Số 22 (2025)

					Xem Số 22 (2025)
Đã Xuất bản: 25-11-2025

Bài viết

  • NGHIÊN CỨU, HOÀN THIỆN QUY TRÌNH CANH TÁC CÂY GAI XANH (Boehmeria nivea (L.) Gaud.) PHÙ HỢP CÁC VÙNG SINH THÁI TỈNH ĐẮK LẮK

    Abstract : 140 PDF: 0
    Nguyễn Bình Doãn, Phan Thanh Bình, Nguyễn Thị Thảo Nhung, Y Lem Niê
    3-10

    Gai xanh là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị cao trong ngành dệt may, dễ trồng, dễ thu hoạch và có thể thay thế các cây trồng kém hiệu quả như ngô, sắn. Hiện được trồng phổ biến ở các tỉnh phía Bắc để cung cấp nguyên liệu cho nhà máy chế biến sợi. Tỉnh Đắk Lắk có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi cho việc phát triển cây gai xanh, đặc biệt vùng đất bazan cho năng suất và hiệu quả kinh tế vượt trội. Trước yêu cầu xanh hóa ngành dệt và truy xuất nguồn gốc nguyên liệu, việc phát triển vùng nguyên liệu gai xanh là cấp thiết. Nghiên cứu đã tiến hành các thí nghiệm nhằm xác định thông số kỹ thuật phù hợp, làm cơ sở hoàn thiện quy trình canh tác và mở rộng diện tích trồng tại tỉnh Đắk Lắk.

    DOI: https://doi.org/10.71254/49apjk98
  • NGHIÊN CỨU PHÂN BỐ VÀ ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG CỦA LOÀI MẠN KINH (Vitex rotundifolia L.f.) TẠI TỈNH KHÁNH HÒA

    Abstract : 126 PDF: 0
    Nguyễn Minh Hùng, Nguyễn Thu Hằng, Lê Văn Minh, Đinh Ngọc Bảo, Lê Thanh Sơn
    11-17

    Mạn kinh (Vitex rotundifolia L.f.) là một loài cây thuốc có phân bố tự nhiên mọc thành từng đám dọc theo ven biển trên địa bàn tỉnh. Kết quả điều tra khảo sát năm 2023 - 2024 cho thấy: Tổng diện tích phân bố tự nhiên của loài Mạn kinh tại tỉnh Khánh Hòa (Tỉnh Ninh Thuận trước đây) ước lượng 121,99 ha, với trữ lượng dược liệu từ cành lá tươi là 970,30 tấn. Cụ thể: Xã Cà Ná và xã Phước Dinh (Huyện Thuận Nam trước đây) có diện tích phân bố lớn nhất, khoảng 49,71 ha, trữ lượng 378,19 tấn; thôn Tuấn Tú - xã Phước Dinh, phường Đông Hải, phường Ninh Chử (Huyện Ninh Phước trước đây) có diện tích 32 ha, trữ lượng 258,56 tấn; xã Ninh Hải và xã Vĩnh Hải (Huyện Ninh Hải trước đây) có diện tích 26,95 ha, trữ lượng 216,25 tấn; xã Công Hải (Huyện Thuận Bắc trước đây) có diện tích phân bố 13,33 ha, trữ lượng 117,30 tấn. Trữ lượng dược liệu từ cành và lá của Mạn kinh trong tự nhiên khá lớn, nhận định đây là hướng có tiềm năng phát triển trong tương lai. Do đó, cần được quan tâm khai thác và phát triển trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.

    DOI: https://doi.org/10.71254/41835t74
  • NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG KALI VÀ THỜI ĐIỂM THU HOẠCH ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG HẠT GIỐNG KIM TIỀN THẢO (Desmodium styracifolium (Osbeck) Merr.)

    Abstract : 292 PDF: 0
    Nguyễn Thị Hương, Phan Thúy Hiền, Trịnh Văn Vượng, Nhữ Thu Nga, Trịnh Minh Vũ, Trần Ngọc Thanh, Trần Danh Việt, Hoàng Thúy Nga
    18-26

    Kim tiền thảo (Desmodium styracifolium (Osbeck) Merr.) là cây dược liệu được sử dụng phổ biến trong dân gian và có nhiều công dụng trong y học, đặc biệt trong điều trị sỏi thận và lợi tiểu. Nhằm góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống, các thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của liều lượng kali và thời điểm thu hoạch đến năng suất và chất lượng hạt giống đã được tiến hành năm 2023 tại Trung tâm Nghiên cứu Nguồn gen và Giống Dược liệu Quốc gia, Viện Dược liệu. Thí nghiệm gồm 4 công thức phân bón, được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ. Kết quả cho thấy, công thức PB2 (130 kg N + 80 kg P2O5 + 100 kg K2O) là công thức bón phân tối ưu cho sản xuất hạt giống kim tiền thảo. Công thức này cho năng suất hạt đạt 326,94 kg/ha, tỷ lệ hạt chắc cao (79,5%), khối lượng 1.000 hạt đạt 1,647 g và tỷ lệ nảy mầm đạt 74,7%. Song song đó, thí nghiệm về biện pháp thu hoạch cũng được thực hiện với 3 công thức với 3 thời điểm thu hoạch khác nhau. Kết quả cho thấy, thu hoạch theo cấp cành mang lại hiệu quả cao nhất, với năng suất hạt đạt 352,79 kg/ha, khối lượng 1.000 hạt lớn nhất (1,660 g) và tỷ lệ nảy mầm đạt 77,02%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/8qttsf08
  • ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN CHẦN, NỒNG ĐỘ GIẤM VÀ NHIỆT ĐỘ BẢO QUẢN ĐẾN CHẤT LƯỢNG MĂNG TÂY NGÂM GIẤM

    Abstract : 176 PDF: 0
    Trần Thị Mai, Phạm Mỹ Lệ Hoa, Trần Thị Mai, Phạm Mỹ Lệ Hoa
    27-35

    Măng tây là sản phẩm giàu giá trị dinh dưỡng, thường được sử dụng và chế biến thành nhiều sản phẩm khác nhau. Trong nghiên cứu này, đã khảo sát ảnh hưởng của thời gian chần 0, 10, 30, 60 giây ở nhiệt độ nước 95oC, độ pH dịch giấm từ 2 – 3, bảo quản ở nhiệt độ mát và nhiệt độ phòng trong 14 ngày thử nghiệm. Kết quả cho thấy, chần ở 95oC trong 30 giây, độ pH dịch giấm 2,5 là phù hợp cho sản phẩm măng tây ngâm giấm, loại bỏ vi sinh vật và giữ lại phenolic tổng đạt 41,67 mg GAE/kg chất khô. Nhiệt độ mát giúp giữ lại hàm lượng phenolic tổng cao hơn nhiệt độ phòng, đạt 16,02 mg GAE/kg chất khô sau 14 ngày. Nghiên cứu cung cấp thông tin về ảnh hưởng của thời gian chần, pH giấm và nhiệt độ bảo quản đến chất lượng cảm quan, mật độ vi sinh và hàm lượng hoạt chất của sản phẩm măng tây ngâm giấm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/jh5vt963
  • TỶ LỆ VIÊM TỬ CUNG TÍCH MỦ Ở CHÓ CÁI TẠI BỆNH XÁ THÚ Y, TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG ĐỒNG THÁP

    Abstract : 186 PDF: 0
    Ngô Phú Cường, Hà Huỳnh Hồng Vũ, Võ Duy Hoàng
    36-40

    Nghiên cứu tại Bệnh xá Thú y, Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp trên 188 chó cái chưa triệt sản cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung tích mủ (pyometra) là (36/188). Trong số 36 ca bệnh, tỷ lệ biểu hiện cổ tử cung mở chiếm ưu thế (86,1%), được phát hiện bệnh sớm và can thiệp hiệu quả, trong khi thể cổ tử cung đóng tuy chiếm tỷ lệ thấp nhưng tiềm ẩn nguy cơ tử vong cao. Các khảo sát ghi nhận gồm sử dụng hormone sinh sản (44,44%), chưa từng sinh sản (27,78%), tuổi ≥ 7 năm (16,67%) và giống chó lai (11,11%). Kết quả điều trị cho thấy, phẫu thuật triệt sản (ovariohysterectomy) có hiệu quả vượt trội (với tỷ lệ thành công 95,83%) so với nội khoa (60.0%), đặc biệt ở những trường hợp cổ tử cung đóng hoặc không đáp ứng thuốc.

    DOI: https://doi.org/10.71254/jsh7hh88
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG CHẾ PHẨM VI SINH ĐẾN PHÁT THẢI MÙI TRONG CHĂN NUÔI GÀ ĐẺ TẠI PHƯỜNG TRẦN LÃM, TỈNH HƯNG YÊN

    Abstract : 121 PDF: 0
    Nguyễn Thị Hiển, Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Thị Minh, Phạm Châu Thùy
    41-53

    Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá hiệu quả khử mùi của các phương pháp sử dụng chế phẩm vi sinh (CPVS) tại cơ sở chăn nuôi gà trên địa bàn phường Trần Lãm, tỉnh Hưng Yên. Công nghệ được áp dụng là sử dụng chế phẩm vi sinh (CPVS) dạng bột để trộn làm đệm lót và kết hợp CPVS làm đệm lót và CPVS dạng lỏng để phun vào chuồng. Kết quả cho thấy, hiệu quả giảm mùi rõ rệt, đặc biệt là mùi hôi ở vị trí trong chuồng trại. Công thức thực nghiệm cụ thể là sử dụng CPVS Emuniv dạng bột làm đệm lót sinh học (GC1), kết hợp sử dụng CPVS Emuniv dạng bột làm đệm lót sinh học với chế phẩm Emuniv dạng lỏng phun khử mùi (GC2) đều có tác dụng giảm nồng độ các khí gây mùi NH3, H2S, VOCs và giảm nồng độ khí CH4 ở trong và ngoài chuồng nuôi so với trước khi áp dụng biện pháp khử mùi. Tỉ lệ giảm này nhiều hơn so với mẫu đối chứng. Tỉ lệ giảm các khí trong chuồng nuôi so với trước khi áp dụng biện pháp khử mùi lần lượt là: 55,2 - 68,5% đối với khí NH3; 66,3 - 75% đối với H2S; 50,9 - 53,8% đối với CH4 và 10,9 - 34,7% đối với khí VOCs. Trong khi tỉ lệ giảm này ở mẫu đối chứng đạt cao nhất chỉ 11,4% đối với khí H2S. Sử dụng chế phẩm Eminuv dạng bột làm đệm lót và xử lý chất thải rắn có thể làm giảm chi phí đầu tư đệm lót khử mùi cho 1 m2 chuồng nuôi khoảng 20% trong khi nếu áp dụng cả bộ chế phẩm Emuniv dạng bột và dạng lỏng phun khử mùi (GC2) không làm tăng chi phí dành cho đệm lót sinh học và khử mùi so với đối chứng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/2dy0j059
  • ỨNG DỤNG GIS VÀ VIỄN THÁM TRONG XÂY DỰNG BẢN ĐỒ PHÂN BỐ PHÙ HỢP LOÀI MÂY NƯỚC MỠ (Calamus sp.) TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    Abstract : 172 PDF: 0
    Huỳnh Kim Hiếu, Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Thị Thương, Vũ Thị Thùy Trang, Nguyễn Văn Minh
    54-64

    Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá mức độ phù hợp sinh thái của loài Mây nước mỡ (Calamus sp.) tại thành phố Đà Nẵng (tỉnh Quảng Nam trước đây) bằng tích hợp dữ liệu không gian, điều tra thực địa và phân tích đa tiêu chí trong môi trường GIS - viễn thám. Hệ tiêu chí xây dựng gồm 7 nhân tố: Độ tàn che, đai cao, độ dốc, khoảng cách nguồn nước, hướng phơi, loại đất và tầng dày đất. Trọng số xác định theo AHP của Saaty, kiểm định nhất quán (CR < 0,1), sau đó tính chỉ số phù hợp SI theo mô hình tuyến tính có trọng số và chồng xếp trong QGIS. Dữ liệu nền gồm: Bản đồ đất, DEM, bản đồ diễn biến rừng, các báo cáo, thống kê thu thập được. Kết quả cho thấy, độ tàn che, khoảng cách đến nguồn nước và loại đất là 3 nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến sự phù hợp trong phân bố loài Mây nước mỡ tại Ban Quản lý Rừng phòng hộ (BQLRPH) Đông Giang và Nam Giang. Tại BQLRPH Đông Giang, tỷ lệ “phù hợp cao” chiếm 11,57% (3.661,36 ha), trong khi tỷ lệ “không phù hợp” là 44,43% (14.057,46 ha); tại BQLRPH Nam Giang tỷ lệ “phù hợp cao” chỉ chiếm 6,75% (3.747,42 ha), trong khi nhóm “không phù hợp” chiếm tỷ lệ là 51,82% (28.764,87 ha).

    DOI: https://doi.org/10.71254/f801ej36
  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC LOÀI DÓ VÂN NAM (Aquilaria yunnanensis S. C.Huang) TẠI TỈNH BẮC NINH VÀ QUẢNG NINH

    Abstract : 144 PDF: 0
    Hoàng Thị Hằng, Phùng Thị Tuyến, Nguyễn Thế Nhã, Hứa Thị Thuỳ Trang, Trần Thị Tú Dược, Phan Đức Lê, Nguyễn Thành Tuấn
    65-75

    Dó vân nam (Aquilaria yunnanensis S. C.Huang) thuộc chi Aquilaria, là một trong số các loài Dó trầm có khả năng cho trầm chất lượng cao. Để góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc bảo tồn loài Dó vân nam, nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng phân bố và đặc điểm sinh thái của loài Dó vân nam tại huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc Ninh) và thành phố Hạ Long (cũ), tỉnh Quảng Ninh. Nghiên cứu tiến hành điều tra 6 tuyến và 6 ô tiêu chuẩn (1.000 m2) để xác định khu vực phân bố tự nhiên, đặc điểm sinh thái rừng nơi có loài Dó vân nam phân bố. Nghiên cứu cũng đã xác định được đặc điểm đất, tính chất vật lý và hoá học của đất tại hai khu vực có loài Dó vân nam phân bố. Kết quả đã xác định được 61 cá thể tại thành phố Hạ Long (cũ), tỉnh Quảng Ninh phân bố ở độ cao từ 133 - 430 m và 12 cá thể tại huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang (cũ) ở độ cao 421 - 649 m. Tổng số 73 cá thể bao gồm cả cây trưởng thành và cây tái sinh. Thành phần loài cây gỗ trong các ô tiêu chuẩn có loài Dó vân nam phân bố dao động từ 12 - 24 loài, cây tái sinh từ 10 - 21 loài. Nhóm loài cây ưu thế tham gia công thức tổ thành tầng cây gỗ từ 4 - 8 loài, tầng cây tái sinh từ 4 - 5 loài. Ở tầng cây cao và tầng cây tái sinh, Dó vân nam xuất hiện trong công thức tổ thành tầng cây gỗ của 2/6 ô tiêu chuẩn điều tra tại tỉnh Quảng Ninh. Dó vân nam phân bố trên các loại đất có thành phần cơ giới từ đất sét trung bình đến đất thịt nặng và có độ pH từ rất chua đến chua tại sườn núi có độ dốc từ 10 - 25oº.

    DOI: https://doi.org/10.71254/b1t9ve77
  • Ổ SINH THÁI CỦA GẤU NGỰA (Ursus thibetanus Cuvier, 1823) Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HU, TỈNH THANH HÓA

    Abstract : 104 PDF: 0
    Đỗ Ngọc Dương, Nguyễn Đắc Mạnh, Lê Khắc Đông, Lê Duy Cường, Nguyễn Đình Dũng, Nguyễn Văn Lý, Phan Văn Dũng, Bùi Văn Bắc, Nguyễn Văn Tùng
    76-87

    Để xác định ổ sinh thái của Gấu ngựa ở Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Pù Hu, đề tài tiến hành điều tra sinh cảnh sống của loài này trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2023 đến tháng 12 năm 2024. Thông qua tính toán các hệ số lựa chọn để nghiên cứu quy luật lựa chọn sinh cảnh sống của Gấu ngựa, đồng thời ứng dụng hệ thông tin địa lý (GIS) và phân tích thứ bậc để mô hình hóa ổ sinh thái không gian của chúng. Kết quả cho thấy Gấu ngựa thường hoạt động ở nơi có độ dốc dưới 25o, hướng phơi trung tính, ở sườn và đỉnh núi, ở độ cao từ 700 m trở lên. Chúng thích sống ở các kiểu rừng cây gỗ có độ tàn che trên 50%, mật độ cây gỗ 750 - 1.500 cây/ha và có cây gỗ đổ (25 - 125 cây/ha), mật độ cây bụi thấp (dưới 1.500 bụi/ha); cách xa đường giao thông và khu dân cư lần lượt là 1.200 m và 2.000 m, đồng thời có thể tiếp cận nguồn nước trong phạm vi 1000 m. Ổ sinh thái không gian của Gấu ngựa tại khu vực nghiên cứu có diện tích ước tính 14.410,41 ha, phân bố tập trung ở 8 tiểu khu: TK42, TK49, TK56, TK83, TK94, TK98, TK102 và TK120. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp quy hoạch bảo tồn quần thể Gấu ngựa tại Khu BTTN Pù Hu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/7tq1ag35
  • KẾ HOẠCH SỬ ĐẤT HẰNG NĂM TẠI KHU VỰC ĐÔ THỊ: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Abstract : 337 PDF: 0
    Nguyễn Thị Ngọc Ánh, Đỗ Thị Tám, Trần Duy Hùng, Trương Đỗ Thùy Linh, Đào Thị Thùy Dương, Lê Thị Hà
    88-100

    Theo quy định của Luật Đất đai 2013 và Luật Đất đai 2024  đối với địa bàn đã có quy hoạch đô thị được phê duyệt thì không lập quy hoạch sử dụng đất nhưng phải lập kế hoạch sử dụng đất (KHSDĐ) hằng năm để làm căn cứ giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Nghiên cứu đánh giá kết quả và đề xuất giải pháp để thực hiện hiệu quả KHSDĐ hằng năm của thành phố Thủ Đức (cũ), thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp: Thu thập số liệu, đánh giá theo thang đo Likert, đánh giá theo tiến độ thực hiện và mức độ hoàn thành các chỉ tiêu sử dụng đất. Kết quả cho thấy, trong giai đoạn 2021 – 2024, KHSDĐ hằng năm thường được phê duyệt chậm so với quy định. Trong số 104 chỉ tiêu sử dụng đất, có 54,81% đạt mức thực hiện rất tốt, nhưng vẫn còn 8,65% ở mức rất kém. Trong 927 dự án được phê duyệt, chỉ có 3,99% hoàn thành đúng thời hạn; 84,47% bị chuyển sang năm sau và 11,54% bị hủy bỏ. Đánh giá từ cán bộ công chức cho thấy, có 5/10 tiêu chí được đánh giá rất tốt, 3/10 tiêu chí ở mức tốt và 2/10 tiêu chí ở mức kém. Để nâng cao hiệu quả thực hiện KHSDĐ, cần thiết lập cơ chế điều phối liên ngành, liên cấp; hoàn thiện quy trình và nâng cao chất lượng KHSDĐ; thúc đẩy huy động vốn và thực hiện đánh giá năng lực của đầu tư; tăng cường sự tham gia và công khai thông tin; đẩy nhanh ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zf2cvx58