Số 9 (2022)
Bài viết
-
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỊU HẠN CỦA CÁC GIỐNG LÚA JAPONICA ĐỊA PHƯƠNG VIỆT NAM
Abstract : 1 PDF: 1Khả năng chịu hạn ở giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng của 62 giống lúa Japonica địa phương Việt Nam đã được đánh giá nhằm tuyển chọn các giống chịu hạn tiềm năng góp phần bổ sung nguồn vật liệu cho công tác chọn tạo giống lúa chịu hạn. Tại thời điểm 6 tuần tuổi, các mẫu giống được xử lý hạn trong điều kiện nhà lưới bằng cách ngừng tưới trong thời gian 4 tuần. Các chỉ tiêu hàm lượng nước tương đối trong lá, độ mất nước trong lá và cấp chống chịu được đánh giá sau mỗi tuần trong suốt quá trình xử lý hạn; khả năng phục hồi được đánh giá sau 2 tuần tưới nước trở lại. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau một tuần ngừng tưới tốc độ mất nước trong lá không đáng kể, tăng nhanh ở tuần thứ hai, sau đó giảm chậm hơn trong tuần thứ ba và tăng mạnh khi sang tuần thứ tư khiến các giống lúa rơi vào trạng thái héo khô hoặc chết. Đánh giá cấp chống chịu ghi nhận hầu hết các giống lúa Japonica địa phương có khả năng chịu hạn ở mức từ khá đến tốt sau tuần đầu tiên ngừng tưới và giảm dần ở tuần thứ 2-3. Không ghi nhận giống nào có khả năng chịu hạn sau 4 tuần ngừng tưới. Nhiều giống Japonica có khả năng phục hồi tốt sau 2 tuần tưới nước trở lại với tỷ lệ phục hồi dao động từ 0-77,8%. Nghiên cứu giúp sàng lọc được 15 mẫu giống có tiềm năng chịu hạn với khả năng duy trì trạng thái nước và phục hồi tốt; trong đó,
2 mẫu giống có tiềm năng chịu hạn tốt nhất là G86 và G98.
-
SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA KHOAI LANG LÀM RAU ĂN LÁ TẠI CÁC MỨC BÓN PHÂN HỮU CƠ KHÁC NHAU Ở THỪA THIÊN - HUẾ
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu được tiến hành với 5 mức bón phân hữu cơ (0 (ĐC), 5, 8, 11 và 14 tấn/ha) trên 02 giống khoai lang làm rau ăn lá VĐ1 và KLR3 nhằm xác định được mức bón phân hữu cơ thích hợp cho khoai lang làm rau ăn lá đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô lớn, ô nhỏ (split-plot) với 3 lần nhắc tại Viện Nghiên cứu và Phát triển, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế trong 02 vụ, vụ đông 2019 và vụ hè thu 2020. Các chỉ tiêu theo dõi thực hiện theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống khoai lang QCVN 01 - 60: 2011/BNNPTNT. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức bón phân hữu cơ thích hợp nhất cho giống VĐ1 và KLR3 trong vụ đông là 8 tấn/ha và vụ hè thu là 5 tấn/ha trên nền 100 kg N + 40 kg P2O5 + 60 kg K2O/ha. Vụ đông, tại mức bón 8 tấn/ha, giống VĐ1 đạt năng suất 13,47 tấn/ha, lãi 46.000.000 đồng/ha và VCR 6,75; giống KLR3 có năng suất đạt 12,40 tấn/ha, lãi 44.500.000 đồng/ha và VCR là 5,63. Vụ hè thu, tại mức bón 5 tấn/ha, giống VĐ1 đạt năng suất 8,30 tấn/ha, lãi 30.250.000 đồng/ha và VCR 7,05; giống KLR3 có năng suất đạt 8,58 tấn/ha, lãi 29.950.000 đồng/ha và VCR là 6,99. Từ kết quả nghiên cứu trên, bước đầu khuyến cáo sử dụng mức bón phân hữu cơ cho khoai lang làm rau ăn lá tại tỉnh Thừa Thiên - Huế là 8 tấn/ha trong vụ đông và 5 tấn/ha trong vụ hè thu trên nền 100 kg N + 40 kg P2O5 + 60 kg K2O/ha.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP PHÂN GIẢI PACLOBUTRAZOL LƯU TỒN TRONG ĐẤT VÀ LƯỢNG BÓN ĐẠM, LÂN ĐẾN NĂNG SUẤT, PHẨM CHẤT XOÀI CÁT HÒA LỘC, TỈNH TIỀN GIANG
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu được tiến hành trên cây xoài Cát Hòa Lộc 15 tuổi, mật độ trồng 270 cây/ha, hàng năm xử lý ra hoa bằng tưới Paclobutrazol (PBZ) vào đất với lượng 10 gr hoạt chất/gốc nhằm xác định được ảnh hưởng của biện pháp phân giải PBZ lưu tồn trong đất trồng xoài và lượng bón đạm, lân đến sinh trưởng, năng suất và phẩm chất xoài. Hai thí nghiệm được bố trí và thực hiện từ tháng 10/2019 - 10/2021. Thí nghiệm 1 nhân tố được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) gồm 4 nghiệm thức (NT), 3 lần lặp lại, mỗi NT 9 cây, tổng số cây thí nghiệm 36 cây. Thời gian thí nghiệm từ 1/10/2019 - 1/7/2020. Thí nghiệm 2 gồm 8 nghiệm thức, bố trí theo kiểu ô lớn - ô nhỏ với 2 lượng bón đạm (yếu tố ô lớn): N1 - 1,0 kg N/cây và N2 - 1,2 kg N/cây và 4 lượng bón lân (yếu tố ô nhỏ): P1- 0,6 kg P2O5/cây, P2 - 0,8 kg P2O5/cây, P3 - 1,0 kg P2O5/cây và P4 - 1,2 kg P2O5/cây. Kết quả thu được cho thấy: (1) Sử dụng các loại phân bón có chứa hữu cơ kết hợp với vôi đã tăng cường hoạt động của vi sinh vật đất và nhờ đó đã phân giải được Paclobutrazol lưu tồn trong đất. Đặc biệt khi sử dụng các loại phân bón có chứa vi sinh vật, mức độ phân giải Paclobutrazol càng tăng và theo thứ tự như sau: Chế phẩm vi sinh vật tự ủ (phân giải 99,77% trong vòng 9 tháng) > phân bón hữu cơ vi sinh BIMIX (96,95%) > phân bò hoai (83,44%). Đồng thời đã làm tăng phát triển của bộ rễ cả theo chiều ngang lẫn chiều sâu cũng như khối lượng rễ và làm tăng năng suất xoài ở mức có ý nghĩa (29,78 tấn/ha khi bón phân bón hữu cơ vi sinh BIMIX và 31,30 tấn/ha khi bón chế phẩm vi sinh vật tự ủ); (2) Lượng bón đạm, lân tạo ra sự khác biệt về số chùm quả/cây, kích thước quả, khối lượng quả; cho năng suất quả thực thu đạt cao nhất 39,96 tấn/ha ở nghiệm thức N2P4 (bón 1,2 kg N +1,2 kg P2O5/cây) trên nền bón 50 kg phân bò hoai + 1,1 kg vôi + 1,0 kg K2O/cây; cho lãi thuần cao hơn đối chứng 1.341,60 triệu đồng/ha, có tỷ lệ lãi thuần cao hơn đối chứng 61,02%.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN, PHƯƠNG THỨC TRỒNG ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ KHẢ NĂNG PHÒNG CHỐNG SÂU ĐỤC NGỌN RỪNG TRỒNG LÁT HOA TẠI TỈNH HÒA BÌNH
Abstract : 1 PDF: 0Cây Lát hoa đang được trồng phổ biến ở Việt Nam với giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, việc trồng rừng kinh doanh loài cây này thường bị sâu đục ngọn gây hại. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của các thí nghiệm bón phân và phương thức trồng đến sinh trưởng và khả năng phòng chống sâu đục ngọn tại tỉnh Hòa Bình. Kết quả cho thấy, cây Lát hoa có sinh trưởng chiều cao tốt nhất ở công thức bón liều lượng 300 g NPK/hố và mức độ bị sâu đục ngọn ở công thức này cũng giảm 65,9% so với thí nghiệm đối chứng. Mặc dù sinh trưởng chiều cao của cây Lát hoa được trồng phân tán trong vườn chè và trồng làm giàu rừng kém hơn so với trồng dưới tán rừng trồng keo nhưng hiệu quả phòng chống sâu đục ngọn của hai phương thức này đạt 51,9% so với trồng thuần loài. Các kết quả nghiên cứu này sẽ là cơ sở để triển khai giải pháp phòng chống tổng hợp sâu đục ngọn gây hại cây Lát hoa ở rừng trồng và góp phần hoàn thiện kỹ thuật trồng thâm canh Lát hoa.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA BỔ SUNG BỘT TỎI LÊN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG GÀ TÂY
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu này nhằm xác định sự ảnh hưởng của việc bổ sung bột tỏi trong khẩu phần lên khả năng tăng trưởng của gà tây giai đoạn 5-14 tuần tuổi. Gà tây nuôi thí nghiệm là những con khỏe mạnh, có khối lượng đầu vào tương đương nhau ở các lô thí nghiệm và trong cùng điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 NT và 3 lần lặp lại. Các NT là các mức độ bổ sung bột tỏi trong khẩu phần của gà tây là 2%, 4%, 6% và NT đối chứng không bổ sung bột tỏi trong khẩu phần. Kết quả cho thấy NT có tỷ lệ 2% bột tỏi trong khẩu phần của gà tây giai đoạn 5-14 tuần tuổi, tăng khối lượng cao hơn và tiêu tốn thức ăn ở mức thấp hơn các NT khác (p<0,05).
-
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NUÔI CHIM YẾN NHÀ (Aerodramus fuciphagus amechanus) VÀ PHẠM VI TÁC ĐỘNG TIẾNG ỒN CỦA ÂM LƯỢNG NHÀ NUÔI CHIM YẾN Ở MỘT SỐ KHU VỰC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Abstract : 1 PDF: 0Bài báo trình bày kết quả đánh giá hiện trạng các hộ nuôi chim yến trong nhà và đặc điểm kỹ thuật nhà nuôi yến bằng phương pháp PRA kết hợp khảo sát trực tiếp nhà nuôi chim yến tại một số khu vực ở thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy, người nuôi có kinh nghiệm, đa số nhà yến nằm tập trung tại các khu dân cư hoặc nằm thành cụm ở một số khu vực, số nhà yến được xây mới chiếm 68% và độ tuổi của nhà yến được xây 10 năm trở lại đây chiếm tỷ lệ cao nhất. Nhà yến thường được xây bằng tường gạch (88%), có số tầng 2 tầng – 4 tầng (87%), diện tích dao động từ 200 m2 – 600 m2, mái nhà nuôi yến thường là mái bằng, vật liệu làm mái thường bằng bê tông hoặc tôn lạnh. Cửa ra vào của nhà yến cũng khá đa dạng, chiếm tỷ lệ cao nhất là hướng Đông (21%). Hệ thống thông gió ở các nhà yến thường dùng ống hình chữ L hoặc bằng 2 lớp gạch so le giữa trong và ngoài, khoảng cách giữa các lỗ thông gió khá dày, khoảng cách thường <1 m (54%). Giá cho chim yến làm tổ thường được làm bằng ván gỗ (91%). Chi phí cho việc xây dựng và mua thiết bị cho nhà yến cao, chiếm 98% tổng chi phí, sản lượng trung bình thu được 7,68 ± 2,09 kg/năm/nhà. Việc đánh giá độ ồn từ loa dẫn dụ nhà nuôi chim yến bằng máy đo độ ồn cầm tay SL4202 đo tiếng ồn theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7878-1: 2008 cho thấy, đối với các nhà nuôi yến nằm trong khu dân cư có độ ồn trung bình đo được khá cao 79 DBA, vượt quá ngưỡng cho phép theo QCVN 26: 2010/BTNMT 19 DBA.
-
TÍNH CHẤT VẬT LÝ VÀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA CÀ PHÊ NHÂN TÂY NGUYÊN
Abstract : 1 PDF: 0Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai trên thế giới, tuy nhiên những nghiên cứu về cà phê Việt Nam còn hạn chế. Một số tính chất vật lý và thành phần hóa học cà phê có vai trò quan trọng trong nhận diện sản phẩm cũng như làm cơ sở thiết kế công nghệ chế biến. Nghiên cứu này nhằm khảo sát các đặc trưng cơ bản về tính chất vật lý và thành phần hoá học của cà phê nhân Tây Nguyên. Về tính chất vật lý, các hạt Arabica có chiều dài và chiều rộng (10,09 mm và 7,47 mm) lớn hơn hạt Robusta (9,52 mm và 7,05 mm); bề dày, độ cầu, mật độ khối của hạt Arabica (4,18 mm; 0,68; 0,68 g/cm3) nhỏ hơn Robusta (4,41 mm; 0,70; 0,72 g/cm3). Về thành phần hóa học, Arabica có hàm lượng chất khô hoà tan, lipid tổng, đường khử (33,91%db; 16,36%db; 0,19%db) cao hơn Robusta (31,54%db; 16,36%db; 0,15%db); hàm lượng caffeine, phenolic tổng, hoạt tính kháng oxy hoá; chất khô của Arabica (1,58%db, 2,97%db; 392,01 µmol trolox/g chất khô) thấp hơn Robusta (3,13%db; 5,87%db; 806,25 µmol trolox/g chất khô). Các tính chất khác bao gồm tỉ lệ giữa chiều rộng và dài, diện tích bề mặt, khối lượng 100 hạt, pH dịch trích không có khác biệt đáng kể ở độ tin cậy 95%. Giữa cà phê Robusta có nguồn gốc từ các tỉnh khác nhau trong khu vực Tây Nguyên, Robusta Đắk Nông thể hiện đặc trưng rõ rệt. Dựa vào các tính chất đã khảo sát, sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) để phân nhóm và nhận thấy có sự phân nhóm tốt giữa giống Robusta và Arabica. Tuy nhiên, dấu hiệu nhận diện để phân nhóm dựa trên khu vực canh tác chưa rõ ràng.
-
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA CỦA LÁ TRÂM MỐC
Abstract : 0 PDF: 1Cây Trâm mốc (Syzygium cumini), họ Sim (Myrtaceae), còn gọi là cây Vối rừng đã được dùng làm thức uống truyền thống của người dân Việt Nam. Các bộ phận khác nhau của Trâm mốc đều có tác dụng chống viêm, kháng khuẩn, kháng nấm, chống sốt rét và trị bệnh đái tháo đường. Trong nghiên cứu này, thành phần hóa học và hoạt tính chống oxy hóa của cao chiết lá Trâm mốc được nghiên cứu. Tiến hành khảo sát sơ bộ các nhóm chất chính theo phương pháp Ciulei cho thấy, lá Trâm mốc có mặt các nhóm chất chính như flavonoid, proanthocyanidin, tanin, triterpenoid, axit hữu cơ, carotenoid, tinh dầu và hợp chất polyuronic. Chiết ngấm kiệt bột nguyên liệu khô từ lá Trâm mốc bằng ethanol 80% và lắc phân bố với các dung môi n - hexan, cloroform, ethyl acetat để thu cao toàn phần và các cao phân đoạn. Hoạt tính chống oxy hóa của các cao chiết được đánh giá bằng thử nghiệm quét gốc tự do DPPH. Kết quả cho thấy, ở mức liều 18 µg/mL, các cao chiết đều có khả năng chống oxy hóa, trong đó, cao phân đoạn etyl acetat có hoạt tính quét gốc tự do DPPH cao nhất 94,50%.
-
XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DƯ LƯỢNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT HỌ CÚC SỬ DỤNG QUECHERS AOAC 2007.01 TRÊN THIẾT BỊ GC/MS/MS
Abstract : 1 PDF: 0Xây dựng phương pháp xác định dư lượng thuốc bảo vệ thực vật họ Cúc tổng hợp trong hồ tiêu xanh, ứng dụng vào kiểm soát chất lượng hồ tiêu xuất khẩu. Phương pháp được xây dựng dựa trên tiêu chuẩn AOAC 2007.01, sử dụng QuEChERS trong quá trình xử lý mẫu để loại bỏ các chất gây ảnh hưởng đến quá trình tách chiết như chất béo, màu,... Dịch chiết thu được sẽ phân tích trên thiết bị sắc ký khí ghép nối đầu dò khối phổ MS (GC/MS/MS). Thực hiện phân tích các chất gồm: Acrinathrin, Cyfluthrin, Cyhalothrin, Cypermethrin, Deltamethrin, Etofenprox, Fenvalerate, Permethrin, Tetramethrin trên nền mẫu hạt hồ tiêu xanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, độ tuyến tính tương đối tốt với hệ số tương quan (R2) đều đạt trên 0,995, hiệu suất thu hồi đạt trên 89%, giới hạn phát hiện thấp nhất của phương pháp đạt từ 1,642 ppb, độ lệch chuẩn tốt nhất của phương pháp đạt 1,37%.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN THỦY PHÂN VÀ LOẠI ENZYM ĐẾN QUÁ TRÌNH THỦY PHÂN SỤN CÁ HỒI (Salmon salar) THU CHONDROITIN SULFATE BẰNG PROTEASE
Abstract : 1 PDF: 1Nội dung bài báo trình bày một phần kết quả nghiên cứu thủy phân sụn cá hồi (Salmon salar) bằng hỗn hợp enzym alcalase - papain. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các enzym: neutrase, alcalase, flavourzyme, papain và hỗn hợp enzym alcalase - papain đều có khả năng thủy phân hỗn hợp sụn cá hồi, tuy nhiên trong cùng điều kiện thử nghiệm thì hỗn hợp enzym alcalase – papain đạt hiệu suất thủy phân cao hơn so với các enzym đơn lẻ ở trên. Cụ thể, trong điều kiện thủy phân ở pH tự nhiên, tỷ lệ enzym bổ sung 0,4%, lượng nước bổ sung 100% và nhiệt độ thủy phân 550C, hỗn hợp enzym alcalase - papain có khả năng thủy phân sụn cá hồi thu dịch thủy phân chứa hàm lượng protein hòa tan, peptid, axit amin, chondroitin sulfate cao hơn tương ứng 1,43 lần, 2,81 lần, 2,31 lần, 12,19 lần so với ban đầu.
-
BIẾN ĐỘNG MỰC NƯỚC VÀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT: NGHIÊN CỨU TẠI TẦNG qp2-3 THUỘC BÁN ĐẢO CÀ MAU, VIỆT NAM
Abstract : 0 PDF: 1Nghiên cứu được thực hiện tại bán đảo Cà Mau với các mục tiêu: (i) phân tích và đánh giá xu thế sụt giảm mực nước dưới đất (NDĐ) tại tầng Pleistocene giữa - trên (qp2-3) trong mùa mưa và mùa khô; (ii) xác định sự biến động và phân loại chất lượng NDĐ theo không gian và thời gian theo 9 chỉ tiêu (pH, Fe, NO3-, CaCO3, Cl-, SO42-, COD, BOD và Coliform). Nghiên cứu sử dụng phương pháp kiểm định phi tham số Mann - Kendall, phân tích đa biến và chỉ số chất lượng nước. Kết quả cho thấy mực NDĐ tại tầng qp2-3 có xu thế sụt giảm trong mùa mưa và mùa khô ở mức ý nghĩa 95%. Kết quả phân tích thành phần chính cho thấy vào mùa khô chỉ tiêu BOD và COD có sự biến động lớn nhất (sự khác biệt lớn hơn 80%). Vào mùa mưa, các chỉ tiêu BOD, COD và CaCO3 ảnh hưởng lớn đến chất lượng NDĐ. Ngoài ra, kết quả phân tích nhóm thứ bậc chia làm 4 nhóm đối với mùa khô và 6 nhóm đối với mùa mưa với sự khác biệt 40%. Mặt khác, mực NDĐ có xu thế giảm dần theo thời gian: cụ thể giảm từ 0,24 m/năm - 0,25 m/năm đối với toàn khu vực, trong đó sụt giảm nhiều nhất tại Bạc Liêu vào mùa khô (0,44 m/năm) và tại Cà Mau vào mùa mưa (0,46 m/năm). Mặc dù các số chỉ tiêu chất lượng nước như BOD, COD và CaCO3 có xu thế tăng, nhưng sự gia tăng này không có ý nghĩa thống kê.
-
ĐA DẠNG NGUỒN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC TẠI HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Kết quả điều tra đã xác định được 898 loài thực vật có giá trị làm thuốc, thuộc 551 chi, 160 họ thuộc 6 ngành thực vật bậc cao có mạch (Lycopodiophyta, Polypodiophyta, Cycadophyta, Gnetophyta, Pinophyta và Magnoliophyta). Trong đó, ngành Ngọc lan là đa dạng nhất chiếm 94,99% tổng số loài cây thuốc. Có 6 dạng sống chính của cây thuốc được ghi nhận (Cây thân gỗ, cây bụi, dây leo, thân thảo, phụ sinh và ký sinh), nhóm cây thân gỗ chiếm tỷ lệ cao nhất đến 43,21%. Các bộ phận sử dụng của cây thuốc được chia thành 6 nhóm (thân/vỏ, lá/cành, rễ/rễ củ, cả cây, hoa/quả/hạt và nhóm nhựa/mủ), trong đó nhóm sử dụng bộ phận lá/cành (L) và rễ/rễ củ, củ (R) được sử dụng nhiều nhất, chiếm từ 31% đến 35%. Các kết quả điều tra cho thấy, có 20 nhóm bệnh được chữa trị bằng cây thuốc, trong đó nhóm trị bệnh ngoài da, nhóm trị bệnh về gan, thận, mật, đường tiết niệu và nhóm trị bệnh đường tiêu hóa là 3 nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất từ 28% đến 35%. 42 loài cây thuốc bị đe dọa có giá trị bảo tồn cao trong khu vực nghiên cứu, trong đó 28 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (2019), 14 loài nằm trong Nghị định số 84/2021/NĐ-CP.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ ÁP DỤNG CƠ GIỚI HÓA TẠI HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu này tập trung xác định sự ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và áp dụng cơ giới hóa tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Nghiên cứu sử dụng thang đo Likert theo 5 cấp để đánh giá tình hình thực hiện dồn điền đổi thửa, chuyển đổi đất trồng lúa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và áp dụng cơ giới hóa; phương pháp hồi quy để phân tích mức độ ảnh hưởng của các nội dung liên quan chính sách đất đai. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trước dồn điền đổi thửa, diện tích trung bình thửa đất trồng cây hàng năm là 723 m2/thửa với 116.024 thửa, gây nhiều khó khăn trong sản xuất; sau dồn điền đổi thửa, bình quân thửa/hộ là 2,11. Mô hình hồi quy cho thấy, nhân tố SOTHUA có ảnh hưởng theo chiều thuận lớn nhất đến VA/ha/năm của hộ. Khi trung bình số thửa đất có ảnh hưởng theo chiều dương, giá trị gia tăng của đất trồng lúa tăng lên 0,805 triệu đồng/ha. Bên cạnh đó, nhân tố VITRI có ảnh hưởng theo chiều thuận lớn nhất đến cơ giới hóa của hộ. Khi vị trí thửa đất có ảnh hưởng theo chiều dương tăng lên 1 đơn vị, việc áp dụng cơ giới hóa hộ tăng lên 0,595 đơn vị.
-
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHỈ TIÊU QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2020
Abstract : 1 PDF: 0Quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên. QHSDĐ của huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2011 đến năm 2020 là cơ sở trong việc giao đất, thu hồi đất và xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu của phương án QHSDĐ và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thực hiện QHSDĐ giai đoạn tiếp theo. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong tổng số 1.052 công trình theo quy hoạch, thực hiện được 448 công trình và 604 công trình chưa thực hiện được từ năm 2011 đến năm 2020. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất, các công trình chưa thành công do nhiều nguyên nhân như các dự báo trong QHSDĐ còn hạn chế, thiếu nguồn lực và điều kiện thực hiện, đăng ký nhu cầu không sát thực tế. Như vậy, để thực hiện tốt hơn phương án QHSDĐ cần có những giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương, như cơ chế, chính sách, vốn đầu tư, thị trường, tổ chức thực hiện.
-
ĐỘNG LỰC HỌC TẬP XÃ HỘI CHUYỂN ĐỔI CỦA NÔNG HỘ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI PHÁ TAM GIANG, TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu này nhằm khám phá các động lực quan trọng của học tập xã hội chuyển đổi ở phá Tam Giang có thể thúc đẩy và củng cố các quy trình và thực hành chuyển đổi nông nghiệp bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn sâu (n = 6), thảo luận nhóm tập trung (n=2) và phỏng vấn bán cấu trúc nông hộ nuôi trồng thủy sản (n = 88) tại huyện Quảng Điền. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quá trình phát triển của mô hình nuôi trồng thủy sản xen ghép đã tăng lên cả về số nông hộ, diện tích nuôi và đa dạng loài thủy sản. Nông hộ cho biết các tác động của biến đổi khí hậu ngày càng tăng do lũ lụt, ô nhiễm nước và bão. Quá trình học tập xã hội chuyển đổi trải qua 3 giai đoạn và có 7 động lực thực tế quan trọng đã tác động đến quá trình học tập xã hội chuyển đổi của nông hộ nuôi trồng thủy sản nhằm phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghiên cứu này đóng góp những hiểu biết sâu sắc của các nhà nghiên cứu và phát triển nông thôn trong việc xác định các động lực thực sự của học tập xã hội chuyển đổi và kinh nghiệm của nông hộ để đối phó với những thay đổi của biến đổi khí hậu và thị trường trong bối cảnh phát triển bền vững.








