Số 3 (2025)

					Xem Số 3 (2025)
Đã Xuất bản: 15-02-2025

Bài viết

  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ HÀM LƯỢNG AXIT ROSMARINIC TRONG CỤM HOA CỦA MỘT SỐ MẪU GIỐNG HẠ KHÔ THẢO (Prunella vulgaris L.)

    Abstract : 665 PDF: 0
    Bùi Thị Xuân, Tô Thị Ngân, Nguyễn Đức Mạnh, Trần Huyền Trang, Nguyễn Văn Tâm
    3-11

    Tổng số 10 mẫu giống Hạ khô thảo (HKT), thu thập ở các vùng sinh thái khác nhau được đánh giá về các đặc điểm hình thái, sinh trưởng, phát triển, năng suất và hàm lượng axit rosmarinic trong cụm hoa. Nghiên cứu được thực hiện tại Trạm Nghiên cứu Dược liệu Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc từ 9/2023 đến 10/2024. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu tuần tự không nhắc lại. Kết quả cho thấy, các mẫu giống HKT có chiều cao cây 32,90 - 42,10 cm, số cụm hoa/cây đạt 23,40 - 45,60 cụm hoa, chiều dài cụm hoa đạt 14,55 - 30,35 mm, năng suất cá thể đạt 3,16 - 7,12 g. Năng suất thực thu của các mẫu giống HKT đạt từ 0,123 - 0,277 tấn/ha. Trong đó, mẫu giống HKT2 có năng suất thực thu và năng suất hoạt chất axit rosmarinic trong dược liệu đạt cao nhất, tương ứng (0,277 tấn/ha và 0,59 kg/ha), đạt tiêu chuẩn theo Dược điển Trung Quốc (2015). Mẫu giống triển vọng HKT2 có tiềm năng để đưa ra sản xuất trên thị trường sau khi tiếp tục được đánh giá và khảo nghiệm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/e6c69b17
  • HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ KỸ THUẬT QUẢN LÝ ĐẤT CẢI TIẾN CHO CANH TÁC LÚA TRÊN ĐẤT PHÙ SA NHIỄM MẶN TẠI HUYỆN HÒN ĐẤT VÀ AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

    Abstract : 764 PDF: 0
    Nguyễn Thị Kim Phượng, Cao Đình An Giang, Đặng Duy Minh, Châu Minh Khôi
    12-19

    Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những vùng sản xuất lương thực lớn nhất Đông Nam Á và quan trọng nhất Việt Nam. Trong những năm gần đây, năng suất lúa ở ĐBSCL có xu hướng giảm do việc khai thác đất quá mức cùng với những thay đổi bất lợi của môi trường. Để duy trì năng suất, lượng phân bón hoá học sử dụng cho lúa hiện cao hơn khuyến cáo từ 20 - 30%, trong khi chưa quan tâm đến việc sử dụng phân bón hữu cơ dẫn đến tình trạng suy thoái đất và môi trường, cũng như giảm sức cạnh tranh của lúa gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế. Nghiên cứu được triển khai trên 2 điểm thử nghiệm tại huyện Hòn Đất và An Biên của tỉnh Kiên Giang, nơi lúa được canh tác trên đất phù sa có tầng phèn nông và bị nhiễm mặn vào mùa khô. Mỗi điểm thử nghiệm gồm 7 mô hình trình diễn có diện tích 600 m2/mô hình. Các mô hình thử nghiệm sử dụng kết hợp các biện pháp quản lý đất bao gồm: Sử dụng phân hữu cơ, biochar (than sinh học), sử dụng tiết kiệm phân vô cơ và bón vùi phân vô cơ nhằm cải thiện chất lượng đất, nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón và duy trì năng suất lúa. Năng suất lúa được ghi nhận, mẫu đất cuối vụ được thu và phân tích một số chỉ tiêu hoá học để đánh giá độ phì và sức khoẻ đất. Kết quả cho thấy, đối với vùng đất nhiễm mặn và pH thấp, bổ sung phân hữu cơ hoặc biochar là cần thiết. Việc áp dụng các biện pháp quản lý đất cải tiến như áp dụng bón vùi phân vô cơ kết hợp phân hữu cơ và biochar đã giúp duy trì hoặc tăng năng suất lúa, cũng như cải thiện độ phì nhiêu như lân hữu dụng, khả năng hô hấp của đất trong khi giảm được lượng phân vô cơ 25% so với khuyến cáo.

    DOI: https://doi.org/10.71254/qzesft07
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI ĐẤT VÀ TỶ LỆ PHỐI TRỘN TRO TRẤU ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT CỦA CÂY GIỌT BĂNG (Mesembryanthemum crystallium L.)

    Abstract : 618 PDF: 0
    Phạm Văn Quang, Võ Thị Xuân Tuyền, Phan Hoàng Minh, Dương Văn Nhã, Nguyễn Thị Thanh Xuân
    20-33

    Nước biển xâm nhập sâu vào đất liền trong mùa khô xuất hiện ngày càng sớm, nghiêm trọng và tăng dần trong những năm qua, dẫn đến đất bị nhiễm mặn. Cây giọt băng (Mesembryanthemum crystallium L.) có khả năng hấp thụ muối trong đất để cải tạo đất. Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của các loại đất và tỷ lệ phối trộn tro trấu đến sinh trưởng của cây giọt băng. Nghiên cứu bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, bốn loại đất thu từ huyện Tịnh Biên, An Phú, Thoại Sơn, tỉnh An Giang và đất nhiễm mặn ở huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang với 3 mức phối trộn đất và tro trấu (100% đất; 80% đất, 20% tro; 60% đất, 40% tro), với 3 lần lặp lại. Kết quả cho thấy, cây giọt băng phát triển tốt trên đất ở huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang và An Biên, tỉnh Kiên Giang trong quá trình sinh trưởng, nhưng năng suất ở đất tỉnh Kiên Giang cao hơn đất ở huyện Tịnh Biên cả ở các nghiệm thức phối trộn tro. Đất ở huyện Thoại Sơn và huyện An Phú cây phát triển đến 50 ngày sau khi gieo (NSKG), sau đó cây chết trên cả đất có phối trộn tro trấu và 100% đất. Cây giọt băng có khả năng hấp thụ muối NaCl trong đất nhiễm mặn ở tỉnh Kiên Giang (326 mg/m2), và đất huyện Tịnh Biên (249 mg/m2). Với kết quả trên, cây giọt băng có tiềm năng xử lý sinh học đất nhiễm mặn. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/kdf43s68
  • ĐẶC TÍNH HÌNH THÁI VÀ HOÁ HỌC CỦA PHẪU DIỆN ĐẤT CANH TÁC BƯỞI DA XANH TẠI HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

    Abstract : 637 PDF: 0
    Nguyễn Thanh Ngân, Phùng Quốc Đạt, Phạm Thanh Bình, Lê Thị Ngọc Thơ, Nguyễn Đức Trọng, Nguyễn Huỳnh Minh Anh, Phan Chấn Hiệp, Hà Ngọc Thu,Lê Thị Mỹ Thu, Trần Trọng Khôi Nguyên, Phan Chí Nguyện, Nguyễn Quốc Khương
    34-44

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu xác định hình thái và hóa học đất trồng bưởi da xanh tại huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Phân loại và mô tả đặc tính hình thái đất theo FAO (2006), WRB (2006) và bảng so màu Munsell. Thu mẫu đất theo tầng phát sinh đối với 3 phẫu diện đất trồng bưởi da xanh để phân tích đặc tính hóa học đất. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 3 phẫu diện đất canh tác bưởi da xanh thuộc đất phèn tiềm tàng sâu, với vật liệu sinh phèn xuất hiện ở độ sâu > 60 cm. Giá trị pHH2O và pHKCl tầng mặt của 3 phẫu diện lần lượt khoảng 3,22 - 6,43 và 2,71 - 4,66. Đồng thời, hàm lượng độc chất Al3+ và Fe2+ thấp, với giá trị là 0,501 - 3,07 meq Al3+ 100 g-1 và 0,507 - 1,51 mg kg-1, theo thứ tự. Hàm lượng đạm tổng số ở ngưỡng trung bình đến cao. Hàm lượng đạm hữu dụng và lân dễ tiêu trong đất đạt giá trị lần lượt là 24,5 - 50,4 mg NH4+ kg-1, 4,95 - 367,7 mg P2O5 kg-1. Tuy nhiên, hàm lượng Al-P, Fe-P và Ca-P cao ở tầng đất mặt, với giá trị tương ứng 241,3 - 249,3; 431,3 - 504,7; 90,4 - 203,1 mg kg-1. Ngoài ra, hàm lượng chất hữu cơ được đánh giá ở ngưỡng thấp đến trung bình, trong khi khả năng trao đổi cations được ghi nhận ở mức thấp. Vì vậy, đất canh tác bưởi da xanh tại huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre có độ phì nhiêu thấp.

    DOI: https://doi.org/10.71254/9k1kxt35
  • NGHIÊN CỨU PHỤC TRÁNG GIỐNG DƯA CHUỘT NẾP HÀ TRUNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG ĐẠM, KALI ĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG QUẢ SAU PHỤC TRÁNG

    Abstract : 600 PDF: 0
    Lê Thị Tình, Ngô Thị Hạnh, Trần Thị Hồng, Phạm Thị Minh Huệ
    45-55

    Nghiên cứu phục tráng giống dưa chuột nếp Hà Trung được thực hiện từ năm 2021 đến năm 2023 theo phương pháp chọn lọc quần thể cải tiến đối với cây giao phấn. Kết quả, đã phục tráng được giống dưa chuột nếp Hà Trung có các tính trạng nông sinh học: Lá có màu xanh vàng; vỏ quả có màu xanh sáng; gai quả có màu nâu đậm; số quả/thân chính từ 5 - 7 quả/cây; khối lượng quả là 150 - 170 g/quả; chiều dài quả 15,0 - 17,0 cm; đường kính quả 3,5 - 4,5 cm; dày thịt quả 0,9 - 1,0 cm. Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến năng suất và chất lượng quả sau phục tráng tại xã Hà Giang, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá trong vụ thu đông năm 2022 và vụ xuân hè năm 2023. Kết quả đã xác định được công thức bón 150 kg N + 120 kg K2O với nền phân bón 20 tấn phân chuồng (2 tấn phân hữu cơ vi sinh) + 90 kg P2O5 là thích hợp, cho năng suất cao nhất (vụ thu đông năm 2022 đạt 40,6 tấn/ha và vụ xuân hè năm 2023 đạt 37,4 tấn/ha), đạt chất lượng cao cũng như đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ax5z5d88
  • KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RƠM RẠ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 947 PDF: 0
    Đào Trọng Hùng, Vũ Việt Hà, Nguyễn Quang Hải, Hoàng Ngọc Thuận, Nguyễn Toàn Thắng, Hoàng Thị Thu Hường, Võ Quang Trung
    56-62

    Sản xuất lúa ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hằng năm tạo ra khoảng 26 triệu tấn rơm rạ. Hiện nay, rơm rạ là một nguồn lớn chất thải hữu cơ không được sử dụng bền vững. Một nghiên cứu về thực trạng sử dụng rơm rạ đã được tiến hành bằng cách phỏng vấn 250 nông hộ ở các tỉnh, thành phố: Sóc Trăng, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp và Kiên Giang. Kết quả cho thấy, nông dân thường sử dụng các phương thức xử lý rơm rạ như: Đốt, vùi, thu gom rơm rạ, nuôi tôm. Trong đó, đốt rơm rạ là phương thức phổ biến ở vùng ĐBSCL. Người dân xử lý rơm rạ thay đổi theo mùa vụ. Ở vụ đông xuân, đốt rơm rạ là phương thức xử lý rơm rạ phổ biến nhất, tiếp theo là vụ hè thu và thu đông. Ngược lại, tỷ lệ rơm rạ vùi vào đất tương đối cao trong các vụ thu đông và hè thu. Tỷ lệ đốt rơm rạ có xu hướng giảm trong khi tỷ lệ thu gom rơm ra khỏi đồng ruộng phục vụ cho các mục đích như: Bán, trồng nấm, phủ cho cây trồng, thức ăn chăn nuôi, sản xuất phân bón hữu cơ và giá thể có xu hướng tăng. Khu vực đầu nguồn sông Cửu Long, người dân có xu hướng xử lý rơm rạ bằng phương thức đốt, trong khi đó cuối nguồn sông Cửu Long có xu hướng sử dụng rơm rạ của vụ lúa trong cơ cấu lúa - tôm cho vụ tôm kế tiếp. Vì vậy, nếu rơm rạ được sử dụng hợp lý, chúng có thể cải thiện đáng kể sức khỏe đất, giảm ô nhiễm môi trường không khí và tăng năng suất cây trồng bền vững.

    DOI: https://doi.org/10.71254/jp9q2m04
  • NGHIÊN CỨU CHỌN LỌC CẶP LAI TẰM TỨ NGUYÊN THÍCH HỢP NUÔI Ở VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ

    Abstract : 466 PDF: 0
    Nguyễn Thị Thu, Phạm Thị Thơ, Nguyễn Thị Nga
    63-71

    Để chọn tạo được giống tằm lưỡng hệ thích ứng với điều kiện khí hậu vùng duyên hải Nam Trung bộ, thí nghiệm đã sử dụng 11 cặp lai lưỡng hệ tứ nguyên có khả năng chống chịu tốt với điều kiện nóng ẩm, nóng khô và đề kháng với bệnh virut BmNPV để chọn lọc. Kết quả, đã chọn ra được 2 cặp lai tốt nhất để đưa ra khảo nghiệm sản xuất có các chỉ tiêu sức sống tằm đạt 90,18 - 90,67%, sức sống nhộng đạt 94,01 - 95,81%, năng suất kén/300 tằm tuổi 4 đạt 380 - 384 g, vượt so với đối chứng (LQ2) có các chỉ số tương ứng là 86%; 81,77%; 362 g. Về chất lượng kén, có tỷ lệ vỏ kén đạt 21,82 - 22,05%, chiều dài tơ đơn 841 - 914 m, tỷ lệ tơ nõn 15,63 - 15,78% và hệ số tiêu hao kén/kg tơ 6,34 - 6,40 kg, tương đương với giống đối chứng (LQ2) với các chỉ số tương ứng là 21,86%; 798 m; 15,84%; 6,31 kg.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tw9b9694
  • NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG LÊN MEN KOMBUCHA, SINH TỔNG HỢP AXIT GLUCORONIC CỦA NẤM MEN Zygoascus meyerae VÀ VI KHUẨN Komagataeibacter saccharivorans

    Abstract : 695 PDF: 0
    Phù Thị Thanh Khiết, Trần Việt Quyền, Eng Disivetvathana, Lê Thái Anh Thư
    72-81

    Nghiên cứu thực hiện nhằm đánh giá khả năng lên men kombucha và sinh tổng hợp axit glucoronic của hệ cộng sinh Zygoascus meyeraeKomagataeibacter saccharivorans. Điều kiện lên men được khảo sát bao gồm: Nồng độ đường ban đầu (15, 20, 25, 30oBrix) và nhiệt độ môi trường lên men (20, 25, 30, 35oC). Chỉ tiêu theo dõi như sau: pH, chất khô hoà tan tổng số (TSS), đường khử, axit tổng, axit glucoronic ở 3, 6, 9, 12 ngày lên men. Kết quả cho thấy, hệ cộng sinh Zygoascus meyeraeKomagataeibacter saccharivorans phát triển tương hỗ trong điều kiện khảo sát, thể hiện qua các chỉ tiêu ghi nhận như sau: pH và TSS giảm liên tục theo thời gian lên men; quá trình sinh tổng hợp axit hữu cơ và axit glucoronic tăng theo sự phát triển của hệ cộng sinh; đường khử tăng lên ở ngày lên men thứ 3, sau đó giảm ở các ngày lên men tiếp theo. Trong đó, nồng độ đường ban đầu 20oBrix, nhiệt độ môi trường lên men 25oC, ở 9 ngày lên men cho thấy khả năng sinh tổng hợp axit glucoronic cao nhất, đạt 74,33 mg/L (pH: 3,02 ± 0,07; TSS: 10,00 ± 0,87oBrix; đường khử: 14,69 ± 0,64 mg/mL; axit tổng 7,03 ± 0,08 mg/mL).

    DOI: https://doi.org/10.71254/6kk6pj08
  • NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THỦY PHÂN DỊCH NHẦY HẠT CA CAO BẰNG CHẾ PHẨM PECTINEX ULTRA SP-L VÀ ỨNG DỤNG TRONG SẢN PHẨM LÊN MEN

    Abstract : 566 PDF: 0
    Cao Xuân Thủy, Đặng Thúy Mùi
    82-91

    Ca cao là cây công nghiệp nhiệt đới có giá trị cao được trồng phổ biến ở miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, giá trị của trái ca cao chưa được khai thác triệt để, một trong những nguyên nhân dẫn đến điều này là hàm lượng pectin có trong dịch nhầy của quả ca cao. Nghiên cứu này khảo sát điều kiện thủy phân dịch nhầy ca cao bằng enzyme thương mại Pectinex Ultra SP-L ở các mức nhiệt độ (40 ÷ 50oC), thời gian (10 ÷ 40 phút) và hàm lượng enzyme (0,025 ÷ 0,1%) khác nhau. Đồng thời, nghiên cứu khảo sát các điều kiện lên men như: Thời gian lên men (10 ÷ 40 phút), mật độ nấm men (105 ÷ 107 tế bào/mL) và hàm lượng chất khô hòa tan (16 ÷ 20oBx). Kết quả cho thấy, ở nhiệt độ 45oC, thời gian 20 phút, hàm lượng enzyme 0,075% cho hiệu suất thu hồi 95% và độ truyền suốt 96,9%; dịch quả sau thủy phân có độ trong phù hợp để sản xuất nước uống và các sản phẩm lên men. Về điều kiện lên men, với thời gian lên men 60 giờ, mật độ tế bào nấm men 106CFU/mL, hàm lượng chất khô hoà tan 18oBx sẽ có độ cồn đạt 2,9, điểm cảm quan 15,2 sản phẩm đạt loại khá. Kết quả của nghiên cứu góp phần bổ sung thêm về điều kiện sơ chế, chế biến nhằm nâng cao giá trị gia tăng từ trái ca cao.

    DOI: https://doi.org/10.71254/jr19p526
  • TẠO DÒNG VI KHUẨN E. coli MANG GEN RGP MÃ HÓA HORMONE KÍCH THÍCH SINH SẢN HẢI SÂM

    Abstract : 849 PDF: 0
    Hoàng Đình Chiều, Lưu Xuân Hoà, Bùi Minh Tuấn, Nguyễn Thị Tuyết Mai, Nguyễn Kim Thoa, Đồng Thị Dung, Đỗ Anh Duy
    92-100

    Hormone kích thích sinh sản RGP (Relaxin-like Gonad-stimulating Peptide) là một giải pháp tiên tiến, hiệu quả trong sản xuất giống hải sâm. Để sản xuất lượng lớn hormone RGP và có hoạt tính sinh học cao, cần sử dụng công nghệ protein tái tổ hợp thông qua vi khuẩn E. coli và nấm men Pichia pastoris. Vì vậy, trong nghiên cứu này, vector pPIC9K đã được thiết kế để mang gen RGP (pPIC9K-RGP). Chủng E. coli JM109 được cấu trúc để mang plasmid pPIC9K-RGP tái tổ hợp. Quá trình sàng lọc bằng kháng sinh ampicillin sau đó đã giúp thu được dòng khuẩn lạc E. coli mang plasmid pPIC9K-RGP tái tổ hợp. Kết quả giải trình tự ADN của plasmid pPIC9K-RGP từ E. coli sau sàng lọc kháng sinh cho thấy, gen RGP mã hóa hormone kích thích sinh sản hải sâm đã được cấu trúc trong E. coli. Đây là khâu quan trọng tạo nguồn nguyên vật liệu ban đầu  để sản xuất hormone RGP tái tổ hợp trên nấm men P. pastoris và tiến tới sản xuất hormone  này ở quy mô thương mại phục vụ sản xuất giống hải sâm ở Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/et6pwp25