Số 2 (2026)

					Xem Số 2 (2026)
Đã Xuất bản: 30-01-2026

Bài viết

  • ỨNG DỤNG CHỈ THỊ ADN MÃ VẠCH ITS2 TRONG XÁC ĐỊNH LOÀI TAM THẤT HOANG (Panax stipuleanatus Tsai et Feng) TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG

    Abstract : 152 PDF: 0
    Trần Thị Thu Hà, Nguyễn Tiến Dũng, Dương Thị Nhung, Đỗ Hoàng Chung, Đặng Thanh Thủy
    3 - 9

    Tam thất hoang (Panax stipuleanatus Tsai et Feng) là loài dược liệu quý phân bố tự nhiên ở một số khu vực miền núi phía Bắc nằm trong danh mục loài nguy cấp, quí, hiếm có nguy cơ tuyệt chủng. Nghiên cứu ứng dụng chỉ thị ADN mã vạch ITS2 để xác định loài từ 10 mẫu thu thập tại các khu vực tự nhiên tỉnh Tuyên Quang (các xã: Tùng Vài, Nậm Dịch, Nấm Dẩn). ADN tổng số được tách chiết từ mẫu lá non bằng phương pháp CTAB; vùng ITS2 được khuếch đại bằng PCR với cặp mồi đặc hiệu ITS2-F/ITS4-R, giải trình tự và đối sánh trên ngân hàng gen NCBI. Kết quả cho thấy, vùng gen ITS2 khuếch đại thành công (~480 bp) và các trình tự có độ tương đồng > 99% so với trình tự gen tham chiếu của của loài tam thất P. stipuleanatus (MK408811.1, MK408807.1, MK408781.1). Phân tích quan hệ di truyền bằng phương pháp Neighbor-Joining sử dụng phần mềm MEGA11 xác nhận các mẫu Tam thất hoang ở tỉnh Tuyên Quang nằm cùng nhánh phân loại với loài P. stipuleanatus, khoảng cách di truyền rất thấp (0,00 - 0,003) và tách biệt rõ với các loài Panax khác (P. vietnamensis, P. ginseng, P. quinquefolius). Kết quả khẳng định, ITS2 là chỉ thị hiệu quả để định danh chính xác Tam thất hoang, góp phần hỗ trợ nghiên cứu phân loại, kiểm định nguồn giống và bảo tồn loài tại Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/yfhmd512
  • KẾT QUẢ LAI TẠO MỘT SỐ DÒNG SEN LẤY HẠT TẠI VIỆT NAM

    Abstract : 98 PDF: 0
    Đặng Văn Đông, Nguyễn Thị Hồng Nhung, Bùi Thị Hồng Nhụy, Bùi Thị Hồng, Nguyễn Văn Tỉnh
    10 - 18

    Cây sen (Nelumbo nucifera Gaertn) được trồng rộng rãi trên khắp Việt Nam, trong đó hạt sen là một trong những sản phẩm thu hoạch chính. Nhằm chọn tạo được các giống sen có năng suất và chất lượng hạt cao, giai đoạn 2022 - 2024, Viện Nghiên cứu Rau quả đã nghiên cứu lai tạo các giống sen mới. Kết quả thu được 16 tổ hợp lai tiềm năng, với tỷ lệ đậu hạt đạt 30 - 80% và tỷ lệ hạt chắc/gương đạt 37,5 - 93,1%. Qua đánh giá chọn lọc dòng, 2 dòng 22S06-8, 22S12-14 có nhiều ưu điểm tốt về khả năng ra hoa (> 33 hoa/m2/năm), năng suất cao (tỷ lệ hoa đậu hạt đạt > 85%, tỷ lệ hạt chắc/gương > 80%), chất lượng hạt tốt (hàm lượng tinh bột 17 -17,1%, hàm lượng protein 8,53 - 8,55%), mức độ sâu, bệnh hại thấp (cấp 1). Nghiên cứu này lần đầu cung cấp đánh giá có hệ thống các giống sen từ chương trình lai tạo ở Việt Nam, góp thêm nguồn vật liệu di truyền cho sản xuất và chọn tạo giống về sau.

    DOI: https://doi.org/10.71254/0n6nqh09
  • HOẠT TÍNH KHÁNG NẤM Fusarium incarnatum GÂY BỆNH THỐI TRÁI THANH LONG SAU THU HOẠCH CỦA CAO DỊCH CHIẾT RAU NGỔ (Enhydra fluctuans L.)

    Abstract : 177 PDF: 0
    Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Lê Yến Nhi
    19 - 28

    Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân lập, định danh tác nhân nấm gây bệnh, đồng thời đánh giá hoạt tính kháng nấm của cao dịch chiết rau ngổ (CDCRN) đối với nấm Fusarium gây bệnh thối trái thanh long sau thu hoạch. Kết quả phân lập từ các mẫu trái thanh long nhiễm bệnh cho thấy, chủng nấm TL1 có đặc điểm hình thái điển hình của chi Fusarium. Phân tích trình tự vùng gen ITS cho thấy, chủng TL1 có độ tương đồng 100% với các trình tự của loài F. incarnatum được công bố trên cơ sở dữ liệu GenBank, qua đó cho phép định danh chủng TL1 ở cấp loài là F. incarnatum. Bên cạnh đó, CDCRN thể hiện khả năng ức chế sự sinh trưởng của nấm F. incarnatum trong điều kiện in vitro. Sự phát triển của sợi nấm bị ức chế hoàn toàn ở nồng độ 700 µg/mL, trong khi sự nảy mầm của bào tử bị ức chế hoàn toàn ở nồng độ 5.000 µg/mL. Hoạt tính kháng nấm (HTKN) tăng theo nồng độ của cao dịch chiết, thể hiện qua sự suy giảm đáng kể đường kính khuẩn lạc và mật độ bào tử trên môi trường PDA. Kết quả nghiên cứu cho thấy, CDCRN có tiềm năng ứng dụng như một tác nhân kháng nấm tự nhiên có nguồn gốc thực vật, an toàn và thân thiện với môi trường trong bảo quản thanh long sau thu hoạch, góp phần giảm sự phụ thuộc vào thuốc bảo vệ thực vật có nguồn hóa học.

    DOI: https://doi.org/10.71254/73m1at63
  • ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG VÀ LOẠI PHÂN KALI ĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG QUẢ NHO NH01-26 TẠI TỈNH KHÁNH HÒA

    Abstract : 100 PDF: 0
    Võ Minh Thư, Phan Công Kiên, Phạm Văn Phước, Đỗ Tỵ, Nguyễn Thị Liễu, Nguyễn Thị Thuý Hằng
    29 - 38

    Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của liều lượng và loại phân kali đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế của giống nho NH01-26 trồng tại tỉnh Khánh Hòa; được thực hiện trong 2 vụ liên tiếp trong năm 2023 trên cùng nền đất. Thí nghiệm gồm 2 nhân tố được bố trí theo kiểu lô chính - lô phụ với 3 lần lặp lại, lô chính là loại phân kali (K) với 3 loại (K1: 100% KCl; K2: 75% KCl + 25% K2SO4; và K3: 50% KCl + 50% K2SO4); lô phụ là liều lượng phân kali (L) với 4 liều lượng (L1: 150 kg/ha; L2: 200 kg/ha (đối chứng); L3: 250 kg/ha; L4: 300 kg/ha). Kết quả cho thấy, liều lượng và loại phân kali có ảnh hưởng đến sinh trưởng, yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng của giống nho NH01-26. Đã xác định tổ hợp K2L3 (250 kg/ha; 75% KCl + 25% K2SO4) giúp tăng tỷ lệ cành mang hoa, số chùm quả/cây, đồng thời cho năng suất và chất lượng quả vượt trội. Năng suất lý thuyết đạt 15.954 kg/ha, năng suất thực thu 13.252 kg/ha, lợi nhuận 481,6 triệu đồng/ha (vụ 1) và 473,0 triệu đồng/ha (vụ 2). Đây là cơ sở khẳng định vai trò quan trọng của kali, đặc biệt khi phối hợp KCl và K2SO4, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của giống nho NH01-26, là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy trình canh tác giống nho NH01-26 bền vững tại tỉnh Khánh Hòa.

    DOI: https://doi.org/10.71254/xkcr8s18
  • ẢNH HƯỞNG CỦA HỖN HỢP THẢO DƯỢC BỔ SUNG VÀO KHẨU PHẦN ĂN ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH HOÁ MÁU, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG THỊT GÀ HẾT CHU KỲ KHAI THÁC SINH SẢN

    Abstract : 69 PDF: 0
    Vũ Quỳnh Hương, Nguyễn Văn Duy, Lê Lương Thịnh, Vũ Thị Thu Hiền, Đặng Thuý Nhung, Nguyễn Thị Nga, Hà Xuân Bộ, Nguyễn Chí Thành, Nguyễn Thị Phương, Hoàng Anh Tuấn, Vũ Đình Tôn
    39 - 49

    Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của hỗn hợp bột thảo dược (đơn kim, quế, hồi) hoặc bột quế đến một số chỉ tiêu sinh hóa máu (protein huyết thanh, cholesterol, hoạt độ men gan (AST, ALT), năng suất và chất lượng thịt của gà Ai Cập lai khi kết thúc chu kỳ sinh sản (65 tuần). Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh, gồm lô đối chứng (không bổ sung thảo dược), các lô thí nghiệm lần lượt bổ sung 1,0%, 1,5%, 2,0% hỗn hợp thảo dược, hoặc bổ sung 0,5% bột quế, trong thời gian từ 30 - 65 tuần tuổi. Kết quả cho thấy, gà được ăn thức ăn bổ sung 1,5 - 2,0% hỗn hợp thảo dược giúp giảm tỉ lệ chết và loại thải trong quá trình chăn nuôi, giảm nồng độ cholesterol trong máu và cải thiện chức năng gan, tăng khối lượng thân thịt, giảm lượng mỡ bụng, giảm lượng cholesterol tổng số trong thịt, cải thiện chất lượng cảm quan. Nghiên cứu này khẳng định tiềm năng ứng dụng của thảo dược trong việc cải thiện sức khoẻ gà và chất lượng thịt gà.

    DOI: https://doi.org/10.71254/j615b711
  • NGHIÊN CỨU SỨC TĂNG TRƯỞNG VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ MÁU TRÊN LỢN TỪ 7 - 24 TUẦN TUỔI ĐƯỢC BỔ SUNG MỘT CHẾ PHẨM SINH MIỄN DỊCH

    Abstract : 67 PDF: 0
    Nguyễn Vũ Thụy Hồng Loan, Nguyễn Vũ Tú Uyên, Hồ Thị Nga, Nguyễn Thị Lan Anh
    50 - 58

    Nghiên cứu tác động của việc bổ sung chế phẩm sinh miễn dịch vào thức ăn của 756 lợn được nuôi từ 7 - 24 tuần tuổi đến chỉ tiêu sinh lý máu và sức tăng trưởng, chia thành 3 lô: Lô đối chứng (NT1) không bổ sung, lô thí nghiệm 1 (NT2) bổ sung từ 7 - 19 tuần và lô thí nghiệm 2 (NT3) bổ sung từ 7 - 24 tuần. Về sức tăng trưởng, khối lượng bình quân ở 24 tuần tuổi tương đương giữa các lô, lần lượt là 115,20 ± 1,21; 115,74 ± 1,83; 116,01 ± 1,40 kg/con. Hệ số chuyển hóa thức ăn từ 7 - 24 tuần tuổi ở NT1, NT2, NT3 lần lượt là 2,29; 2,26; 2,27. Phân tích 108 mẫu máu, đánh giá số lượng hồng cầu, bạch cầu, hàm lượng hemoglobin và chỉ số hematocrit. Kết quả nghiên cứu cho thấy, số lượng hồng cầu và bạch cầu ở cả 3 lô đều trong mức bình thường, hàm lượng hemoglobin thấp hơn tiêu chuẩn. Tỷ lệ bạch cầu trung tính và bạch cầu đơn nhân ở NT3 cao hơn NT1 và NT2 cho thấy, chế phẩm miễn dịch có tác động tích cực đến khả năng miễn dịch của lợn. Bổ sung chế phẩm miễn dịch giúp giảm chi phí thuốc thú y, bổ sung toàn giai đoạn thí nghiệm (7 - 24 tuần tuổi) có chi phí thấp nhất. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả của chế phẩm trong việc nâng cao sức khỏe và tăng trưởng cho lợn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/dqgn4k81
  • SỰ HIỆN DIỆN, THAY ĐỔI MỘT SỐ CHỈ SỐ SINH LÝ, SINH HÓA MÁU VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH KÝ SINH TRÙNG MÁU DO Babesia spp. GÂY RA TRÊN CHÓ

    Abstract : 103 PDF: 0
    Nguyễn Thị Lan Anh, Dư Thanh Vũ, Trần Bảo Hoài, Bùi Quốc Việt, Nguyễn Văn Phát, Nguyễn Vũ Thụy Hồng Loan
    59 - 69

    Khảo sát 1437 con chó tới khám ở một số phòng khám tại thành phố Hồ Chí Minh nhiễm ký sinh trùng máu bằng phương pháp khám lâm sàng, nhuộm May-Giemsa và PCR. Tỷ lệ chó nhiễm Babesia spp. là 3,83% (55/1437). 100% (20/20) mẫu nhiễm Babesia bằng phương pháp nhuộm đều có kết quả dương tính với Babesia bằng phương pháp PCR. Chó nuôi thả (6,62%) có tỷ lệ nhiễm Babesia spp. cao hơn nuôi nhốt (2,48%). Chó từ 1 - 5 tuổi (6,77%) và trên 5 tuổi (6,61%) cao hơn nhóm chó nhỏ hơn 1 tuổi (1,51%). Chó đực (5,34%) nhiễm Babesia spp. cao hơn chó cái (2,49%). Số chó dương tính Babesia spp. có nhiễm ve (5,24%) cao hơn chó không nhiễm ve (1,20%). Nhiễm ve (89,09%), bỏ ăn (85,45%) và niêm mạc nhợt nhạt (30,91%) thường xuất hiện ở chó bị nhiễm Babesia spp.. Chó bị nhiễm ký sinh trùng máu có sự thay đổi các chỉ số sinh lý máu như: Giảm số lượng tiểu cầu (92,31%; 43,69 109/L), giảm số lượng hồng cầu (58,97%; 2,84 1012/L), tăng số lượng bạch cầu (10,26%; 23,71 109/L) hoặc giảm số lượng bạch cầu (38,46%; 3,68 109/L). Trong kết quả sinh hoá máu của chó nhiễm Babesia spp. đều có sự thay đổi tăng ở các chỉ số bilirubin toàn phần, ALT và AST lần lượt là 10 ca (47,62%, 1,47 mg/dL), 8 ca (38,10%, 389,5 U/L) và 11 ca (52,38%, 207,3 U/L), hàm lượng albumin giảm (47,62%, 1,73 g/dL), protein toàn phần giảm (28,57%, 3,98 g/dL), globulin giảm (14,29%, 1,57 g/dL) và globulin tăng (14,29%, 6,7 g/dL). Hiệu quả điều trị bằng imidocarb dipropionate trên chó nhiễm Babesia spp. là 89,09%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/4me0kp83
  • NGHIÊN CỨU TẠO SẢN PHẨM PROBIOTIC TỪ GẠO LỨT BẰNG NẤM MEN Saccharomyces boulardii CNCM I-745

    Abstract : 101 PDF: 0
    Đỗ Thị Hạnh, Vũ Ngọc Ánh
    70-78

    Phát triển đồ uống probiotic không phải từ sữa là một giải pháp tiềm năng cho người ăn theo chế độ thuần chay, dị ứng protein sữa và không dung nạp lactose. Hiện nay, Saccharomyces boulardii là loại nấm men probiotic thương mại duy nhất dùng cho con người. Bên cạnh đặc tính của một probiotic, chúng còn có tác dụng phòng ngừa và điều trị tiêu chảy, bao gồm cả tiêu chảy do kháng sinh. Gạo lứt có rất nhiều lợi ích cho sức khoẻ, có tác dụng giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường, béo phì, ung thư….Nghiên cứu này nhằm mục đích tạo sản phẩm probiotic từ gạo lứt bằng nấm men Saccharomyces boulardii. Kết quả nghiên cứu cho thấy, điều kiện thích hợp cho quá trình lên men dịch gạo lứt như sau: Nồng độ chất khô hoà tan ban đầu 12oBx, pH dịch lên men ban đầu 6,0, tỉ lệ giống bổ sung 0,5%, sau 24 giờ lên men ở nhiệt độ 28oC mật độ tế bào nấm men đạt 9,54.107 CFU/mL. Sản phẩm dịch gạo lứt probiotic có nồng độ chất khô hoà tan 10,6oBx, pH 3,94, nồng độ cồn 0,63% v/v, chất lượng cảm quan đạt 18,6 điểm. Sau 28 ngày bảo quản ở nhiệt độ 4 ± 1oC, mật độ tế bào nấm men probiotic trong sản phẩm duy trì đạt 9,45.107 CFU/mL.

    DOI: https://doi.org/10.71254/vj69zm34
  • XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ CỦA QUÁ TRÌNH CHẾ BIẾN SẢN PHẨM HỒ TIÊU XANH

    Abstract : 93 PDF: 0
    Lê Anh Tuấn, Trần Văn Quy, Đỗ Thị Hạnh, Nguyễn Văn Lợi
    79 - 90

    Hồ tiêu được trồng nhiều ở Việt Nam, trong đó có tỉnh Quảng Trị, được sử dụng làm gia vị thực phẩm. Trong quả hồ tiêu có chứa nhiều thành phần hoá học, đặc biệt là tinh dầu và alcaloid. Hồ tiêu xanh là quả hồ tiêu được thu hái khi còn xanh, số lượng quả hồ tiêu đã chín chỉ từ 5 - 10% trên một chùm, hạt chưa tạo sọ và còn mềm, được hái cả chùm khi còn màu xanh trên cây, sau đó sấy khô, bao gói và bảo quản. Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định được các thông số công nghệ của quá trình sấy quả hồ tiêu xanh ở tỉnh Quảng Trị bằng phương pháp sấy lạnh kết hợp với bức xạ hồng ngoại. Phương pháp sấy lạnh kết hợp với bức xạ hồng ngoại là phương pháp sấy nguyên liệu trong điều kiện nhiệt độ thấp kết hợp với các bóng đèn phát tia hồng ngoại để làm khô nguyên liệu. Công nghệ này có nhiều ưu điểm giúp giảm thời gian sấy, nhiệt độ phân bố đồng đều, khả năng linh hoạt trong việc đốt nóng theo vùng, thiết bị đơn giản, gọn nhẹ, đặc biệt là tiết kiệm được năng lượng, cho phép sấy ở nhiệt độ thấp để hạn chế đến mức thấp nhất sự giảm sút chất lượng sản phẩm do nhiệt. Kết quả thí nghiệm đã xác định được các thông số công nghệ của quá trình sơ chế quả hồ tiêu xanh là 2.000 g, nước lọc 3.000 ml, muối ăn 2 g và axit citric 7,5 g và các thông số công nghệ của quá trình sấy là: Độ dày lớp vật liệu sấy 11 mm (hai lớp quả hồ tiêu), nhiệt độ sấy hồ tiêu xanh 40oC, khoảng cách bóng đèn hồng ngoại 10 cm, vận tốc gió thích hợp cho quá trình sấy là 1,5 m/s. Với các thông số công nghệ này thì thời gian sấy hồ tiêu xanh mỗi mẻ là 37 giờ 15 phút, độ ẩm của sản phẩm đạt 7 - 8%. Sản phẩm có hàm lượng tinh dầu 2,15 ± 0,01%, hàm lượng alcaloid 0,065 ± 0,001%, màu xanh xen lẫn vàng ngà, mùi thơm tự nhiên, vị cay tự nhiên, khô dòn và ít nhăn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/cy8bx928
  • CHUYỂN ĐỔI QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG KHÔNG KHÍ VÀ THÁCH THỨC THỰC THI TẠI VIỆT NAM

    Abstract : 77 PDF: 0
    Nguyễn Thanh Giao, Trương Hoàng Đan, Trần Thị Kim Hồng
    91 - 100

    Nghiên cứu này phân tích tiến trình chuyển đổi mô hình quản trị chất lượng không khí tại Việt Nam trong bối cảnh kiện toàn thể chế giai đoạn 2024 - 2025. Sử dụng phương pháp tổng quan hệ thống và đối sánh dữ liệu, nghiên cứu nhận định rằng, trọng tâm quản lý hiện nay đã chuyển dịch từ việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý sang các yêu cầu thực tiễn về tổ chức thực hiện. Kết quả phân tích nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng lộ trình phí bảo vệ môi trường tối ưu, đảm bảo hài hòa lợi ích nhằm tạo động lực kinh tế thực chất cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Đồng thời, việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Môi trường được xác định là bước tiến chiến lược về quản lý đa ngành, đặt ra những yêu cầu mới về sự đồng bộ và năng lực thích ứng của hệ thống giám sát tại địa phương trong giai đoạn chuyển tiếp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất định hướng ưu tiên hoàn thiện các công cụ kinh tế và củng cố nguồn lực thực thi tại cấp cơ sở.

    DOI: https://doi.org/10.71254/77zy3d90