Số 2 (2022)

					Xem Số 2 (2022)
Đã Xuất bản: 31-01-2022

Bài viết

  • ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG KẾT HỢP VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÁC DÒNG NGÔ NẾP THUẦN

    Abstract : 0 PDF: 1
    Lê Quý Tường, Lê Quý Tùng
    3-8

    Đánh giá khả năng kết hợp và năng suất của 22 dòng ngô nếp thuần (S5) trong 3 vụ tại Hà Nội và Quảng Ngãi. Kết quả đã xác định được 11 dòng ngô nếp thuần có khả năng kết hợp chung cao và giá trị khả năng kết hợp riêng cao gồm: N2, N12, N14, N15, N22, N23, N26, N27, N31, N51, N52 và 5 tổ hợp lai tốt, năng suất bắp tươi vượt giống HN88 từ 0,3% - 0,9% và vượt giống MX6 39,7% - 40,7% gồm: N22 x N7B, N22 x D666, N02 x D666, N15 x D666, N23 x N7B.

    DOI: https://doi.org/10.71254/bvkxkm39
  • ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ THỂ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ RA HOA CỦA CÂY CÚC BÁCH NHẬT (Gomphrena globosa L.)

    Abstract : 8 PDF: 3
    Lê Bảo Long, Trần Thị Bích Vân
    9-15

    Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12/2018 đến tháng 3/2019 tại nhà lưới Khoa Nông nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ nhằm xác định giá thể thích hợp cho sự sinh trưởng và ra hoa của cây cúc Bách Nhật trồng chậu. Nghiên cứu được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 5 nghiệm thức. Mỗi nghiệm thức có 10 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại tương ứng với 1 chậu và mỗi chậu trồng một cây. Trong đó, các nghiệm thức bao gồm mụn xơ dừa, mụn xơ dừa: trấu tươi (4: 1), mụn xơ dừa: trấu tươi (3: 2), mụn xơ dừa: trấu tươi (2: 3), mụn xơ dừa: trấu tươi (1: 4). Tất cả các nghiệm thức đều có cùng chế độ chăm sóc. Kết quả cho thấy, giá thể mụn xơ dừa thích hợp cho sự sinh trưởng và ra hoa của cây cúc Bách Nhật. Cây có chiều cao (33,5 cm), đường kính thân (5,8 mm), đường kính tán (19,5 cm), tổng số hoa (19,4 hoa/cây), chiều cao hoa (2,1 cm), đường kính hoa (2,08 cm), đường kính cuống hoa (2,1 mm), ngày hoa nở hoàn toàn sau khi trồng (49,1 ngày), hàm lượng chlorophyll lá (267,4 mg/m2).  

    DOI: https://doi.org/10.71254/ewdxbd19
  • KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HIỆN TƯỢNG KHÔ ĐẦU MÚI TRÁI QUÝT HỒNG (Citrus reticulata Blanco) TẠI HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

    Abstract : 3 PDF: 4
    Trịnh Xuân Việt, Lê Văn Hòa
    16-23

    Quýt Hồng (Citrus reticulata Blanco) là một trong những loại trái cây đặc sản có giá trị kinh tế của tỉnh Đồng Tháp. Các yếu tố môi trường sống và thời gian sinh trưởng có tác động rất lớn lên năng suất và phẩm chất của các loại cây ăn trái. Hiện tượng khô đầu múi trái quýt Hồng làm giảm giá trị thương phẩm và gây thiệt hại kinh tế cho các nhà vườn. Nghiên cứu khảo sát các yếu tố liên quan đến hiện tượng khô đầu múi trên trái quýt Hồng được thực hiện bằng phương pháp khảo sát và phỏng vấn trực tiếp 60 hộ trồng quýt Hồng có diện tích vườn trên 1.000 m2 từ tháng 2/2019 đến tháng 01/2020 tại huyện Lai Vung của tỉnh Đồng Tháp. Hiện tượng khô đầu múi trên quýt Hồng được kể đến là khô đầu múi của trái và trái bị chai. Kết quả khảo sát cho thấy, các  yếu tố bón phân không cân đối, mật độ cây trồng và tuổi của cây là các nguyên nhân chính gây ra hiện tượng khô đâu múi của trái quýt Hồng. Ngoài ra yếu tố nước tưới, đất trồng và thời tiết cũng có tác động đáng kể đến hiện tượng này.

    DOI: https://doi.org/10.71254/snke3571
  • ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CÂY ĐẬU PHỘNG (Arachis hypogae L.) TẠI TRÀ VINH

    Abstract : 0 PDF: 0
    Lê Hoàng Phương, Nguyễn Thị Khánh Trân, Nguyễn Trọng Phước, Nguyễn Thị Lang
    24-30

    Thí nghiệm được thực hiện tại huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2021 để xác định ảnh hưởng của khoảng cách hàng và lượng phân bón N, P, K đối với sự tăng trưởng và năng suất hạt của 2 giống đậu phộng trong điều kiện vụ hè thu năm 2021. Thử nghiệm gồm 3 yếu tố: giống, khoảng cách hàng, lượng phân bón được thiết kế theo khối đầy đủ ngẫu nhiên với 3 lần lập lại. Các yếu tố được nghiên cứu bao gồm: (A) giống [(A1) giống MD7 và (A2) giống L14]; (B) khoảng cách hàng [(B1) 20 cm x 20 cm, (B2) 15 cm x 20 cm, (B3) 15 cm x 15 cm, (B4) 10 cm x 20 cm, (B5) mật độ trồng theo nông dân 10 cm x 10 cm]; (C) tỷ lệ phân bón [(C1) 100% N, P, K, Ca, Mg (tổng 35 - 60 - 60 + 150 Ca + 40 Mg - kg/ha), (C2) 75% tổng N, P, K, Ca, Mg, (C3) 50% tổng N, P, K, Ca, Mg và (C4) phân bón của nông dân (tổng N, P, K, Ca là 120 - 60 - 60 + 200 Ca - kg/ha) (đối chứng)]. Kết quả cho thấy, giống MD7 cho số nhánh trên cây, khối lượng 100 hạt và năng suất cao hơn so với giống L14. Khoảng cách 15 cm x 20 cm và 15 cm x 15 cm cho năng suất trái (hạt còn vỏ) và năng suất hạt (nhân) tương đương nhau. Hiệu ứng tương tác giữa giống x khoảng cách và giống x khoảng cách x phân bón là đáng kể với các tính trạng về chiều cao cây, số lượng lá trên cây, năng suất trái (hạt còn vỏ), năng suất hạt (nhân) và số nốt sần trên cây. Khuyến cáo nông dân sử dụng giống MD7 trồng với khoảng cách 15 cm x 20 cm và 15 cm x 15 cm, bón phân mức C1, C2 (100% và 75% mức bón N, P, K, Ca, Mg (35 - 60 - 60 + 150 Ca + 40 Mg - kg/ha) để nâng cao khả năng sinh trưởng, tăng năng suất và chất lượng đậu phộng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/me5nb628
  • ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PHÂN HỮU CƠ TỪ XỬ LÝ PHÂN GÀ ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CỦA CÂY NGHỆ VÀ CÀ CHUA TẠI KHOÁI CHÂU, HƯNG YÊN

    Abstract : 3 PDF: 6
    Phạm Châu Thuỳ, Nguyễn Thị Minh
    31-38

    Nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng phân hữu cơ từ xử lý phân gà đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của cây nghệ và cà chua tại Khoái Châu, Hưng Yên. Thí nghiệm được tiến hành trên đồng ruộng, gồm 3 công thức, lặp lại 3 lần, bố trí theo khối ngẫu nhiên đối với mỗi loại cây. Đối với cây nghệ, kết quả cho thấy công thức sử dụng phân hữu cơ từ xử lý phân gà có năng suất 39,5 tấn/ha, tăng 10% so với công thức đối chứng chỉ bón phân vô cơ (36 tấn/ha). Hàm lượng một số chỉ tiêu chất lượng củ nghệ có xu hướng tăng khi sử dụng phân hữu cơ từ phân gà. Khi bón phân gà qua xử lý, hàm lượng curcumin trong củ nghệ đạt 3,02%, hàm lượng vitamin C đạt 10,71 mg/100 g, tăng 16,7% và 36% tương ứng so với đối chứng. Đối với cà chua, trên cùng một nền bón phân vô cơ, bón phân hữu cơ xử lý từ phân gà giúp cây cà chua đạt số quả trung bình là 24,5 quả/cây, năng suất cá thể đạt 1,8 kg quả/cây, năng suất thực thu 44,2 tấn/ha. Các chỉ số về số quả/cây và năng suất cá thể đối với cây cà chua có sự khác biệt giữa công thức bón phân hữu cơ từ phân gà qua xử lý và bón phân hữu cơ từ phân gà nhập từ Nhật Bản. Tuy nhiên, năng suất thực thu chỉ có sự khác biệt giữa bón phân hữu cơ và phân vô cơ đối chứng. Đánh giá hiệu quả kinh tế cho thấy, bón bổ sung phân hữu cơ từ xử lý phân gà đối với cây nghệ và cà chua đều cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với chỉ bón phân vô cơ. Vì vậy, sử dụng phân hữu cơ sản xuất từ phân gà cần được phổ biến rộng rãi cho bà con nông dân, không những cải thiện chất lượng đất, nâng cao chất lượng nông sản mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cao.

    DOI: https://doi.org/10.71254/d4qksp70
  • PHÂN LẬP VÀ TUYỂN CHỌN MỘT SỐ CHỦNG NẤM SỢI CÓ KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG SÂU TƠ (Plutella xylostella) HẠI RAU MÀU TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

    Abstract : 4 PDF: 5
    Nguyễn Văn Lẹ, Hà Ngọc Bằng, Nguyễn Minh Khoa, Bùi Xuân Khanh
    39-45

    Nấm sợi có khả năng tổng hợp enzyme chitinase để tiêu diệt sâu tơ (Plutella xylostella) bằng cách phá hủy lớp vỏ chitin và cũng có thể sử dụng nấm sợi như một tác nhân sinh học an toàn thay thế cho thuốc trừ sâu hóa học. Nghiên cứu nhằm xác định và khảo sát khả năng gây bệnh các dòng nấm sợi có khả năng đối kháng sâu tơ phân lập tại huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Các thí nghiệm khảo sát khả năng tổng hợp enzyme chitinase và khả năng đối kháng sâu tơ của các dòng nấm sợi phân lập được bố trí trong điều kiện phòng thí nghiệm theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại. Định danh nấm sợi dựa vào đặc điểm hình thái và phương pháp sinh học phân tử là giải trình tự gen. Trong số các mẫu sâu tơ thu thập ngoài đồng ruộng chọn được 6 mẫu sâu tơ có nhiễm nấm sợi và phân lập được 5 chủng nấm sợi có đặc điểm hình thái khác nhau. Kết quả nghiên cứu xác định được khả năng phân giải chitin của 5 chủng nấm sợi được phân lập. Trong đó, hai chủng nấm sợi L1.3 và L2.1 có hiệu lực cao nhất với vòng phân giải chitin lần lượt là 32,0 mm và 32,3 mm và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các chủng còn lại. Đồng thời, đã định danh được chủng nấm L1.3 thuộc loài Aspergillus sydowii và L2.1 thuộc loài Aspergillus protuberus. Đánh giá được hiệu lực diệt sâu tơ của 2 chủng nấm sợi ở thời điểm 5 ngày sau xử lý đều đạt hiệu quả cao, trong đó cao nhất là chủng nấm Aspergillus protuberus L2.1 đạt 96,6%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/d1nkwx95
  • NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SẢN XUẤT BỘT HÒA TAN TỪ THÂN CÂY NON CỦA GIỐNG LÚA IR50404

    Abstract : 5 PDF: 4
    Nguyễn Tấn Hùng, Phan Thị Ngọc Hạnh
    46-53

    Nước ép từ thân cây non cây lúa mì được biết đến như một siêu thực phẩm với nhiều lợi ích cho sức khỏe con người như là chất chống ung thư, chống oxy hóa, chống đái tháo đường,... Tuy nhiên, các sản phẩm từ cây lúa non (Oryza sativa L.) - giai đoạn mạ vẫn chưa được biết đến rộng rãi để tiêu thụ đặc biệt là ở Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá sự thay đổi hàm lượng phenolic (TPC) và hoạt tính chống oxy hóa trong quá trình tăng trưởng của cây lúa non giống lúa IR50404, làm cơ sở cho việc sản xuất bột hòa tan. Kết quả cho thấy, chất chiết xuất từ cây lúa non ở 10 ngày tuổi sau khi nảy mầm chứa hàm lượng TPC và khả năng bắt gốc tự do DPPH (2,2 - diphenyl-1-picrylhydrazyl) cao, tương ứng 48,71 mgGAE/g và 84,83%. Dịch ép từ cây lúa non được tiến hành sấy phun với các thông số ban đầu (nồng độ chất khô được điều chỉnh với maltodextrin đến 10oBrix, nhiệt độ buồng sấy 170oC, tốc độ bơm nhập liệu 14 RPM; nhiệt độ đầu ra 75oC - 80oC) giúp tạo sản phẩm bột hòa tan có chất lượng khá tốt.

    DOI: https://doi.org/10.71254/4zybas16
  • KHẢO SÁT CÁC HOẠT CHẤT CHỐNG OXY HÓA TRÊN HAI LOÀI TRÙN ĐẤT Perionyx excavatus VÀ Lampito mauritii

    Abstract : 1 PDF: 1
    Phan Thị Bích Trâm, Lâm Thị Việt Hà
    54-60

    Nghiên cứu nhằm xác định các hoạt chất chống oxy hóa có trong hai loài trùn đất Perionyx excavatusLampito mauritii. Kết quả cho thấy, các hoạt chất chống oxy hóa có bản chất không enzyme và enzyme ở loài trùn đất Perionyx excavatus đều cao hơn loài trùn đất Lampito mauritii. Trùn đất xử lý ở dạng bột đông khô lạnh có thể bị giảm đi 10% - 30% các hoạt chất chống oxy hóa so với sử dụng ở dạng nguyên liệu tươi. Hàm lượng polyphenol tổng số, glutathione và vitamin C đạt cao nhất trên loài trùn đất Perionyx excavatus dạng tươi là 15,69 mgGAE/g, 3,01 mg/g và 0,84 mg/g tương ứng. Bộ ba enzyme chống oxy hóa loại bỏ các ion superoxide và hydrogen peroxide có hoạt tính superoxide dimutase, catalase và glutathione peroxidase tương ứng đạt 6,31 U/mg; 13,5 U/mg và 6,53 U/mg protein. Khả năng loại 50% gốc tự do 2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl (DPPH) của loài trùn đất Perionyx excavatus dạng tươi cao hơn gấp 2,7 lần so với loài trùn đất Lampito mauritii dạng bột khô và có giá trị IC50 đạt thấp nhất ở mức nồng độ 2,62 mg/mL.

    DOI: https://doi.org/10.71254/er3mrn28
  • ĐẶC TÍNH DINH DƯỠNG VÀ CHỨC NĂNG CỦA SẢN PHẨM THỦY PHÂN PROTEIN TỪ KHUNG XƯƠNG CÁ CHẼM (Lates calcarifer)

    Abstract : 2 PDF: 3
    Nguyễn Thị Mỹ Hương
    61-67

    Khung xương cá chẽm được thủy phân bằng protease thương mại protamex 0,5% (w/w) ở nhiệt độ 50oC trong thời gian từ 1 giờ đến 6 giờ để sản xuất các sản phẩm thủy phân protein. Nghiên cứu đặc tính dinh dưỡng và chức năng của sản phẩm thủy phân protein từ khung xương cá chẽm cho thấy sản phẩm thủy phân protein thu được sau 6 giờ thủy phân có hàm lượng protein 67,4%, hàm lượng lipit 1,6% và hàm lượng tro 8,5%. Các axit amin không thay thế chiếm tỉ lệ 37,84% tổng lượng axit amin. Các axit amin có hàm lượng cao trong sản phẩm thủy phân protein khung xương cá chẽm là glycine (4,74%), glutamic (4,02%), aspartic (3,32%), proline (2,72%), leucine (2,48%) và alanine (2,13%). Độ hòa tan của sản phẩm thủy phân protein tăng khi thời gian thủy phân tăng. Sau 6 giờ thủy phân, độ hòa tan của sản phẩm thủy phân protein từ khung xương cá chẽm đạt 96,8%. Khả năng tạo bọt và khả năng nhũ hóa tăng khi khung xương cá chẽm được thủy phân một phần ở giai đoạn đầu của quá trình thủy phân. Khả năng tạo bọt và khả năng nhũ hóa giảm khi thời gian thủy phân kéo dài. Khả năng tạo bọt của sản phẩm thủy phân protein từ khung xương cá chẽm cao nhất (34,5%) sau 3 giờ thủy phân. Khả năng nhũ hóa của sản phẩm thủy phân protein đạt giá trị cao nhất (25,5 ml/g) sau 2 giờ thủy phân. Kết quả nghiên cứu cho thấy sản phẩm thủy phân protein từ khung xương cá chẽm có thể được sử dụng làm nguồn protein trong thực phẩm và là một thành phần thực phẩm tiềm năng đầy hứa hẹn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/g7b1kq62
  • NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG VI TẢO TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

    Abstract : 11 PDF: 22
    Lê Thanh Tùng, Nguyễn Thị Kim Dung, Nguyễn Văn Nguyên
    68-78

    Vi tảo là nhóm sinh vật hiển vi có sự đa dạng lớn về thành phần loài, kích thước, phân bố và đặc tính sinh học. Chúng có ưu thế vượt trội về khả năng nhân sinh khối, giàu dinh dưỡng và các hoạt chất sinh học. Bởi vậy, vi tảo được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực đời sống. Những năm gần đây, vi tảo được đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển trên quy mô thử nghiệm và công nghiệp, mang lại nguồn nguyên liệu dồi dào phục vụ các mục đích thương mại, nông nghiệp, thủy sản, dược phẩm và mỹ phẩm. Trong nuôi trồng thủy sản, vi tảo được sử dụng trực tiếp như nguồn thức ăn quan trọng cho các ấu trùng trong giai đoạn sớm cũng như gián tiếp làm giàu thức ăn thông qua động vật phù du phục vụ nuôi vỗ và sản xuất giống. Tại Việt Nam, vi tảo hiện đang được phát triển và áp dụng mạnh mẽ, mang lại nhiều giá trị thực tiễn về kinh tế và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực cuộc sống. Các mô hình sản xuất đa dạng từ nuôi bể đơn giản tới nuôi hiệu suất cao bằng dàn quang sinh, bằng bể lên men đang được áp dụng với các loài quang tự dưỡng và dị dưỡng. Bài báo này trình bày khái quát các đặc tính sinh học, phương thức nuôi và ứng dụng của vi tảo, đặc biệt trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản.

    DOI: https://doi.org/10.71254/qktvd235
  • NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NGUỒN THẢI THUỘC DIỆN KHÔNG PHẢI CẤP PHÉP XẢ THẢI ĐẾN CÔNG TRÌNH THỦY LỢI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

    Abstract : 0 PDF: 0
    Vũ Thị Thanh Hương, Phạm Thị Phương Thảo, Phạm Ngọc Lưu
    79-87

    Nguồn thải thuộc diện không phải cấp phép xả thải chiếm tỷ trọng cao và có tác động rất lớn đến công trình thủy lợi (CTTL) vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) nhưng chưa được nghiên cứu, đánh giá đầy đủ. Kết quả nghiên cứu đã xác định được nguồn thải thuộc diện không phải cấp phép thuộc vùng nghiên cứu chiếm 87,24%, trong đó, nước thải sinh hoạt chiếm 56,74%, nước thải chăn nuôi chiếm 20,97%, nước thải nuôi trồng thủy sản (NTTS) chiếm 7,49%... Các tác động của nguồn thải này đến chất lượng nước trong CTTL, sản xuất nông nghiệp, NTTS, đời sống của các loài thủy sinh, công tác vận hành CTTL trong vùng nghiên cứu cũng được trình bày trong nội dung bài viết. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nếu chỉ quan tâm đến các nguồn thải thuộc diện phải cấp phép mà bỏ qua các nguồn thải thuộc diện không phải cấp phép (nguồn thải phân tán) sẽ không đạt được mục tiêu bảo vệ chất lượng trong CTTL vùng ĐBSH.

    DOI: https://doi.org/10.71254/nq2nwq64
  • NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ XẺ TẠO PHÔI GỖ HÌNH THANG DÙNG ĐỂ SẢN XUẤT GỖ GHÉP KHỐI

    Abstract : 0 PDF: 2
    Tạ Thị Phương Hoa, Vũ Huy Đại, Nguyễn Thế Nghiệp, Tống Thị Phượng, Nguyễn Thị Yên
    88-97

    Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu về công nghệ xẻ tạo phôi gỗ hình thang từ gỗ Keo lai để sản xuất gỗ ghép thanh, gỗ ghép kích thước lớn bao gồm một số kết quả sau: Xác định được sơ đồ xẻ gỗ Keo lai có đường kính từ 12 cm đến 18 cm, tạo phôi hình thang phù hợp với chiều dày phôi gỗ 42 mm, 48 mm, 55 mm đạt tỷ lệ lợi dụng (tỷ lệ thành khí) gỗ xẻ cao nhất; kết quả thử nghiệm cho thấy, tỷ lệ gỗ xẻ khi xẻ theo quy trình xẻ phôi hình thang đạt tỷ lệ khá cao từ 62,07% - 65,86%. Kích thước các phôi gỗ không sai lệch nhiều, đáp ứng yêu cầu về sai số kích thước gỗ xẻ theo TCVN 1075: 1971. Xây dựng được quy trình xẻ tạo phôi hình thang cho tỷ lệ lợi dụng gỗ cao hơn so với phương pháp xẻ tạo phôi hình chữ nhật thông thường 8% - 12%, làm giảm chi phí nguyên liệu, dẫn đến giảm giá thành sản phẩm gỗ ghép, đặc biệt rất phù hợp cho xẻ gỗ Keo rừng trồng và gỗ nhỏ tại Việt Nam. Độ bền cơ học gỗ ghép hình thang cao hơn so với gỗ ghép từ phôi gỗ hình chữ nhật thông thường, phôi gỗ được xẻ có tiết diện ngang hình thang cân với góc đáy 60o để sản xuất gỗ ghép làm tăng khả năng nối ghép, tăng độ chính xác và tạo nên tấm gỗ ghép có khả năng chịu uốn tĩnh tốt hơn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/s9y57x40
  • ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN ÉP VÀ LƯỢNG KEO TRẢI ĐẾN ĐỘ BỀN KÉO TRƯỢT MÀNG KEO VÀ ĐỘ BỀN UỐN CỦA VÁN GHÉP THANH GỖ CAO SU BẰNG PHƯƠNG PHÁP ÉP CAO TẦN

    Abstract : 1 PDF: 5
    Nguyễn Trọng Kiên, Trần Văn Trường, Nguyễn Thị Vĩnh Khánh
    98-105

    Cây cao su là loài cây kinh tế chủ lực của Việt Nam hiện nay, tính đến năm 2019 tổng diện tích là 941,3 nghìn ha. Hiện nay gỗ cao su sau khai thác mủ chủ yếu được dùng làm ván ghép thanh để sản xuất đồ gỗ xuất khẩu. Bài báo này nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian ép, lượng keo đến độ bền dán dính của màng keo và độ bền uốn của ván ghép thanh sử dụng máy ép cao tần. Kết quả nghiên cứu cho thấy, máy ép cao tần có tần số 27,5 MHz, áp suất ép 1,4 MPa, thời gian ép thay đổi 70 giây, 80 giây và 90 giây với lượng keo trải thay đổi 150 g/m2, 200 g/m2 và 250 g/m2, độ bền kéo trượt màng keo thấp nhất đạt 9,91 MPa và cao nhất đạt 10,98 MPa. Độ bền uốn MOR thấp nhất đạt 82,49 MPa và cao nhất đạt 86,59 MPa. Độ bền uốn của ván ghép đều có giá trị cao hơn so với gỗ nguyên (82,00 MPa). Độ bền kéo trượt màng keo, độ bền uốn MOR của ván ghép thanh phụ thuộc vào yếu tố lượng keo trải nhiều hơn so với yếu tố thời gian. Khi thời gian ép tăng, lượng keo trải tăng, độ bền kéo trượt màng keo cũng tăng theo, tuy nhiên khi lượng keo trải vượt quá 250 g/m2 thì độ bền kéo trượt màng keo lại có xu hướng giảm. Khi giải bài toán tối ưu, thời gian ép là 90 giây; lượng keo trải là 250 g/m2 cho giá trị cao nhất về độ bền kéo trượt màng keo, độ bền uốn của ván.

    DOI: https://doi.org/10.71254/y2bvm944
  • ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI TỈNH SƠN LA

    Abstract : 6 PDF: 4
    Đỗ Thị Tám, Nguyễn Chí Đô, Nguyễn Đắc Lực, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Phạm Anh Tuấn
    106-118

    Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Văn phòng đăng ký đất đai (VPĐKĐĐ) tỉnh Sơn La. Sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên để chọn 90 người sử dụng đất (NSDĐ) đến làm việc tại VPĐKĐĐ tỉnh và 2 chi nhánh. Sử dụng thang đo 5 mức của Likert để đánh giá hoạt động của VPĐKĐĐ. Sử dụng ANOVA và Post-hoc để so sánh sự khác biệt về giá trị trung bình của một số chỉ tiêu. Kết quả nghiên cứu cho thấy VPĐKĐĐ thiếu Phòng thông tin lưu trữ, thiếu trang thiết bị, trụ sở VPĐKĐĐ còn chật, chưa cập nhật hồ sơ thường xuyên. NSDĐ đánh giá hoạt của VPĐKĐĐ ở mức khá cao. Trong đó, khả năng tiếp cận các dịch vụ của VPĐKĐĐ, cơ sở vật chất của VPĐKĐĐ, thời gian hoàn thành các thủ tục tại VPĐKĐĐ, khả năng và thái độ làm việc của cán bộ được đánh giá ở mức cao. Trình tự và thủ tục thực hiện, việc thu phí và khả năng phối hợp hoạt động của VPĐKĐĐ được đánh giá ở mức rất cao. Cán bộ công chức, viên chức đánh giá mức độ công khai thủ tục hành chính và sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan đến VPĐKĐĐ ở mức rất cao. Điều kiện làm việc, phương tiện kỹ thuật của VPĐKĐĐ, số lượng cán bộ, các văn bản hướng dẫn thực hiện tại VPĐKĐĐ được đánh giá ở mức cao. Sự hiểu biết pháp luật của người dân và hệ thống hồ sơ địa chính được đánh giá ở mức thấp. Để nâng cao hiệu quả hoạt động của VPĐKĐĐ cần thực hiện các giải pháp sau: tăng cường tuyên truyền và phổ biến kiến thức pháp luật đến người dân; hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính; hoàn thiện trụ sở, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ thông tin; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; hoàn thiện quy chế phối hợp.

    DOI: https://doi.org/10.71254/33axem29