Số 23 (2023)
Bài viết
-
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỊU PHÈN CỦA CÁC DÒNG LÚA MỚI ĐTM TẠI VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI
Abstract : 7 PDF: 9Ngộ độc sắt và nhôm trên đất phèn rất phổ biến và được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới, nhưng ở Việt Nam có rất ít nghiên cứu liên quan đến bản chất của vấn đề ngộ độc sắt và nhôm. Trong khi đó, nghiên cứu về các giống lúa kháng phèn sắt Fe2+ và phèn nhôm Al3+ có vai trò rất lớn đối với việc tăng năng suất, chất lượng và bổ sung thêm nguồn gen vào bộ giống lúa kháng phèn cho các nghiên cứu sau này. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các nồng độ phèn sắt Fe2+ và phèn nhôm Al3+ trong dung dịch dinh dưỡng Yoshida sau 7, 14, 21 ngày xử lý đến khả năng sinh trưởng và phát triển của các giống lúa mới ĐTM tại vùng Đồng Tháp Mười, đã xác định được 2 dòng lúa ĐTM 89, ĐTM 214 có khả năng chịu phèn sắt Fe2+ ở nồng độ 400 ppm và phèn nhôm Al3+ ở nồng độ 40 ppm ở 14 ngày sau xử lý. Đây là cơ sở làm tiền đề cho việc bổ sung các giống lúa mới có khả năng kháng phèn cho vùng Đồng Tháp Mười.
-
THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG CỦ CỦA MỘT SỐ MẪU GIỐNG KHOAI MÔN SỌ VÙNG ĐÔNG BẮC BỘ VIỆT NAM
Abstract : 11 PDF: 9Ở Việt Nam, Đông Bắc bộ là một trong những vùng trồng khoai môn sọ khá phổ biến. Tuy nhiên, hầu hết các mẫu nguồn gen khoai môn sọ tại đây chưa được đánh giá đầy đủ về thành phần dinh dưỡng chính của củ. Nghiên cứu này tiến hành đánh giá về một số chỉ tiêu hình thái củ và thành phần dinh dưỡng củ 75 mẫu giống của các nguồn gen khoai môn sọ được thu thập tại vùng Đông Bắc bộ. Kết quả cho thấy, có sự đa dạng về hình thái cũng như thành phần dinh dưỡng trong củ: Có 2 dạng màu sắc chỏm củ là hồng và trắng; chỏm củ trắng chiếm 64,0%; khối lượng củ cái trung bình trên 93 g; chiều dài củ cái đạt trung bình 7,13 cm, dao động từ 0,4 - 13 cm; chiều rộng củ trung bình đạt 4,52 cm, dao động 2,15 - 8,68 cm; hàm lượng chất khô dao động từ 10,3 - 40,74%; hàm lượng protein hòa tan tổng số từ 0,25 - 5,07% khối lượng tươi; lipid chiếm tỉ lệ thấp, đạt 0,46 - 1,48%; hàm lượng đường khử trong khoảng 1,48 - 32,38 mg/g; đường tan tổng số dao động từ 2,08 - 68,64 mg/g; polysaccharide chiếm khoảng 32,89 - 148,04 mg/g khối lượng khô. Một số mẫu giống có tiềm năng cao như: 19-1001 (khoai sọ Yên Quang, Nho Quan, Ninh Bình), 1005 (Phước dăm, Quang Bình, Hà Giang), 11545 (Hậu đành, Na Hang, Tuyên Quang), 11034 (khoai sọ núi, Thạch An, Cao Bằng), 28269 (khoai nương, Sơn Dương, Tuyên Quang), 28325 (Phước hôm, Hàm Yên, Tuyên Quang)… có ý nghĩa lớn cho phát triển sản xuất và lai tạo giống.
-
NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG IN VITRO CÂY TRÀM GIÓ (Melaleuca cajuputi Powell) Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Abstract : 2 PDF: 2Nghiên cứu nhằm hoàn thiện kỹ thuật tạo cây con Tràm gió (Melaleuca cajuputi Powell) bằng phương nhân giống in vitro được thực hiện tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nhà nước Một thành viên Lâm nghiệp Tiền Phong. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khử trùng đoạn thân mang mầm chồi 2 lần bằng Javel 25% trong 5 phút và 10 phút cho tỷ lệ mẫu sống tạo chồi đạt 89,6%. Môi trường MS + 1 mg/l BA + 30 g/l đường + 6 g/l agar + 1 mg/l kinetin + 1 mg/l BAP cho 6,5 chồi/cụm và chiều cao chồi đạt 3,7 cm. Môi trường 1/2 MS + 15 g/l đường + 1,0 mg/l NAA + 1 mg/l IBA cho tỷ lệ ra rễ trên 96,3% với 3,7 rễ/cây và chiều dài rễ 2,0 cm. Kết quả nghiên cứu giai đoạn vườn ươm cho thấy, thành phần ruột bầu 80% đất + 5% vỏ trấu + 5% vỏ đậu phộng xay + 10% phân chuồng hoai, che sáng 75% trong 30 ngày đầu, tưới phun sương tự động 6 phút phun 1 lần và thời gian phun trong 10 giây cho cho tỷ lệ cây sống cao đạt trên 89,3% sau 6 tháng ươm trồng. Cây Tràm gió nuôi cấy mô ở vườn ươm có chiều cao trên 40 cm, đường kính cổ rễ tối thiểu 1,5 mm và có trên 12 lá; cây phẩm chất tốt, xanh tươi, không sâu, bệnh đạt tiêu chuẩn xuất vườn.
-
XÁC ĐỊNH TỶ LỆ VẬT LIỆU PHÙ HỢP TỪ PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP CHO SẢN XUẤT CHẾ PHẨM VI SINH TỪ VI KHUẨN QUANG DƯỠNG KHÔNG LƯU HUỲNH MÀU TÍA CỐ ĐỊNH ĐẠM
Abstract : 13 PDF: 13Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định tỷ lệ vật liệu phù hợp đối với các dòng vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía cố định đạm cho sản xuất chế phẩm vi sinh. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 tỷ lệ vật liệu, 5 nguồn vi khuẩn, 3 lần lặp lại. Trong đó, 4 tỷ lệ vật liệu rơm: lá khóm: tro trấu, 2: 2: 1; rơm: lá khóm: tro trấu, 1: 3: 1; rơm: lá khóm: tro trấu, 0: 4: 1; rơm: lá khóm: tro trấu, 4: 0: 1 và 5 nguồn vi khuẩn cố định đạm: Đối chứng (ĐC); vi khuẩn cố định đạm W15; vi khuẩn cố định đạm S27; vi khuẩn cố định đạm W39; hỗn hợp vi khuẩn cố định đạm W15, S27 và W39. Kết quả cho thấy, sau 4 tuần khảo sát nghiệm thức bổ sung dòng đơn vi khuẩn W15 và hỗn hợp 3 dòng W15, S27, W39 ở tỷ lệ vật liệu rơm: lá khóm: tro trấu, 2: 2: 1 và rơm: lá khóm: tro trấu, 1: 3: 1 đã giúp tăng hàm lượng đạm tổng số, lần lượt là 32,2 - 44,6% và 40,2 - 41,3% so với ĐC. Tuy nhiên, ở tỷ lệ vật liệu rơm: lá khóm: tro trấu, 0: 4: 1 chỉ có nghiệm thức bổ sung dòng đơn vi khuẩn W39 giúp tăng hàm lượng đạm tổng số 55,4%. Ngoài ra, hàm lượng lân tổng số và các bon tổng số giữa các nghiệm thức ở cả 4 tỷ lệ vật liệu đều tương đương nhau. Bên cạnh đó, ở tỷ lệ vật liệu rơm: lá khóm: tro trấu, 1: 3: 1 và rơm: lá khóm: tro trấu, 0: 4: 1 nghiệm thức bổ sung hỗn hợp 3 dòng vi khuẩn W15, S27 và W39 đã giúp giảm tỷ lệ C/N lần lượt là 42,2 và 22,0%.
-
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRONG THU HOẠCH VÀ SƠ CHẾ DƯỢC LIỆU KIM NGÂN (Lonicera japonica Thunb.)
Abstract : 15 PDF: 9Kim ngân là một vị thuốc được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền và hiện đại. Trong nghiên cứu này, các kỹ thuật về thời điểm thu hái, phương thức làm khô dược liệu hoa kim ngân và thân, cành, lá (cuộng kim ngân) đã được tập trung nghiên cứu. Các thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần nhắc lại. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời điểm thích hợp nhất để thu hái là sau trồng 240 - 270 ngày đối với cuộng kim ngân và nụ hoa có màu trắng (khoảng 10% cánh hoa nở) đối với hoa kim ngân. Cuộng kim ngân nên được làm khô bằng thiết bị sấy lạnh ở 40oC và 45oC và hoa kim ngân nên được sấy ở 30oC. Kết quả này là cơ sở để xây dựng quy trình thu hái và sản xuất dược liệu kim ngân, bao gồm cả dược liệu đạt tiêu chuẩn GACP.
-
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ BẢO QUẢN ĐẾN QUÁ TRÌNH OXY HÓA LIPID VÀ MÀU SẮC CỦA BƠ ĐẬU PHỘNG BỔ SUNG DỊCH CHIẾT NẤM KIM CHÂM (Flammulina velutipes)
Abstract : 12 PDF: 8Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá được ảnh hưởng của nhiệt độ bảo quản đến quá trình oxy hóa lipid và sự biến đổi màu sắc của sản phẩm bơ đậu phộng bổ sung dịch chiết nấm kim châm. Sản phẩm bơ được chế biến từ hạt đậu phộng giống MD7, bổ sung 5% dầu olive, 4% mật ong cùng với 0,2% lecithin và 4% dịch chiết nấm kim châm được đóng hộp (120 g/hộp) và bảo quản ở 2 chế độ nhiệt là nhiệt độ mát (8 -10oC) và nhiệt độ phòng (28 - 30oC) trong 6 tháng và phân tích định kì các chỉ tiêu bao gồm hoạt tính khử gốc tự do DPPH, hàm lượng lipid tổng (TF), hàm lượng axit béo tự do (FFA), chỉ số peroxide (PV) và giá trị màu sắc L*a*b* cứ 30 ngày/lần. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiệt độ và thời gian bảo quản có ảnh hưởng đến quá trình oxy hóa lipid và màu sắc của bơ đậu phộng, phương pháp bảo quản ở nhiệt độ mát (8 - 10oC) hạn chế đáng kể quá trình oxy hóa lipid và biến màu của sản phẩm. Sau 6 tháng bảo quản mát, sản phẩm bơ đậu phộng có hoạt tính khử 66,04% gốc tự do DPPH, giá trị TF giảm xuống còn 49,57%, FFA và PV tăng lên đạt lần lượt 1,29% và 1,15 Meq/kg, giá trị màu sắc L*, a*, b* đạt lần lượt 58,28; 13,74 24,26. Sản phẩm vẫn đảm bảo được chất lượng để sử dụng.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG SUẤT SẤY VI SÓNG VÀ BAO BÌ BẢO QUẢN ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU VẬT LÝ CỦA BỘT SAKE
Abstract : 9 PDF: 9Nghiên cứu nhằm khảo sát sự thay đổi các chỉ tiêu độ ẩm, độ hút nước, pH và màu sắc của bột sake trong quá trình sấy vi sóng và bảo quản bột bằng các loại bao bì khác nhau. Để bột đạt độ ẩm 8-9% thì khi sấy ở các công suất vi sóng 300 W, 500 W và 800 W cần thời gian sấy tương ứng là 40 phút, 20 phút và 13 phút. Bột sấy bằng vi sóng có màu sậm hơn so với sấy đối lưu bằng không khí nóng; công suất càng lớn thì bột càng tối màu (giá trị L* càng giảm, giá trị b* càng tăng), độ hút nước của bột cũng tăng tỷ lệ thuận với công suất sấy trong khi pH không bị ảnh hưởng. Bột sấy ở công suất 500 W được chọn để bảo quản bằng 3 loại bao bì PE (đối chứng), PA và PA-Al ở 25oC. Kết quả theo dõi các chỉ tiêu vật lý của bột sake trong 12 tuần bảo quản cho thấy bột sấy bằng vi sóng khi bảo quản trong túi PA-Al có độ ẩm ít biến đổi nhất (chỉ tăng từ 8,21% đến dưới 8,57%), tiếp theo là mẫu PA và PE (tăng lên 8,9% và 10%). Túi PA-Al cũng giữ được độ sáng L* và độ vàng của bột tốt hơn so với túi PA và PE trong khi giá trị pH, độ hút nước có thay đổi nhưng không khác biệt đáng kể giữa ba loại túi.
-
SỰ BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LIPID, HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA VÀ HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA CÁC LỚP LIPID TRONG CƠ THỊT HÀU THÁI BÌNH DƯƠNG (Crassostrea gigas) NUÔI TẠI VÙNG BIỂN KHÁNH HÒA
Abstract : 9 PDF: 6Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của mùa vụ khai thác và vùng nuôi đến thành phần lipid, hoạt tính sinh học của lớp lipid trung tính và lipid phân cực trong cơ thịt hàu Thái Bình Dương (TBD). Kết quả cho thấy, lipid trung tính là thành phần chính (>50%) trong lipid hàu TBD nuôi tại đầm Thủy Triều (Cam Lâm), đầm Nha Phu (Ninh Hòa) và đầm Môn (Vạn Ninh). Mẫu hàu TBD thu hoạch vào tháng 1 và tháng 11 có hàm lượng lớp lipid phân cực cao hơn so với mẫu hàu TBD thu hoạch vào tháng 5 và tháng 9. Hoạt tính chống oxy hóa của lớp lipid phân cực cao hơn so với lớp lipid trung tính. Các mẫu lipid trung tính và lipid phân cực thể hiện hoạt tính kháng khuẩn yếu hoặc không có hoạt tính trên hai chủng vi khuẩn Escherichia coli và Staphilococus aureus.
-
NGHIÊN CỨU ĐỘNG THÁI DINH DƯỠNG NITƠ VÀ PHỐT PHO TRONG NƯỚC KHU VỰC NUÔI CÁ LỒNG BIỂN TẠI CÁT BÀ - HẢI PHÒNG
Abstract : 10 PDF: 7Nghiên cứu động thái các chất dinh dưỡng nitơ (N) và phốt pho (P) trong nước khu vực nuôi cá lồng biển tại thị trấn Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng cho kết quả: Vào mùa mưa, hàm lượng N và P trong nước thường cao hơn so với mùa khô; trong các thông số dinh dưỡng gốc nitơ, ghi nhận hàm lượng N-NH4+ trong nước luôn cao nhất. Hàm lượng N và P tăng cao khi thủy triều xuống lúc nước ròng, giảm khi thủy triều lên lúc nước lớn. Kết quả nghiên cứu ngày 16 - 17/5/2021, chênh lệch hàm lượng dinh dưỡng trong nước lúc nước ròng và lúc nước lớn với các thông số N-NH4+ là 0,195 mg/l, P-PO43- (0,021 mg/l), tổng N (0,184 mg/l), tổng P (0,147 mg/l). Kết quả nghiên cứu ngày 6 - 7/9/2021, chênh lệch hàm lượng lúc nước ròng và lúc nước lớn khá cao với các thông số N-NO2- (0,013 mg/l), N-NO3- (0,120 mg/l), N-NH4+ (0,236 mg/l), P-PO43- (0,034 mg/l), tổng N (0,280 mg/l), tổng P (0,129 mg/l). Biến động hàm lượng các chất dinh dưỡng chứng minh tác động nguồn dinh dưỡng từ lục địa đưa vào vùng nuôi là khá lớn. Trong môi trường nước, bước đầu ghi nhận sự tương quan giữa thông số N-NH4+ và tổng N có hệ số tương quan r = 0,50; thông số N-NO2- và N-NO3- có hệ số tương quan r = 0,45. Giá trị hệ số tương quan r thấp của các chất dinh dưỡng N thể hiện hành vi chuyển hóa các dạng trong môi trường nước mạnh và khả năng tự làm sạch môi trường nước khu vực nuôi tốt. Giá trị rủi ro môi trường RQ dinh dưỡng của nước biến động trong thời gian nghiên cứu (từ năm 2005 - 2021) liên quan đến số lượng lồng bè và duy trì ở mức độ (1): Nguy cơ ô nhiễm môi trường thấp đến mức độ (4): Nguy cơ ô nhiễm môi trường rất cao, trong đó giá trị RQ dinh dưỡng cao vào những năm 2016 (2,09), năm 2017 (1,36) và năm 2018 (1,65).
-
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP XÂY DỰNG MỚI VÀ SỬA CHỮA KÈ ỨNG PHÓ NGUY CƠ SẠT LỞ BỜ SÔNG CỔ CHIÊN, THÀNH PHỐ VĨNH LONG
Abstract : 10 PDF: 9Bài báo trình bày kết quả đánh giá ổn định bờ sông Cổ Chiên khu vực phường 1, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, góp phần làm rõ nguyên nhân sạt lở. Các mục tiêu nghiên cứu là khảo sát, đánh giá địa chất, lưu tốc dòng chảy, hình thái lòng sông. Phương pháp và kết quả nghiên cứu kế thừa từ dự án sửa chữa kè sông Cổ Chiên thuộc đoạn phường 1, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. Kết quả cho thấy, những nguyên nhân chủ yếu gây mất ổn định là do hạ thấp lòng dẫn, dòng chủ lưu áp sát bờ với lưu tốc lớn, tỷ lệ phân lưu dòng chảy mất cân đối, sự mở rộng hố xói, mặt cắt ngang dòng sông co hẹp… Đã đề xuất giải pháp công trình bảo vệ trước mắt và hướng phát triển nghiên cứu bảo vệ lâu dài cho khu vực nghiên cứu.








