mật độ 60.000 - 62.000 cây/ha ở năm 2023 và năm 2024. Từ kết quả nghiên cứu trên cho thấy, với ngô nếp núi đá nên trồng ở mật độ 55.000 - 57.000 cây/ha (khoảng cách 70 x 25 cm) để thu hạt khô.
-
KẾT QUẢ PHỤC TRÁNG GIỐNG BÍ NẾP TẠI HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
Abstract : 1692 PDF: 0Nghiên cứu phục tráng giống bí nếp địa phương nhằm nâng cao năng suất và chất lượng giống bí xanh đặc sản của tỉnh Sơn La. Quá trình phục tráng được tiến hành qua 4 vụ tại xã Chiềng Mai, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, trong đó vụ đầu tiên tiến hành thụ phấn cưỡng bức, các vụ tiếp theo để quần thể thụ phấn tự do và đánh giá chọn lọc. Kết quả ở vụ 1 (vụ xuân hè năm 2022) đã chọn được 230 quả (của 230 cá thể); vụ 2 (vụ thu đông năm 2022), chọn được 203 quả (của 203 cá thể); vụ 3 (vụ xuân hè năm 2023) chọn được 192 quả (của 192 cá thể); vụ 4 (vụ thu đông năm 2023) chọn được 396 quả (của 202 cá thể). Hạt của các cá thể được thu, đựng trong túi riêng, bảo quản trong kho lạnh, sau đó hỗn lại tạo hạt giống gốc (hạt giống siêu nguyên chủng - SNC).
-
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢ CỦA MỘT SỐ GIỐNG BƯỞI TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Abstract : 1724 PDF: 0Nhằm tuyển chọn để bổ sung vào cơ cấu sản xuất một số giống bưởi mới có khả năng thích ứng cao trên địa bàn thành phố Hà Nội, góp phần rải vụ thu hoạch, nghiên cứu đánh giá khả năng sinh trưởng và chất lượng 10 giống bưởi có nguồn gốc tại thành phố Hà Nội và các địa phương bên ngoài được thực hiện từ năm 2018 đến năm 2023 tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cây có múi. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ, 3 lần nhắc lại, 5 cây/lần nhắc. Kết quả cho thấy, các giống bưởi đỏ Hòa Bình, bưởi hồng Quang Tiến, bưởi Diễn sớm, bưởi Xuân Vân, bưởi đường An Phú Đông có khả năng thích ứng cao với điều kiện sinh thái tại thành phố Hà Nội; thể hiện ở khả năng sinh trưởng tốt, ra hoa đậu quả ổn định, năng suất cao, chất lượng tốt. Cây 6 tuổi có chiều cao trung bình 301,1 - 352,8 cm, đường kính tán 279,6 - 338,3 cm, hoa nở tập trung vào tháng 3, tỷ lệ đậu quả 1,38 - 1,75%, năng suất trung bình 43,2 - 68,3 kg/cây (giống bưởi Diễn đạt 46,0 kg/cây ở cùng độ tuổi). Màu sắc vỏ quả đa dạng từ xanh vàng đến vàng đậm, màu sắc tép quả từ trắng ngà đến hồng đỏ, độ Brix đạt từ 10,8 - 11,8%. Các giống bưởi trong nghiên cứu này đều chín sớm hơn bưởi Diễn, thời gian thu hoạch trải dài từ cuối tháng 8 đến tháng 11 hàng năm. Các đối tượng sâu, bệnh gây hại ở mức độ nhẹ và tương đồng với các đối tượng gây hại bưởi Diễn.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA CAO CHIẾT VỎ QUẾ VÀ CHITOSAN LÊN BỆNH THÁN THƯ (Colletotrichum sp.) TRÊN XOÀI BA MÀU TẠI TỈNH AN GIANG
Abstract : 2597 PDF: 0Đánh giá khả năng chống lại nấm Colletotrichum sp. gây bệnh thán thư trên cây xoài bằng cao chiết vỏ quế và chitosan được thực hiện với mục tiêu: (1) xác định nồng độ có khả năng hạn chế sự nảy mầm của bào tử; (2) đánh giá khả năng phòng trị bệnh thán thư trên lá xoài; (3) đánh giá khả năng phòng trị bệnh trái xoài trên cây và sau thu hoạch. Kết quả cho thấy, hỗn hợp có khả năng hạn chế bào tử nảy mầm, hiệu quả giảm bào tử nảy mầm cao nhất ở nồng độ 0,80% cao chiết vỏ quế, 0,15% chitosan và 1,2% cao chiết vỏ quế, 0,21% chitosan. Hiệu quả giảm bệnh trên lá xoài đạt đến 84%. Thí nghiệm trên vườn xoài cho thấy, có xử lý 0,80% vỏ quế và 0,15% chitosan, có bao trái hoặc không bao trái cho tỉ lệ trái bệnh thấp hơn so với canh tác theo đối chứng của nông dân. Năng suất và tỉ lệ trái tương đương so với đối chứng nhưng khối lượng trái cao hơn. Diện tích vết bệnh và tỉ lệ trái thối khi bảo quản sau thu hoạch đối với nghiệm thức xử lý chế phẩm có bao trái và không bao trái cho hiệu quả hơn nghiệm thức đối chứng theo canh tác của nông dân.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG PHÂN BÓN HỮU CƠ VI SINH CON CÒ VÀNG ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG GIỐNG DIÊM MẠCH ATLAS TRỒNG TRÊN ĐẤT NÂU ĐỎ BAZAN VÀ ĐẤT XÁM TẠI TÂY NGUYÊN
Abstract : 2346 PDF: 0Mục đích nghiên cứu này nhằm xác định được lượng phân hữu cơ vi sinh Con Cò Vàng phù hợp nhất bón cho giống diêm mạch Atlas trồng trên đất nâu đỏ bazan và đất xám đạt năng suất tốt, hàm lượng protein tổng số cao, phù hợp với điều kiện sinh thái, đất đai của khu vực Tây Nguyên. Nghiên cứu được thực hiện với 6 công thức bón phân hữu cơ vi sinh và 1 công thức đối chứng cho giống diêm mạch Atlas trồng trong mùa khô năm 2024 với mật độ trồng 100.000 cây/ha (hàng cách hàng 50 cm, cây cách cây 20 cm). Kết quả nghiên cứu đã xác định được công thức bón phân hữu cơ vi sinh Con Cò Vàng (CT1- 2 tấn/ha/vụ) là tốt nhất trong các công thức thí nghiệm. Công thức bón phân này cho kết quả năng suất lý thuyết tốt nhất (đất đỏ bazan đạt 28,56 tạ/ha/vụ và đất xám đạt 22,19 tạ/ha/vụ) và năng suất thực thu cao nhất (đất đỏ bazan đạt 22,95 tạ/ha/vụ và đất xám đạt 17,50 tạ/ha/vụ). Hơn nữa, bón phân theo CT1 (2 tấn/ha/vụ) cho hàm lượng protein tổng số trong hạt cao nhất (21,68% trên đất đỏ bazan và 22,86% trên đất xám) và hàm lượng tinh bột khá cao (65,43% trên đất đỏ bazan và 63,07% trên đất xám).
-
SẢN XUẤT PHÂN COMPOST TỪ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT HỮU CƠ HỘ GIA ĐÌNH: MÔ HÌNH TẠI THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Abstract : 2872 PDF: 0Ủ phân compost là một trong những giải pháp hiệu quả để xử lý chất thải hữu cơ và sản xuất phân bón. Nghiên cứu này, thử nghiệm sử dụng thùng ủ để sản xuất phân compost từ chất thải hữu cơ sinh hoạt tại 30 hộ gia đình ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, năm 2024. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tiềm năng xử lý chất thải sinh hoạt hữu cơ tại hộ gia đình bằng thùng ủ compost. Kết quả cho thấy, khối lượng chất thải hữu cơ được xử lý tại hộ gia đình trung bình là 2,25 kg/ngày/hộ. Ước tính thùng ủ có thể góp phần xử lý được khoảng 32,04 tấn chất thải hữu cơ/ngày, giảm khoảng 17,8% lượng chất thải cần thu gom và xử lý của toàn thành phố Tuy Hoà. 100% số hộ sử dụng hài lòng về thùng ủ, trong đó có 57,1% số hộ thích thùng ủ riêng đặt tại gia đình và 42,9% số hộ cho rằng tùy điều kiện sẽ lựa chọn ủ tại gia đình hay ở nơi công cộng. 82,1% số hộ trả lời sẵn sàng ủ rác tại nơi công cộng. Phân compost tạo ra được các hộ gia đình sử dụng để bón cho hoa, cây cảnh, rau, cây ăn quả phục vụ cho nhu cầu của gia đình, thay thế hoàn toàn phân bón hoá học, góp phần phát triển nông nghiệp hữu cơ. Bên cạnh thùng ủ tại hộ gia đình, thùng ủ tập trung, sản phẩm phân bón dạng rắn cũng được đề xuất. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc ủ phân compost tại hộ gia đình có tiềm năng lớn để trở thành một chiến lược được thực hiện rộng rãi ở các địa phương, góp phần tài nguyên hoá chất thải, tạo mùn hữu cơ cho nông nghiệp, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường.
-
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG BỆNH CỦA THẢO DƯỢC ĐỐI VỚI HAI LOÀI VI KHUẨN Vibrio alginolyticus VÀ Photobacterium damselae PHÂN LẬP TRÊN CÁ DÌA BỊ BỆNH XUẤT HUYẾTTRONG ĐIỀU KIỆN THÍ NGHIỆM
Abstract : 2592 PDF: 0Nghiên cứu này thực hiện nhằm xác định khả năng phòng bệnh xuất huyết trên cá dìa do vi khuẩn Vibrio alginolyticus (V. alginolyticus) và Photobacterium damselae (P. damselae) gây ra bằng một số loại thảo dược. Thử nghiệm khả năng kháng khuẩn của 5 loại cao chiết thảo dược trong dung môi nước gồm: Cỏ sữa lá nhỏ, diệp hạ châu, sài đất, cỏ mực và tía tô cho thấy, cỏ sữa lá nhỏ có tác dụng diệt khuẩn tốt nhất, tía tô không có khả năng kháng khuẩn đối với vi khuẩn V. alginolyticus và P. damselae. Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) và nồng độ tiêu diệt tối thiểu (MBC) của cao chiết các loại thảo dược trên đối với vi khuẩn V. alginolyticus và P. damselae dao động từ 312 - 2.500 mg/L và từ 625 - 5.000 mg/L. Bổ sung cao chiết cỏ sữa lá nhỏ với nồng độ 1.250 mg/kg thức ăn không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá và làm giảm tỷ lệ chết của cá khi cảm nhiễm vi khuẩn V. alginolyticus hoặc P. damselae.
-
ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG VÀ PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VỚI QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ Ở HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH
Abstract : 2738 PDF: 0Đô thị hóa gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cơ cấu sử dụng đất và chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang các mục đích khác nhau trên địa bàn huyện Nghi Xuân. Kết quả nghiên cứu đã phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp dưới tác động của quá trình đô thị hóa tại huyện Nghi Xuân thông qua việc khảo sát 120 nông hộ sử dụng đất nông nghiệp gồm: Yếu tố tự nhiên (có 8,82% ý kiến nông hộ đánh giá xâm nhập mặn rất ảnh hưởng và 47,06% ý kiến đánh giá xâm nhập mặn ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp do làm chậm thời gian canh tác, thậm chí một số hộ không thể canh tác được trong mùa mưa, lũ); yếu tố kinh tế (có 73,53% ý kiến cho rằng chi phí sản xuất đã tăng lên ở các loại hình sử dụng đất nông nghiệp); yếu tố xã hội (với 75,19% ý kiến đánh giá thiếu lao động nông nghiệp chất lượng cao). Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp dưới tác động quá trình đô thị hóa ở huyện Nghi Xuân như: Hỗ trợ chi phí để ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp; hoàn thiện cơ chế chính sách trong nông nghiệp.
-
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT HẰNG NĂM THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
Abstract : 2145 PDF: 0Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm tại thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Sử dụng các phương pháp: Điều tra thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp, sơ cấp; đánh giá theo thang đo 5 cấp của Likert; đánh giá chỉ tiêu sử dụng đất theo độ lệch giữa kế hoạch và kết quả thực hiện. Kết quả cho thấy, có 50 chỉ tiêu (chiếm tới 72,46%) đạt mức thực hiện rất tốt; 4 chỉ tiêu sử dụng đất (chiếm 5,80%) thực hiện rất kém. Tỷ lệ thực hiện các công trình, dự án đạt rất thấp (chỉ đạt 11,81%). Số lượng công trình chuyển tiếp sang năm sau chiếm 46,25% số công trình chưa thực hiện. Kết quả điều tra cán bộ, công chức, viên chức cho thấy, việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất tại thành phố Bắc Ninh là tốt. Có 1/6 tiêu chí được đánh giá ở mức rất tốt và 5/6 tiêu chí được đánh giá ở mức tốt. Để nâng cao hiệu quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: Huy động và quản lý sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn khác nhau; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; công bố, công khai kịp thời nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; nâng cao chất lượng phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện kế hoạch sử dụng đất; đánh giá khả năng thực hiện các công trình, dự án.








