Số 6 (2021)

					Xem Số 6 (2021)
Đã Xuất bản: 30-03-2021

Bài viết

  • KHẢO SÁT KHẢ NĂNG CỐ ĐỊNH ĐẠM, HÒA TAN LÂN VÀ TỔNG HỢP IAA CỦA CÁC CHỦNG VI KHUẨN VÙNG RỄ VÀ ẢNH HƯỞNG LÊN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ   PHÁT TRIỂN CỦA CÂY DƯA CHUỘT TRONG ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM

    Abstract : 15 PDF: 12
    Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Phi Oanh, Nguyễn Đắc Khoa
    3-11

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát khả năng cố định đạm, hòa tan lân và tổng hợp IAA của 15 chủng vi khuẩn được phân lập từ đất vùng rễ dưa chuột tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả cho thấy tất cả 15 chủng vi khuẩn được khảo sát đều có khả năng cố định đạm, hòa tan lân và tổng hợp IAA. Chủng ĐTII7 có khả năng cố định đạm cao nhất với lượng đạm là 1,153 mg/L; chủng TV14 là chủng có khả năng hòa tan lân cao nhất với lượng lân hòa tan là 36,924 mg/L và chủng VL4.6 tổng hợp IAA cao nhất là 0,775 µg/mL. Tuyển chọn 6 chủng vi khuẩn CL8, CL16, STI2, STI9, AG12 và ĐTII7 có đặc tính tốt để khảo sát ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây dưa chuột trong điều kiện phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy tất cả các chủng vi khuẩn được khảo sát đều có ảnh hưởng tốt đến sự sinh trưởng và phát triển của cây dưa chuột trong điều kiện phòng thí nghiệm, các chỉ tiêu theo dõi đều cao hơn so với đối chứng âm. Tuy nhiên 3 chủng có triển vọng nhất là STI2, CL16 và CL8 với lượng đạm lần lượt là 0,012; 0,006; 0,021 mg/l và các chỉ số sinh trưởng tốt nhất trong số 6 chủng vi khuẩn khảo sát ở điều kiện phòng thí nghiệm. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/jn04n656
  • NHÂN IN VITRO RỄ BẤT ĐỊNH CÂY NGŨ GIA BÌ CHÂN CHIM Schefflera octophylla (Lour.) Harms BẰNG PHƯƠNG PHÁP NUÔI LỎNG LẮC 

    Abstract : 9 PDF: 5
    Huỳnh Thị Lũy, Nguyễn Hữu Hổ, Bùi Văn Lệ
    12-20

    Ngũ gia bì chân chim (Schefflera octophylla (Lour.) Harms), thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae), là loài thực vật chứa nhiều thành phần hóa học có tác dụng dược lý; các bộ phận của cây đều được sử dụng để làm thuốc trong Đông y với nhiều công dụng khác nhau. Trong nuôi cấy mô cây dược liệu, rễ bất định luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm thực hiện. Nội dung bài này trình bày kết quả nghiên cứu nhân in vitro rễ bất định NGBCC thông qua sự phân nhánh của rễ dưới ảnh hưởng của một số yếu tố như loại và nồng độ chất điều hòa sinh trưởng, nồng độ đường saccharose, khối lượng rễ nuôi cấy ban đầu. Trong điều kiện nuôi lỏng lắc, kết quả cho thấy rễ phân nhánh và tăng trưởng sinh khối mạnh nhất trong môi trường 1/2MS có 2 mg/L NAA so với 2 mg/L IBA, có 30 g/L đường; khối lượng rễ dùng nuôi cấy thích hợp là 2% (w/v) (hệ số nhân rễ cao nhất trong môi trường có 2 mg/L NAA, 2 mg/L IBA lần lượt là 13,04 và 12,08 ở 42 ngày sau cấy). Số liệu về sự tăng trưởng sinh khối rễ hàng tuần trong thời gian 49 ngày đã được thu thập. Đây là công trình đầu tiên về nhân rễ bất định ở NGBCC bằng phương pháp nuôi cấy lỏng lắc, tạo tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo về sự tích lũy/sản xuất các hợp chất thứ cấp trong rễ. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/msqrrw69
  • ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ DIỄN BIẾN VỀ MẬT ĐỘ CỦA MỘT SỐ LOÀI SÂU HẠI CHÍNH TRÊN CÁC GIỐNG SEN (Nelumbo nucifera Gaertn.) TẠI THỪA THIÊN - HUẾ

    Abstract : 18 PDF: 10
    Lê Khắc Phúc, Trần Thị Hoàng Đông, Nguyễn Thị Giang
    21-28

    Đánh giá đặc điểm nông sinh học, tình hình dịch hại trên các giống sen trồng tại Thừa Thiên - Huế nhằm mục đích đánh giá sự ổn định của giống và đề xuất biện pháp canh tác hiệu quả cho các giống sen. Kết quả cho thấy các giống sen Yên Thành, Kim Liên và Cao sản đều phù hợp với điều kiện Thừa Thiên - Huế. Thời gian từ trồng đến thu hoạch gương từ 118 đến 135 ngày. Kiểu hoa của các giống đều là cánh đơn, màu hoa hồng đậm (sen Yên Thành) đến hồng nhạt (sen Kim Liên) và hồng tím (sen Cao sản), màu hạt phấn đều vàng cam ở cả ba giống. Đường kính gương từ 10,01 cm (sen Kim Liên) đến 13,91 cm (sen Cao sản). Năng suất thực thu hạt tươi đạt 6,44 tấn/ha (sen Kim Liên) đến 10,84 tấn/ha (sen Cao sản). Dịch hại rất phổ biến trên các giống gồm sâu khoang, bọ trĩ và rầy mềm, mật độ phát sinh gây hại sau khi sen mọc lá dù và đạt mật độ cao sau trồng 84 ngày (năm 2019) và sau trồng 98 ngày (năm 2020). Mật độ sâu khoang đạt cao nhất từ 8,94 con/lá (sen Cao sản) đến 13,27 con/lá (sen Yên Thành), mật độ bọ trĩ đạt 67,41 con/lá (sen Cao sản) đến 92,83 con/lá (sen Kim Liên), mật độ rầy mềm đạt tới 420,13 con/lá (sen Yên Thành) đến 581,67 con/lá (sen Cao sản). Hiệu lực phòng chống sâu khoang đạt cao nhất sau khi phun thuốc 7 ngày (từ 96,52% đến 99,68%), hiệu lực chống bọ trĩ sau xử lý 7 ngày (từ 96,56% đến 98,51%), trong khi đó hiệu lực chống rầy mềm sau khi xử lý 3 ngày (từ 84,18% đến 91,69%). 

    DOI: https://doi.org/10.71254/g2ynj334
  • NHÂN GIỐNG CÂY OẢI HƯƠNG (Lavandula angustifolia Mill.) BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM

    Abstract : 7 PDF: 11
    Trần Thị Nhung, Hoàng Thị Như Phương, Trương Thị Lan Anh, Nguyễn Văn Giang, Trần Văn Tiến
    29-34

    Oải hương (Lavandula angustifolia) là loài cây có ý nghĩa về dược liệu cũng như hương liệu, có thể trồng để thương mại hóa. Việc nhân giống vô tính để tạo ra một số lượng lớn cây giống và có tính đồng nhất về mặt di truyền bằng phương pháp giâm hom trong điều kiện Việt Nam chưa được thực hiện. Trong nghiên cứu này, ảnh hưởng của auxin, vị trí hom giâm, giá thể và thời vụ giâm hom được tiến hành thực hiện. Các chỉ tiêu về tỷ lệ phần trăm ra rễ, số lượng rễ, chiều dài của rễ dài nhất được sử dụng để đánh giá. Sau 3 tuần giâm hom, kết quả cho thấy RED và NAA (100 mg/l) auxin, hom giâm ở đầu cành, giá thể là xơ dừa và thời gian vào mùa ấm ảnh hưởng tốt nhất đến khả năng ra rễ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/whdzen53
  • NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN MỘT SỐ MẪU GIỐNG ĐỊA HOÀNG (Rehmannia glutinosa Libosch.) TRIỂN VỌNG PHỤC VỤ SẢN XUẤT 

    Abstract : 12 PDF: 12
    Nguyễn Thị Hương, Trịnh Văn Vượng, Nguyễn Thị Xuyên, Lê Thị Quỳnh Nga, Nguyễn Quang Tin, Vũ Hoài Sâm
    35-39

    Địa hoàng là cây thuốc quý, có giá trị sử dụng cao trong y học cổ truyền. Do nhân giống vô tính từ củ nhiều năm nên năng suất và chất lượng địa hoàng ở Việt Nam đã bị thoái hóa rõ rệt. Ngoài ra, ruộng sản xuất thường dễ bị nhiễm bệnh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng của cây và năng suất dược liệu. Trong nghiên cứu này, 10 mẫu giống địa hoàng bao gồm cả mẫu thu thập trong nước và nước ngoài đã được đánh giá ở Thanh Trì (Hà Nội) để chọn ra được mẫu giống chất lượng cao phục vụ sản xuất. Kết quả thu được cho thấy, các mẫu giống địa hoàng có năng suất dao động từ 12,43 – 19,65 tấn/ha, hàm lượng catapol từ 0,39-1,92% ở năm thứ nhất và 12,83 – 22,75 tấn/ha, hàm lượng catapol từ 0,77 – 2,06% ở năm thứ hai. Qua đánh giá đã chọn được mẫu giống R.S-02 có nhiều ưu điểm như: có khả năng thích nghi cao, chống chịu với một số loại bệnh hại mức khá, năng suất đạt 22,75 tấn/ha dược liệu tươi, hàm lượng catapol cao và tương đối ổn định (1,92% năm thứ nhất và 1,88% năm thứ 2). Khuyến nghị nhân mẫu giống triển vọng này để đưa vào sản xuất. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/pfv7mn47
  • NGHIÊN CỨU MẬT ĐỘ VÀ LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN THÍCH HỢP CHO GIỐNG ĐẬU TƯƠNG ĐT32 TRONG VỤ ĐÔNG TRÊN ĐẤT ƯỚT TẠI HÀ NỘI

    Abstract : 7 PDF: 8
    Phạm Thị Xuân, Trần Thị Trường, Trần Danh Sửu
    40-45

    Thí nghiệm nghiên cứu mật độ và liều lượng phân bón cho giống đậu tương ĐT32 được thực hiện trong vụ đông năm 2018 và vụ đông năm 2019 tại huyện Mỹ Đức và huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Thí nghiệm tiến hành đánh giá ảnh hưởng của 4 mật độ trồng (35; 40; 45 và 50 cây/m2) và 3 liều lượng phân bón: (20 kg N + 40 kg P2O5 + 40 kg K2O +)/ha; (30 kg N + 60 kg P2O5 + 60 kg K2O)/ha và (40 kg N + 80 kg P2O5 + 80 kg K2O)/ha đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đậu tương ĐT32. Kết quả cho thấy, giống đậu tương ĐT32 đạt năng suất cao nhất ở mật độ gieo 40 - 45 cây/m2; liều lượng phân bón (30 - 40) kg N + (60 - 80) kg P2O5 + (60 - 80) kg K2O. Với các mật độ và lượng phân bón trên, năng suất thực thu của giống đậu tương ĐT32 đạt từ 2,52 - 2,68 tấn/ha, khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các mật độ và liều lượng phân bón khác. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/xw326b64
  • ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN ĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG QUẢ THANH LONG RUỘT ĐỎ TẠI THÁI NGUYÊN 

    Abstract : 16 PDF: 12
    Đào Xuân Thanh, Lã Văn Hiền, Nguyễn Tiến Dũng, Bùi Trí Thức, Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Minh Tuấn, Trần Đình Hà, Nguyễn Thị Hà, Ngô Xuân Bình
    46-50

    Thí nghiệm được tiến hành trên vườn thanh long 6-7 tuổi tại Thái Nguyên với mục đích xác định ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến khả năng ra hoa, đậu quả, tăng năng suất và chất lượng quả thanh long. Kết quả thí nghiệm cho thấy: giống thanh long ruột đỏ có thể được thâm canh tốt trong điều kiện sinh thái tỉnh Thái Nguyên. Bón phân với liều lượng 450 g N + 650 g K2O/trụ/năm trên nền 3 kg phân hữu cơ vi sinh và 500 g P205/trụ/năm cho kết quả tốt, tăng khả năng ra hoa (đạt tổng số hoa 205,3 hoa/trụ/năm so với đối chứng chỉ đạt 154 hoa/trụ/năm), tăng số lần ra hoa trong 1 năm (đạt 8 lần ra hoa so với đối chứng chỉ đạt 7 lần), tăng tỷ lệ đậu quả (tỷ lệ đậu quả đạt 52,05% so với đối chứng chỉ đạt 45,5%) và tăng năng suất, đạt giá trị 42,48 kg/trụ/năm (đối chứng chỉ đạt 23,31 kg/trụ/năm). Đồng thời các chỉ tiêu chất lượng quả được cải thiện, mã quả đẹp, hấp dẫn hơn so với đối chứng. Kết quả thí nghiệm là cơ sở khoa học quan trọng để xây dựng qui trình sản xuất thanh long bền vững, hiệu quả tại Thái Nguyên. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/9mpsq736
  • HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PHÂN HỮU CƠ KHOÁNG SINH HỌC TMG 5.5.3 VÀ TMR 4.3.5 ĐỐI VỚI CÂY CÀ CHUA TRÊN ĐẤT ĐỎ NÂU TẠI MỘC CHÂU, SƠN LA 

    Abstract : 13 PDF: 10
    Ngô Đức Long, Vũ Quang Định, Trần Đức Phúc, Phạm Văn Toán, Vũ Thị Hòa, Cao Kỳ Sơn
    51-57

    Thí nghiệm được tiến hành trên cà chua giống Montavi trên đất đỏ nâu trên đá vôi tại bản Cóc, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La trong 2 vụ trong năm 2020. Các yếu tố hạn chế chính của đất là chua, nghèo hữu cơ và lân dễ tiêu thấp. Kết quả thí nghiệm cho thấy: mức bón thấp: Công thức 5, sử dụng TMG 5-5-3 và TMR 4-3-5 với liều lượng (kg/ha) 222 N, 213 P2O5 và 158 K2O, giảm 6,8%N, 9,0% P2O5 và 11,3% K2O so với đối chứng đã làm tăng năng suất 19,09-19,62% và lợi nhuận 10,1 - 10,7%. Mức bón cao: Công thức 8, sử dụng TMG 5-5-3 và TMR 4-3-5, với liều lượng (kg/ha) 278 N, 268 P2O5 và 191 K2O, tăng 16,5% N, 14,6% P2O5 và 14,6% K2O so với đối chứng đã làm tăng năng suất 23,90-25,42% và lợi nhuận tăng 13,4 - 15,5%. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/amp1fr88
  • NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG MÀNG BAO SINH HỌC (BIOFILM) ĐỂ HẠN CHẾ NẤM BỆNH VÀ TĂNG KHẢ NĂNG BẢO QUẢN BƯỞI DA XANH (CITRUS MAXIMA) BẾN TRE SAU THU HOẠCH 

    Abstract : 6 PDF: 6
    Thạch Thị Ngọc Yến, Nguyễn Tố Nguyên, Phan Ngô Quốc Bảo
    58-67

    Nghiên cứu và ứng dụng màng bao sinh học (Biofilm) để hạn chế nấm bệnh và tăng khả năng bảo quản bưởi da xanh Bến Tre sau thu hoạch được thực hiện với mục tiêu chính là tìm ra giải pháp hợp lý để hạn chế nấm bệnh và tăng khả năng tồn trữ sau thu hoạch trên bưởi da xanh. Kết quả nghiên cứu dựa trên hình thái, cơ quan sinh bào tử và hình thức sinh sản, cũng như dựa trên kỹ thuật sinh học phân tử (giải trình tự và tra cứu trên ngân hàng gen NCBI quốc tế) đã định loại được 2 dòng nấm gây bệnh là Phomopsis sp. và Phytopthora sp. với độ tương đồng 97,74% và 97,77%. Trong điều kiện in-vitro cho thấy Lactobacillus plantarum có khả năng ức chế gần như hoàn toàn đối với 2 dòng vi nấm gây bệnh sau thu hoạch trên bưởi da xanh. Sử dụng màng bao biofilm với vi khuẩn Lactobacillus plantarum kết hợp với alginate 0,03% có tác dụng hạn chế nấm bệnh trên bưởi sau 40 ngày bảo quản và nhờ đặc tính sinh acid lactic cũng như một số hợp chất hưu cơ của vi khuẩn làm giảm pH vỏ quả, góp phần kiểm soát sự xâm nhiễm nấm bệnh gây hại, giảm hao hụt khối lượng trái, duy trì chất lượng trái với độ Brix, vitamin C, lycopene được duy trì sau thu hoạch trên bưởi da xanh. Đánh giá cảm quan về màu sắc vỏ trái vẫn giữ được màu đẹp cũng như chất lượng thịt quả ngon và được ưa chuộng hơn so với nghiệm thức không xử lý màng bao biofilm. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/d3x9rq88
  • KHẢO SÁT CÁC THÔNG SỐ TỐI ƯU CỦA QUÁ TRÌNH LÊN MEN VÀ THỜI GIAN BẢO QUẢN DƯA BỒN BỒN (Typha orientalis) MUỐI CHUA

    Abstract : 8 PDF: 13
    Huỳnh Ngọc Thanh Tâm, Lê Thị Kim Đồng
    68-76

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm ra thông số tối ưu cho quá trình lên men và xác định thời gian bảo quản dưa bồn bồn (Typha orientalis). Sử dụng dòng Lactobacillus plantarum CMT2 được đăng ký trên GenBank với mã số MN841920, thông qua phần mềm Design Expert 7.0 với thể thức Box–Behnken, đã xác định được nghiệm thức tối ưu cho quá trình lên men dưa bồn bồn là pH 4,87, nồng độ muối 4,08%, mật số vi khuẩn 5,1x108 tế bào/mL với hàm lượng acid lactic đạt 5,71 g/L sau 6 ngày lên men ở nhiệt độ phòng. Tỉ lệ giữa khối lượng nguyên liệu và dịch lên men là 1:1 (200 g/200 mL) cho hiệu suất lên men cao nhất với lượng acid lactic là 6,12 g/L, pH 3,17, dưa bồn bồn cho cấu trúc sản phẩm giòn đều, có màu sắc tươi sáng, vị chua mặn hài hòa. Thời gian bảo quản sản phẩm bồn bồn muối chua tối đa ở nhiệt độ phòng (khoảng 30oC) là 28 ngày kể từ ngày lên men, tăng lên 84 ngày khi bảo quản ở 4-6oC với các số liệu tương ứng ở hai nhiệt độ lần lượt là tổng số vi sinh vật hiếu khí (TPC): 9,8x103, pH: 3,36, acid lactic 5,96 g/L và TPC 4,8x103, pH 3,33, acid lactic 5,97 g/L.  

    DOI: https://doi.org/10.71254/td4c7y52
  • NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG BẢO QUẢN DÂU TÂY BẰNG MÀNG PHỦ ALGINATE CHỨA TINH DẦU KINH GIỚI

    Abstract : 12 PDF: 8
    Trần Thị Ngọc Yên, Nguyễn Thái Ngọc Uyên, Võ Thị Trường Nhân
    77-84

    Nhằm mục đích kéo dài thời gian bảo quản dâu tây, nội dung bài báo tập trung vào phân lập xác định chủng nấm mốc là tác nhân gây hư hỏng dâu tây, khảo sát khả năng ức chế, diệt nấm mốc của tinh dầu kinh giới, xác định nồng độ tinh dầu tối thiểu có thể tiêu diệt nấm mốc và khảo sát khả năng bảo quản của màng phủ alginate chứa tinh dầu kinh giới thông qua các thông số đánh giá chất lượng dây tây trong quá trình bảo quản. Kết quả nghiên cứu đã phân lập, xác định được chủng nấm mốc Botrytis cinerea G409 là tác nhân gây bệnh mốc xám làm hư hỏng dâu tây sau thu hoạch, xác định tinh dầu kinh giới có khả năng tiêu diệt nấm mốc Botrytis cinerea G409 ở nồng độ tối thiểu là 0,2% (w/w). Sử dụng màng phủ alginate chứa 0,3% (w/w) tinh dầu kinh giới bảo quản dâu tây ở điều kiện 19οC, 83% RH, dâu tây có tỷ lệ phân rã là 22,67%, tỷ lệ nhiễm nấm mốc là 17,33% sau 10 ngày bảo quản, trong khi mẫu đối chứng (không được phủ màng) bị hư hỏng hoàn toàn. Màng phủ alginate chứa 0,3% (w/w) tinh dầu kinh giới có khả năng kéo dài thời gian bảo quản dâu tây sau thu hoạch. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/b1n5j973
  • NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM VÀ THÀNH PHẦN LOÀI CẦU TRÙNG KÝ SINH Ở THỎ NUÔI TẠI HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG 

    Abstract : 8 PDF: 5
    Hoàng Văn Hiền, Phạm Ngọc Doanh, Bùi Thị Dung
    85-89

    Mổ khám 60 cá thể thỏ nuôi tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang theo 3 mô hình nuôi có 18 thỏ nhiễm cầu trùng với tỷ lệ nhiễm chung là 30%. Trong đó: có 0/20 (0%) thỏ nhiễm ở mô hình nuôi nhốt công nghiệp được vệ sinh sạch sẽ và phòng bệnh đầy đủ; có 6/20 (30%) thỏ nhiễm ở mô hình nuôi nhốt vệ sinh kém và không sử dụng thuốc phòng bệnh, có 12/20 (60%) thỏ nhiễm ở mô hình nuôi thả rông. Kết quả phân tích các mẫu cầu trùng thu được đã xác định được 6 loài gồm: Eimeria perforans, Eimeria media, Eimeria stiedai, Eimeria exigua, Eimeria intestinalis, Eimeria sp.  

    DOI: https://doi.org/10.71254/1e8zxk84
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CÁ TRÈN BẦU (Ompok bimaculatus Bloch, 1797) NUÔI THƯƠNG PHẨM TRONG LỒNG BÈ 

    Abstract : 9 PDF: 12
    Lê Văn Lễnh, Đặng Thế Lực
    90-97

    Nghiên cứu nuôi thương phẩm cá trèn bầu trong lồng bè nhằm đa dạng đối tượng nuôi, bảo tồn loài cá có giá trị kinh tế và cung cấp thực phẩm cho con người là cần thiết. Nghiên cứu sử dụng hai loại thức ăn là tép + cá tạp và thức ăn công nghiệp. Trong thức ăn công nghiệp dùng ba mức đạm khác nhau, thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, theo dõi tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá nuôi trong 9 tháng. Kết quả cho thấy các chỉ tiêu môi trường nước phù hợp cho cá trèn bầu sinh trưởng phát triển. Chỉ tiêu tăng trưởng sau 9 tháng nuôi ở NT1 (tép + cá tạp) cá có khối lượng trung bình là 100,15 ± 12,11 g và chiều dài 21,64 ± 0,72 cm, ở NT2 (30% đạm) cá đạt 64,70 ± 2,18 g và 19,01 ± 0,32 cm, ở NT3 (35% đạm) cá đạt 70,25 ± 1,68 g và 19,42 ± 0,05 cm và ở NT4 (40% đạm) cá có khối lượng 77,37 ± 2,18 g và chiều dài 19,91 ± 0,12 cm; NT1 khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) với tất cả các nghiệm thức còn lại khi sử dụng thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm khác nhau, nhưng sự khác biệt không rõ ràng giữa nghiệm thức NT3 và NT4. Hệ số phân đàn về khối lượng dao động từ 0,12 – 21,05% và chiều dài dao động từ 0,26 – 9,32%; hệ số phân đàn lớn nhất ở NT2 ở tháng 1 (21,05% về khối lượng và 9,32% về chiều dài) nhưng đến tháng thứ 9 kết thúc thí nghiệm thì hệ số phân đàn lớn nhất ở NT1 (3,33% về khối lượng và 12,09% về chiều dài). Hệ số thức ăn cao nhất ở NT1 4,81 và thấp nhất ở NT4 2,05 và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) giữa NT1 với các nghiệm thức còn lại, sự khác biệt không có ý nghĩa (p<0,05) giữa NT2 với NT3. Tỷ lệ sống cao nhất ở NT1 80,83 ± 1,26% và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) với nghiệm thức NT2 70,30 ± 2,95% và NT3 72,63 ± 2,50% nhưng khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05) với NT4 77,07 ± 3,37%. Nuôi cá trèn bầu sử dụng thức ăn công nghiệp 40% đạm cho tỷ suất lợi nhuận 40,78% và tép + cá tạp cho tỷ suất lợi nhuận 28,89%, còn sử dụng thức ăn công nghiệp 30% đạm và 35% đạm thì bị lỗ. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/pec39s74
  • ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI CÁ Ở HỆ SINH THÁI HỒ DẦU TIẾNG 

    Abstract : 13 PDF: 13
    Nguyễn Minh Ty
    98-108

    Ở hồ Dầu Tiếng đã xác định có 111 loài cá nằm trong 65 giống thuộc 28 họ của 12 bộ khác nhau thuộc lớp cá xương (Osteichthyes). Trong đó có 14 loài di nhập đến, 97 loài bản địa phân bố ở các sông suối, ao, kênh rạch, ruộng, đất ngập nước thuộc hồ Dầu Tiếng. Đa dạng nhất là bộ cá Chép (Cypriniformes) có số loài nhiều nhất với 45 loài, kế tiếp là bộ cá Nheo (Siluriformes) có 21 loài, bộ cá Rô đồng (Anabantiformes) 14 loài, bộ cá Bống (Gobiiformes) 8 loài, bộ Mang liền (Synbranchiformes) 6 loài, 2 bộ có 4 loài là bộ cá Kìm (Beloniformes) và bộ cá Vược (Perciformes), bộ cá Hàng chài (Cichiformes) có 3 loài. Các bộ còn lại chỉ có 1 đến 2 loài. Bổ sung mới cho khu hệ 38 loài. Hai loài thuộc Nghị định 26/2019/NĐ-CP là cá Trê trắng (Clarias batrachus Linnaeus, 1758) và cá Trèn bầu (Ompok bimaculatus Bloch, 1797). Thành phần loài cá hồ Dầu Tiếng mang tính chất đặc trưng của yếu tố địa động vật Nam Việt Nam - Nam bán đảo Đông Dương - phân vùng Ấn Độ - Mã Lai và chịu ảnh hưởng của yếu tố Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa.   

    DOI: https://doi.org/10.71254/299tgv37
  • HÌNH THÁI VÀ GIẢI PHẪU 6 LOÀI CỦA HỌ CÀ PHÊ (Rubiaceae) Ở VIỆT NAM

    Abstract : 8 PDF: 13
    Lê Văn Út, Đỗ Thị Anh Thư
    109-115

    Họ Cà phê gồm các loài thân gỗ (Cà phê, Nhàu), thân bụi (Bông trang, Dành dành), thân cỏ: leo (Mơ tam thể) và bò (Lưỡi rắn). Lá đơn, mọc đối. Cụm hoa thường dạng xim (Bông trang, Cà phê, Lưỡi rắn, Mơ tam thể), dạng đầu (Nhàu) hay đơn độc (Dành dành). Hoa to, lưỡng tính, đều, mẫu 5 (Cà phê, Nhàu, Mơ tam thể), mẫu 4 (Bông trang, Lưỡi rắn) hoặc mẫu 6 (Dành dành). Cánh hoa dính nhau ở phần móng tạo thành ống tràng. Kết quả giải phẫu cho thấy: vi phẫu thân vuông hoặc tròn, mô dày góc tập trung nhiều dưới biểu bì hoặc bần; trụ bì hóa mô cứng (Cà phê, Bông trang, Nhàu); tầng sinh bần xuất hiện dưới biểu bì (Bông trang, Dành dành) hoặc mô dày (Nhàu); có thể có sợi libe. Thân, lá, cuống lá đều có lông che chở đa bào một dãy (Mơ tam thể). Vi phẫu rễ có gỗ 2 chiếm tâm (Bông trang, Nhàu, Cà phê, Mơ tam thể, Lưỡi rắn). Kết quả nghiên cứu cho thấy, hình thái và giải phẫu vi phẫu rễ, thân và lá của các loài trong họ Cà phê rất khác nhau. Đặc điểm này góp phần cùng với đặc điểm hình thái để phân biệt các loài trong họ Cà phê. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/ks80c497
  • THÀNH PHẦN LOÀI NẤM THUỘC CHI Aspergillus, Cladosporium, Talaromyces, Trichoderma VÀ Umbelopsis PHÂN LẬP TỪ ĐẤT MÙN RỪNG THÔNG MỚI GHI NHẬN CHO KHU HỆ VI NẤM Ở VIỆT NAM

    Abstract : 12 PDF: 12
    Lê Thành Công, Vũ Văn Định, Đặng Như Quỳnh, Nguyễn Thị Loan, Phạm Quang Thu
    116-124

    Nghiên cứu này nhằm phân lập, mô tả và định danh các loài nấm thuộc chi Aspergillus, Cladosporium, Talaromyces, Trichoderma và Umbelopsis trong rừng thông nhựa và thông mã vĩ ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đã phân lập và định danh được 4 loài nấm thuộc chi Aspergillus, 2 loài nấm thuộc chi Cladosporium, 2 loài nấm thuộc chi Talaromyces, 1 loài thuộc chi Trichoderma và một loài thuộc chi Umbelopsis. Đặc biệt, trong 10 loài đã xác định được có 5 loài mới được ghi nhận cho khu hệ nấm ở Việt Nam, đó là: Aspergillus chrysellus, Cladosporium halatolerans, Talaromyces pinophilus, Trichoderma citrinoviride và Umbelopsis angularis. Các loài trên đều có khả năng phân giải cellulose.  

    DOI: https://doi.org/10.71254/b77j2h70
  • ĐA DẠNG TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC TẠI RỪNG HÒN ĐẤT - KIÊN HÀ, HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG 

    Abstract : 13 PDF: 12
    Ngô Thị Minh Huyền, Lý Ngọc Sâm, Cao Ngọc Giang, Trần Minh Ngọc, Trần Thị Liên, Nguyễn Minh Hùng, Nguyễn Xuân Trường, Lê Đức Thanh, Hoàng Thị Như Nụ
    125-132

    Huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang có nguồn tài nguyên thực vật rừng tương đối phong phú, bao gồm hệ sinh thái rừng nhiệt đới trên cạn (vùng đồi núi, ven biển, hải đảo) và hệ sinh thái rừng ngập mặn. Thảm thực vật rừng, đồi núi nơi đây đã tạo nên nhiều cảnh quan thiên nhiên rất đặc sắc và là nơi sinh sống của các loài động, thực vật tương đối đa dạng và quý hiếm. Trong thời gian từ tháng 01 năm 2018 đến tháng 12 năm 2019 nhóm nghiên cứu dược liệu của Viện Dược liệu đã thiết lập 8 tuyến điều tra đa dạng thành phần loài. Kết quả đã xác định được 308 loài có giá trị làm thuốc thuộc 244 chi, 92 họ, 4 ngành thực vật bậc cao có mạch là ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), ngành Tuế (Cycadophyta), ngành Dây Gắm (Gnetophyta) và ngành Ngọc lan (Magnoliophyta). Có 7 loài có tên trong Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (2019), Sách Đỏ Việt Nam (2007) và 4 loài cây thuốc nằm trong Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhằm hạn chế khai thác, buôn bán vì mục đích thương mại cho khu hệ thực vật rừng Hòn Đất - Kiên Hà. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/t54qt657
  • TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ CÂY TRỒNG HÀNG NĂM TRÊN VÙNG ĐẤT VEN BIỂN TỈNH THANH HÓA 

    Abstract : 13 PDF: 11
    Nguyễn Trọng Trang, Vũ Đình Hòa, Hà Thị Thanh Bình
    133-142

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng về điều kiện thổ nhưỡng/đất đai, biến động diện tích, năng suất và giá trị một số loại cây trồng chủ yếu trong những năm gần đây làm cơ sở khoa học để xây dựng hệ thống cây trồng hợp lý cho vùng đất ven biển tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới. Tiến hành khảo sát ở 2 huyện Hoằng Hóa và Hậu Lộc đại diện cho vùng đất ven biển tỉnh Thanh Hóa. Sử dụng phương pháp điều tra số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp để thu thập các thông tin cần thiết về đất và cây trồng trên địa bàn. Số liệu thứ cấp về đánh giá thích hợp đất đai được thu thập từ Phòng Tài nguyên và Môi trường; số liệu về biến động diện tích, năng suất các loại cây trồng chính do Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của 2 huyện cung cấp. Hiệu quả kinh tế sản xuất các cây trồng chính được thu thập từ các nông hộ thông qua phiếu điều tra trực tiếp hộ nông dân. Kết quả nghiên cứu cho thấy, điều kiện đất trồng vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa (đại diện là 2 huyện Hoằng Hóa và Hậu Lộc) rất thuận lợi để phát triển hệ thống cây trồng hàng năm, đặc biệt là cây lúa và các cây trồng họ đậu. Diện tích đất thích hợp cho các cây trồng này chiếm tỷ lệ tương đối cao trong quỹ đất canh tác của vùng. Tuy nhiên hệ số sử dụng đất canh tác trong vùng còn tương đối khiêm tốn mới đạt trên dưới 2,5 lần. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/0mc6h013
  • THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN MỘT SỐ QUYỀN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT TẠI HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA

    Abstract : 7 PDF: 11
    Lý Bá Nam, Đỗ Thị Tám, Phạm Anh Tuấn
    143-152

    Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp khắc phục những tồn tại trong việc thực hiện quyền của người sử dụng đất trên địa bàn huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên để lựa chọn 180 hộ gia đình, cá nhân và 30 cán bộ, công chức, viên chức để điều tra. Dùng thang đo Likert 5 cấp để đánh giá tình hình thực hiện các quyền của người sử dụng đất. Kết quả nghiên cứu cho thấy giai đoạn 2017-2019, tại huyện Vân Hồ có 396 giao dịch chuyển nhượng, 80 giao dịch tặng cho; 944 giao dịch thế chấp và 67 giao dịch thừa kế quyền sử dụng đất (QSDĐ). Một số tồn tại trong việc thực hiện QSDĐ là: chỉ có 4 quyền được thực hiện; chuyển nhượng QSDĐ thực hiện chủ yếu đối với đất nông nghiệp và với mục đích đầu cơ đất đai; việc chuyển nhượng và thế chấp QSDĐ với mục đích trả nợ, mua sắm đồ dùng và sinh hoạt phí là chính. Trình tự, thủ tục thực hiện tại Chi nhánh VPĐKĐĐ được đánh giá ở mức trung bình, khả năng tiếp cận dịch vụ là tương đối khó. Điều kiện làm việc, phương tiện kỹ thuật của VPĐKĐĐ vẫn còn chưa đủ. Sự hiểu biết về pháp luật đất đai của người dân và chất lượng hệ thống hồ sơ địa chính của địa phương được đánh giá ở mức thấp. Từ đó đề xuất một số giải pháp khắc phục những tồn tại trên. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/092ygr75
  • HÀM LƯỢNG MỘT SỐ KIM LOẠI NẶNG TRONG TRẦM TÍCH Ở VÙNG BIỂN VEN BỜ QUY NHƠN, MIỀN TRUNG VIỆT NAM

    Abstract : 6 PDF: 10
    Lê Thị Hải Lê, Lê Thu Thủy
    153-158

    Thành phố Quy Nhơn thuộc tỉnh Bình Định, là vùng ven biển có hệ sinh nước lợ và nước mặn đa dạng và phong phú, nơi đây đã trở thành một trong những điểm phát triển mạnh ngành du lịch cũng như các ngành công nghiệp khác ở miền Trung Việt Nam. Với tốc độ phát triển "nóng", các hoạt động của con người trên đất liền không thể tránh được hậu quả gây ô nhiễm môi trường ven biển. Từ tháng 8 và tháng 9 năm 2019, các mẫu trầm tích được thu thập từ mười địa điểm ở khu vực ven biển Quy Nhơn. Hàm lượng Hg, Pb, Cd, Cu và Zn đã được phân tích bằng ICP-MS để đánh giá hiện trang ô nhiễm kim loại nặng trong trầm tích ở khu vực nghiên cứu. Hàm lượng Hg, Pb, Cd, Cu, Zn được tìm thấy trong các mẫu trầm tích và tất cả các vị trí thu thập. Kết quả cho thấy sự khác biệt giữa hàm lượng các kim loại ở các vị trí khác nhau. Hàm lượng kim loại trong trầm tích được xếp theo thứ tự sau: Zn> Cu>Cd>Pb> Hg. Để đánh giá ô nhiễm kim loại nặng môi trường hiện tại trong trầm tích, phương pháp tính các giá trị SQG (Hướng dẫn chất lượng trầm tích) và Igeo (Chỉ số tích lũy địa chất) đã được sử dụng. So sánh với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng trầm tích QCVN 43:2017/BTNMT và chất lượng trầm tích của Bộ Môi trường Canada (2001), hàm lượng Hg và Pb trong trầm tích đã không vượt quá các giá trị giới hạn, tuy nhiên Cd, Cu và Zn đã đạt đến mức ngưỡng ảnh hưởng (PEL) của Canada ở một số địa điểm. Hơn nữa, tại cùng những nơi ven biển này, các giá trị Igeo của Cd đã được tìm thấy dao động từ 2-3 và cũng đã chỉ ra rằng đang có sự ô nhiễm Cd. Điều này cho thấy cần phải thực hiện các giải pháp quản lý và kiểm soát ô nhiễm từ các hoạt động công nghiệp, vận tải và dịch vụ du lịch tại các khu vực ven biển của thành phố Quy Nhơn. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/m31fx436