ẢNH HƯỞNG CỦA BỔ SUNG BỘT TỎI LÊN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG GÀ TÂY

Các tác giả

  • Nguyễn Thanh Thủy

DOI:

https://doi.org/10.71254/4ta13b02

Abstract

A study was conducted to determine the effects of garlic powder levels in diets on the growth performance of growing Turkey from 5 to 14 weeks of age. Birds in each treatment were selected in the same, initial weight and care conditions. The experiment was a completely randomized design with 4 treatments and 3 replicates. The treatments were garlic powder levels of 0%, 2%, 4% and 6%, respectively. The results showed that the dietary garlic powder levels of 2% was optimal for Turkey from 5 to 14 weeks of age, in weight gain, final live weight and FCR (p<0.05).

Keywords:

Garlic powder, Turkey, feed conversion ratio, weight gain.

Tóm tắt

Nghiên cứu này nhằm xác định sự ảnh hưởng của việc bổ sung bột tỏi trong khẩu phần lên khả năng tăng trưởng của gà tây giai đoạn 5-14 tuần tuổi. Gà tây nuôi thí nghiệm là những con khỏe mạnh, có khối lượng đầu vào tương đương nhau ở các lô thí nghiệm và trong cùng điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 NT và 3 lần lặp lại. Các NT là các mức độ bổ sung bột tỏi trong khẩu phần của gà tây là 2%, 4%, 6% và NT đối chứng không bổ sung bột tỏi trong khẩu phần. Kết quả cho thấy NT có tỷ lệ 2% bột tỏi trong khẩu phần của gà tây giai đoạn 5-14 tuần tuổi, tăng khối lượng cao hơn và tiêu tốn thức ăn ở mức thấp hơn các NT khác (p<0,05).

Từ khóa:

Bột tỏi, gà tây, hệ số chuyển hóa thức ăn, tăng khối lượng.

Tải xuống

Ngày nhận bài:

14-07-2026

Ngày nhận bài sửa:

26-08-2026

Ngày duyệt đăng:

26-08-2026

Ngày xuất bản:

16-05-2022

Title:

EFFECT OF DIETARY GARLIC POWDER LEVELS ON GROWTH PERFORMANCE OF TURKEY
Cách trích dẫn
ẢNH HƯỞNG CỦA BỔ SUNG BỘT TỎI LÊN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG GÀ TÂY. (2022). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, 9, 34-40. https://doi.org/10.71254/4ta13b02
Bài viết

Các trích dẫn

ẢNH HƯỞNG CỦA BỔ SUNG BỘT TỎI LÊN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG GÀ TÂY. (2022). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, 9, 34-40. https://doi.org/10.71254/4ta13b02
Lượt xem
1
Lượt tải
1