Số 18 (2025)
Bài viết
-
XÂY DỰNG MÔ HÌNH SẢN XUẤT RAU HỮU CƠ TRÁI VỤ THEO CHUỖI GIÁ TRỊ CHO NÔNG DÂN THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Abstract : 304 PDF: 0Sản xuất rau ôn đới hữu cơ trái vụ là trồng các loại rau ôn đới như: Cà chua, cải củ vào các tháng mùa hè ở miền Bắc, Việt Nam, vì thế, nghiên cứu nhằm xây dựng được mô hình sản xuất rau hữu cơ trái vụ theo chuỗi giá trị cho nông dân để tận dụng được lợi thế khí hậu vùng cao, thích ứng với biến đổi khí hậu và thị trường. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ được coi như là phương thức sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu và nhu cầu của thị trường góp phần tăng thu nhập cho nông dân. Nghiên cứu đã xây dựng được mô hình sản xuất cà chua, cải củ hữu cơ trái vụ có chứng nhận đạt tiêu chuẩn hữu cơ Việt Nam (TCVN 11041-2:2017) tại xã vùng cao Vân Sơn, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình (nay là xã Vân Sơn, tỉnh Phú Thọ), năng suất cà chua, cải củ trái vụ đạt 34,6 tấn/ha/vụ và 36,42 tấn/ha/vụ tương ứng. Hiệu quả kinh tế của mô hình cà chua hữu cơ trái vụ đạt 890,92 triệu đồng/ha/vụ và cải củ hữu cơ trái vụ đạt 438,97 triệu đồng/ha/vụ. Nghiên cứu cũng xây dựng được mô hình quản lý, tiêu thụ sản phẩm rau hữu cơ theo chuỗi giá trị cho nông dân xã Vân Sơn để định hướng nhân rộng mô hình trong thời gian tới.
-
KẾT QUẢ ĐIỀU TRA KIẾN THỨC BẢN ĐỊA VÀ THU THẬP NGUỒN GEN CÂY TRỒNG TẠI TỈNH ĐẮK LẮK NĂM 2024
Abstract : 253 PDF: 0Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, sở hữu điều kiện tự nhiên và văn hoá đa dạng, là nơi sinh sống của nhiều cộng đồng dân tộc bản địa như: Ê Đê, M’Nông, Gia Rai, Tày, Nùng… Qua nhiều thế hệ, các cộng đồng này đã hình thành và lưu giữ kho tàng kiến thức bản địa phong phú liên quan đến canh tác, bảo quản và sử dụng các giống cây trồng truyền thống. Trong đó, lúa rẫy, ngô, cà đắng và mướp hương là những loại cây vừa gắn bó mật thiết với đời sống sản xuất và ẩm thực, vừa mang giá trị di truyền quan trọng cho bảo tồn và chọn giống. Nhằm ghi nhận và bảo tồn các nguồn gen quý này, Trung tâm Tài nguyên thực vật đã tiến hành điều tra và thu thập nguồn gen lúa, ngô, cà đắng, mướp hương tại 12 xã thuộc 6 huyện: Buôn Đôn, Krông Bông, Ea Kar, Lắk, Krông Ana và Krông Pắc của tỉnh Đắk Lắk. Kết quả, đã thu thập được 55 mẫu giống, bao gồm 24 mẫu lúa, 15 mẫu ngô, 9 mẫu cà đắng và 7 mẫu mướp hương. Phần lớn mẫu giống do đồng bào Ê Đê và M’Nông cung cấp, riêng mẫu lúa còn được bổ sung từ đồng bào Tày và Nùng. Phương thức canh tác các giống bản địa này chủ yếu theo tập quán nương rẫy truyền thống: Phát rẫy, đốt rẫy, tra hạt, chăm sóc và thu hoạch bằng công cụ thô sơ. Đặc biệt, lúa được tuốt hạt bằng tay ngay trên nương thay vì dùng liềm hoặc hái, nhằm hạn chế thất thoát do hạt dễ rụng và phù hợp với tập quán sản xuất. Từ kết quả điều tra, một số nguồn gen tiêu biểu của lúa, ngô, cà đắng và mướp hương đã được đề xuất để xây dựng mô hình bảo tồn tại chỗ ở địa phương, góp phần duy trì và khai thác bền vững nguồn tài nguyên di truyền quý của vùng Tây Nguyên.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LƯỢNG LÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LẠC L29 TRONG VỤ XUÂN TẠI TỈNH THANH HÓA
Abstract : 228 PDF: 0Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của mật độ và lượng lân bón đến sinh trưởng và năng suất của giống lạc L29 trong vụ xuân năm 2024 và 2025 tại tỉnh Thanh Hóa. Thí nghiệm 1 gồm 4 công thức mật độ (25, 30, 35, 40 cây/m2), thí nghiệm 2 gồm 5 lượng bón lân (0, 60, 90, 120, 150 kg P2O5/ha) được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 3 lần nhắc lại. Kết quả cho thấy, khi tăng mật độ thì chiều cao cây và chỉ số diện tích lá tăng lên, tuy nhiên khả năng tích lũy chất khô, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất cá thể giảm. Mật độ trồng 35 cây/m2 cho cây lạc sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất lý thuyết (3,78 tấn/ha) và năng suất thực thu (3,26 tấn/ha) đạt giá trị lớn nhất. Các chỉ tiêu sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất tăng khi tăng lượng lân bón từ 0 lên 120 kg/ha, tiếp tục tăng lượng lân bón lên 150 kg/ha thì các chỉ tiêu trên có xu hướng giảm xuống. Mức bón 120 kg P2O5/ha cho các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất đạt cao nhất, đặc biệt năng suất lý thuyết đạt 4,59 tấn/ha và năng suất thực thu đạt 3,75 tấn/ha.
-
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÁC MẪU NẤM KÝ SINH CÔN TRÙNG ĐỐI VỚI RẦY PHẤN TRẮNG Bemisia tabaci (Hemiptera: Aleyrodidae) GÂY HẠI RAU MÀU TRONG ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM VÀ NHÀ LƯỚI
Abstract : 271 PDF: 0Thí nghiệm nhằm mục đích đánh giá hiệu quả của một số loại nấm ký sinh côn trùng như: Paecilomyces fumosoroseus, Beauveria bassiana và Verticillium spp. trên ấu trùng rầy phấn trắng (Bemisia tabaci). Kết quả cho thấy, trong điều kiện phòng thí nghiệm, ở nồng độ 108 bào tử/ml, các chủng nấm ký sinh Paecilomyces fumosoroseus, Beauveria bassiana và Verticillium spp. đều có hiệu quả chống lại ấu trùng rầy phấn trắng. Tại thời điểm 9 ngày sau khi phun, tất cả các chủng nấm P. fumosoroseus đều cho thấy hiệu quả từ 77,5 - 95,0%. Các nghiệm thức xử lý B. bassiana có hiệu quả trên 83%. Tương tự, hầu hết các chủng Verticillium spp. đều cho thấy hiệu quả cao trên 80% (trừ nghiệm thức xử lý Ver-RS). Ngoài ra, trong điều kiện nhà lưới, các chủng nấm Bb-RPT, Pae-RPT và Ver-RPT1 cho hiệu quả cao nhất, lần lượt là 91,8%; 91,1% và 88,8%.
-
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA DỊCH TRÍCH LÁ BÀNG (Terminalia catappa L.) ĐỐI VỚI NẤM Colletotrichum spp. GÂY BỆNH THÁN THƯ TRÊN QUẢ XOÀI (Mangifera indica L.)
Abstract : 320 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá khả năng ức chế nấm Colletotrichum spp. gây bệnh thán thư trên quả xoài (Mangifera indica L.) sau thu hoạch của dịch trích lá bàng (Terminalia catappa L.), từ đó đề xuất giải pháp sinh học thay thế hóa chất trong bảo quản nông sản. Nấm bệnh được phân lập từ quả xoài bệnh tại tỉnh Kiên Giang (nay là tỉnh An Giang) và định danh bằng kỹ thuật giải trình tự gen. Dịch trích lá bàng được chiết bằng nước và ethanol 50%. Khả năng ức chế nấm được đánh giá qua hai thí nghiệm: (1) trên môi trường thạch PDA, theo dõi đường kính khuẩn lạc tại các thời điểm 3 - 17 ngày sau đặt khoanh khuẩn ty; (2) trên quả xoài trong điều kiện tồn trữ, xử lý các nồng độ dịch trích 0,5; 2,0; 5,0 mg/mL, sau đó theo dõi tỷ lệ và mức độ bệnh sau 7 ngày lây nhiễm nhân tạo. Kết quả cho thấy, đã phân lập được 2 chủng nấm bệnh là X1 và X4 có khả năng gây bệnh với độc lực cao. Kết quả định danh cho thấy, chủng X1 là Colletotrichum acutatum và X4 là Colletotrichum gloeosporioides. Dịch trích ethanol 50% có hiệu quả ức chế mạnh, phụ thuộc vào nồng độ. Trên đĩa thạch, khuẩn lạc của cả hai loài nấm gần như ngừng phát triển hoàn toàn sau 13 - 15 ngày. Trên quả xoài, nồng độ 5 mg/mL dịch trích ethanol làm giảm tỷ lệ bệnh của C. acutatum còn 0% và C. gloeosporioides còn 30%; mức độ bệnh tương ứng là 0% và 7,33%.
-
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH KHAI THÁC VÀ THU HỒI TINH DẦU TỎI BẰNG DUNG MÔI CO2 SIÊU TỚI HẠN
Abstract : 283 PDF: 0Cây tỏi được sử dụng nhiều trong thực phẩm, đặc biệt là sử dụng nhiều làm gia vị thực phẩm; trong ẩm thực Việt Nam nhiều món ăn được chế biến theo phương pháp xào, rán, nấu không thể thiếu vai trò của tỏi. Trong củ tỏi có chứa nhiều thành phần dinh dưỡng như: Protein, carbohydrates, vitamin, chất khoáng và các chất có hoạt tính sinh học, đặc biệt là tinh dầu. Tinh dầu tỏi có mùi thơm đặc trưng hấp dẫn và có nhiều tác dụng đối với sức khoẻ con người. Mục tiêu của nghiên cứu này là xây dựng quy trình khai thác và thu hồi tinh dầu tỏi bằng dung môi CO2 siêu tới hạn góp phần nâng cao hiệu suất thu hồi tinh dầu tỏi. Nội dung nghiên cứu là xác định hàm lượng tinh dầu tỏi, các thông số công nghệ (áp suất trích ly, lưu lượng CO2, thời gian trích ly, kích thước nguyên liệu, nhiệt độ trích ly) tinh dầu tỏi và phân tích các cấu tử của tinh dầu tỏi. Kết quả, đã xác định được hàm lượng tinh dầu tỏi là 0,42 ± 0,04%, áp suất trích ly là 30 Mpa, lưu lượng CO2 là 4 ml/phút, thời gian trích ly 120 phút, kích thước nguyên liệu 0,5 mm, nhiệt độ trích ly 60oC thì hiệu suất thu hồi tinh dầu đạt 74,46 ± 1,52%. Sử dụng phương pháp GC-MS đã xác định được 16 cấu tử trong tinh dầu tỏi, một số cấu tử chiếm tỷ lệ cao, điển hình là diallyl disulfide 42,54%, methyl (E)-1-propenyl trisulfide 11,21%, 3-vinyl-4H-1,2-dithiine 8,36%, diallyl trisulfide 5,75%, 2-vinyl-4H-1,3-dithiine 5,28%, diallyl tetrasulfide 5,14% và cyclooctasulfur 5,04%.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN BẢO QUẢN NGUYÊN LIỆU PUREE THANH TRÀ VÀ LOẠI BỘT ĐẾN TÍNH CHẤT HÓA LÝ CỦA BÁNH TRÁNG THANH TRÀ (Bouea macrophylla Griffith)
Abstract : 382 PDF: 0Thanh trà là loại trái cây nhiệt đới có giá trị dinh dưỡng cao, chứa nhiều vitamin và khoáng chất. Nhằm chủ động nguồn nguyên liệu trong sản xuất, nghiên cứu tiến hành khảo sát chất lượng puree thanh trà theo thời gian bảo quản lạnh đông (0 - 14 tuần), đồng thời đánh giá ảnh hưởng của các loại bột (bột gạo, bột mì, bột năng và các kết hợp giữa 3 loại bột) đến chất lượng bánh tráng thanh trà thông qua các chỉ tiêu phân tích bao gồm: Độ ẩm, độ dài gel, thời gian hồ hóa, hàm lượng vitamin C, hoạt độ nước, lực xuyên thấu và màu sắc. Kết quả cho thấy, puree thanh trà duy trì được chất lượng ổn định trong 12 tuần bảo quản, cùng với sự kết hợp giữa bột gạo và bột mì cho sản phẩm bánh tráng có đặc tính cơ lý và hóa lý phù hợp như: Độ ẩm trước sấy (60,61%), thời gian hồ hóa (247,73 giây), hàm lượng vitamin C (28,27 mg%), lực xuyên thấu (245,58 g lực), giá trị độ sáng L* (53,94), giá trị màu vàng b* (25,21), hoạt độ nước Aw (0,71). Nghiên cứu này đã thiết lập cơ sở khoa học ban đầu cho quá trình hoàn thiện quy trình sản xuất bánh tráng thanh trà, đồng thời mở rộng triển vọng ứng dụng và thương mại hóa sản phẩm chế biến từ quả thanh trà.
-
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT BẰNG CÁC CHẤT TRỢ KEO TỪ MỘT SỐ LOẠI THỰC VẬT
Abstract : 219 PDF: 0Xử lý nước thải sinh hoạt hiện đang là vấn đề được quan tâm, đặc biệt do ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống. Việc sử dụng các chất keo tụ có nguồn gốc từ thực vật tự nhiên, sẵn có và chi phí thấp như đay (Corchorus olitorius), mồng tơi (Basella alba), nha đam (Aloe vera) và đậu bắp (Abelmoschus esculentus) mang lại một giải pháp đầy hứa hẹn và thân thiện với môi trường cho vấn đề này. Thí nghiệm 1 nhằm đánh giá ảnh hưởng nồng độ các chất trợ keo (0, 20, 40, 60, 80, 100 mg/L) kết hợp cùng 30 mg/L PAC lên hiệu suất xử lý cho thấy, hỗn hợp gồm 60 mg/L chiết xuất từ đậu bắp đạt hiệu suất xử lý COD, độ đục, nitơ tổng và phospho tổng tương ứng là 64,18, 72,7, 78,81, 82,5%, vượt trội hơn so với các chất keo tụ có nguồn gốc thực vật khác. Thí nghiệm 2 nhằm khảo sát ảnh hưởng của giá trị pH (pH 5, pH 6, pH 7, pH 8, pH 9) và thí nghiệm 3 khảo sát thời gian lắng (15, 30, 45 phút) lên hiệu suất xử lý nước thải sinh hoạt cho thấy, tại pH 7 và thời gian lắng 45 phút, chiết xuất từ trái đậu bắp cho hiệu suất loại bỏ COD đạt 64,18% và độ đục trên 89% mà không làm thay đổi pH của nước. Qua đó cho thấy, việc sử dụng các chất keo tụ có nguồn gốc từ trái đậu bắp để xử lý nước thải sinh hoạt là giải pháp tiềm năng.
-
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHỌN LOÀI THỰC VẬT PHÙ HỢP NHẰM PHÒNG, CHỐNG SẠT LỞ BỜ SÔNG, KÊNH, RẠCH TỈNH AN GIANG
Abstract : 378 PDF: 0Bài báo này nhằm đánh giá đặc điểm thảm thực vật ven sông, kênh, rạch tại vùng đất phèn tỉnh An Giang. Thông qua khảo sát thực địa, nghiên cứu đã xác định được sự phân bố, thành phần loài, đặc điểm hình thái và đặc tính sinh thái của 28 loài thực vật tiêu biểu trong khu vực. Các loài thực vật có xu hướng phân bố hỗn giao thành từng đám, hình thành các quần xã điển hình như: Tràm, Tre, Bạch đàn trắng, cỏ vetiver,... với khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện đặc thù của vùng đất phèn. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đã đánh giá mức độ phong phú, độ đồng đều và các chỉ số ưu thế của các loài thực vật đặc trưng tại khu vực khảo sát. Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất một số loài thực vật có tiềm năng ứng dụng trong công tác phòng, chống sạt lở bờ sông, kênh, rạch tại tỉnh An Giang, bao gồm: Cỏ vetiver, Gáo vàng, Tràm cừ và cây Sậy. Những loài này được lựa chọn làm cơ sở xây dựng mô hình trình diễn tích hợp giải pháp sinh thái và thủy lợi nhằm bảo vệ bờ sông tại khu vực đất phèn.
-
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ (GIS) ĐỂ XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ XÓI MÒN DO MƯA TẠI TỈNH SƠN LA
Abstract : 267 PDF: 0Xói mòn đất là hiện tượng tự nhiên tác động đến đất ở mọi dạng địa hình. Quá trình này dẫn đến sự rửa trôi các dưỡng chất quan trọng trên bề mặt, làm suy giảm chất lượng đất, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng và phá vỡ sự cân bằng tự nhiên của môi trường đất. Mưa là nguyên nhân chính dẫn đến xói mòn đất, chiếm tỷ lệ cao nhất trong các nguyên nhân xói mòn đất do nước. Sơn La là tỉnh vùng núi thuộc khu vực Tây Bắc có địa hình chủ yếu là dốc, chia cắt mạnh; khí hậu phân hóa thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa có lượng mưa lớn tập trung. Tài nguyên đất và rừng khá phong phú cùng hệ thống sông ngòi phức tạp, trong điều kiện ảnh hưởng khá rõ nét của biến đổi khí hậu đã tạo cho đất tỉnh Sơn La có nguy cơ thoái hóa, nhất là ở loại hình xói mòn do mưa. Trong nghiên cứu này, bản đồ xói mòn xây dựng bằng phương pháp GIS dựa trên công thức của phương trình mất đất phổ dụng biến đổi, gồm có 5 bản đồ hệ số: Bản đồ hệ số xói mòn do mưa (R); bản đồ hệ số xói mòn của đất (K); bản đồ độ dốc và độ dài sườn dốc (LS); bản đồ hệ số lớp phủ thực vật và quản lý đất (C) và bản đồ hệ số do áp dụng các biện pháp canh tác, bảo vệ đất (P). Sử dụng phương pháp chồng xếp, thống kê dữ liệu bằng phần mềm ArcGIS đã xác định được mức độ và vị trí của các khu vực xói mòn đất theo 4 mức: Không xói mòn; xói mòn yếu; xói mòn trung bình và xói mòn mạnh.








