Số 16 (2025)

					Xem Số 16 (2025)
Đã Xuất bản: 30-08-2025

Bài viết

  • ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG DINH DƯỠNG, ĐƯỜNG SUCROSE VÀ THIDIAZURON ĐẾN KHẢ NĂNG TÁI SINH PHÔI SOMA QUA NUÔI CẤY CHỒI MẦM DỪA LÙN XIÊM XANH (Cocos nucifera L.f.)

    Abstract : 295 PDF: 0
    Lê Hoàng Mai, Nguyễn Thiên Quang, Trần Văn Minh
    3-13

    Dừa là cây trồng kinh tế quan trọng, đặc biệt dừa Xiêm Xanh được trồng phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long với nhu cầu sử dụng nước dừa tươi ngày càng cao. Nghiên cứu này tập trung vào ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy phôi soma làm cơ sở nghiên cứu nhân giống dừa lùn Xiêm Xanh chất lượng, giải quyết nhu cầu cấp thiết mở rộng diện tích hiện nay. Ba yếu tố được khảo sát gồm: Ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy chồi mầm, nồng độ đường đến quá trình tạo mô sẹo phôi hóa và tác động của chất điều hòa sinh trưởng TDZ lên sự tái sinh của mô sẹo phôi hóa. Kết quả cho thấy, nuôi cấy phôi 14 ngày và sử dụng 45 g/L đường mang lại hiệu quả tạo mô sẹo phôi hóa cao. Trong quá trình tái sinh, nồng độ TDZ 25 µM và 50 µM cho khả năng tái sinh cao. Nghiên cứu đã bước đầu tạo và tái sinh mô sẹo phôi hóa hiệu quả cho dừa lùn Xiêm Xanh, mở ra hướng nghiên cứu nhân giống dừa tiềm năng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/dy0ar562
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG TỶ LỆ CHÍN KHI THU HÁI ĐẾN CHẤT LƯỢNG HẠT TIÊU TẠI TÂY NGUYÊN

    Abstract : 327 PDF: 0
    Nguyễn Văn Long, Võ Chí Cường, Nguyễn Đô, Nguyễn Thị Vân Anh, Đinh Thị Ngọc Hạnh, Nguyễn Quang Ngọc, Lesueur Didier
    14-20

    Xác định thời điểm thu hoạch là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng hồ tiêu. Thí nghiệm xác định ảnh hưởng của thu hái quả chín đến chất lượng hồ tiêu tại tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk gồm 5 công thức: CT1 (thu hoạch khi có số quả chín/gié > 75%), CT2 (số quả chín/gié > 50%), CT3 (số quả chín/gié > 25%), CT4 (số quả chín/gié > 5%), CT5 (số quả chín/gié < 5%). Kết quả cho thấy, tỷ lệ quả chín ảnh hưởng cả đặc điểm lý tính (tỷ lệ quả chắc, tỷ lệ tươi/khô, khối lượng 1.000 hạt và thành phần hóa học (piperine, volatile oil, ete) trong hạt tiêu đen. Các thông số lý tính tăng dần theo tỷ lệ chín và có sự khác nhau có ý nghĩa về mặt thống kê giữa các công thức. Ngược lại, thành phần hóa học trong hạt tiêu đen có chiều hướng giảm. Thu hoạch khi tiêu có tỷ lệ quả chín/gié < 5% sẽ đạt giá trị cao nhất về thành phần hóa học trong hạt tiêu. Ngược lại, nếu thu hoạch khi có > 75% số quả chín/gié đạt được giá trị về lý tính cao nhất. Nghiên cứu đã cung cấp luận cứ khoa học về thay đổi đặc tính lý hóa tính của hạt tiêu, giúp cho người sản xuất lựa chọn thời điểm thu hoạch thích hợp nhằm đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của sản phẩm và năng suất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/eb2vv983
  • ĐỊNH DANH CÁC CHỦNG Phytophthora VÀ Phytopythium PHÂN LẬP TRÊN MẪU BỆNH VÀ MẪU ĐẤT VÙNG RỄ BƯỞI NĂM ROI TẠI XÃ MỸ HÒA, THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

    Abstract : 284 PDF: 0
    Phạm Thanh Nam, Lê Phước Thạnh
    21-33

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu định danh các chủng PhytophthoraPhytopythium hiện diện trong mẫu bệnh (lá và trái) và đất vùng rễ bưởi Năm Roi tại xã Mỹ Hòa, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Dựa vào đặc điểm hình thái trên môi trường V8, 18/73 chủng PhytophthoraPhytopythium được chọn đại diện cho các thí nghiệm tiếp theo. Thí nghiệm đánh giá khả năng gây bệnh trên lá bưởi Năm Roi được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên một nhân tố gồm 4 lặp lại với 18 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức là 1 chủng Phytophthora hoặc Phytopythium. Đặc điểm hình thái và kích thước của bọc bào tử, bào tử áo và sự tăng sinh của bọc bào tử của 18 chủng PhytophthoraPhytopythium đại diện được ghi nhận. ADN của 18 chủng PhytophthoraPhytopythium đại diện được PCR với cặp mồi ITS1/ITS4; sau đó các sản phẩm PCR với một băng sáng rõ được giải trình tự; sản phẩm giải trình tự sẽ được xử lý bằng phần mềm Finch TV (phiên bản 1.4.0), so sánh với các trình tự tham khảo (BLAST) trên NCBI để xác định loài và xây dựng cây phả hệ bằng phần mềm MEGA (phiên bản 11.0.14). Kết quả ghi nhận cho thấy, 18 chủng đại diện đều gây bệnh trên lá bưởi Năm Roi sau 5 ngày lây bệnh với các mức độ khác nhau, tùy thuộc vào độc tính của từng chủng. Dựa vào đặc điểm hình thái và kết quả PCR - Gải trình tự,  18 chủng đại diên được chia làm 5 nhóm: Nhóm 1 gồm 10 chủng phân lập: PP7, PP8, PP9, PP13, PP17, PP18, PP22, PP23, PP27 và PP28, thuộc loài Phytophthora virginiana; nhóm 2 gồm 5 chủng phân lập: PP1, PP2, PP3, PP4 và PP5, thuộc loài Phytophthora parvispora; nhóm 3 gồm 1 chủng phân lập: PP21, thuộc loài Phytophthora prodigiosa; nhóm 4 gồm: 1 chủng phân lập: PP11, thuộc loài Phytophthora citrophthora; nhóm 5 gồm 1 chủng PP12 là thuộc loài Phytopythium helicoides.

    DOI: https://doi.org/10.71254/z19gpj68
  • ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA BÓN THAN SINH HỌC VÀ PHÂN HỮU CƠ ĐẾN TỶ LỆ Na+/K+ VÀ NĂNG SUẤT LÚA TRÊN ĐẤT NHIỄM MẶN

    Abstract : 304 PDF: 0
    Đoàn Thị Trúc Linh, Nguyễn Thị Kim Phượng, Đặng Duy Minh, Trần Duy Khánh, Trần Thanh Nhiên, Cao Đình An Giang, Châu Minh Khôi
    34-42

    Xâm nhập mặn dẫn đến hàm lượng muối Na+ cao, gây mất cân đối dưỡng chất, cản trở sự hấp thu dinh dưỡng cho cây trồng và dẫn đến suy giảm năng suất cây trồng. Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích đánh giá hiệu quả của bón than sinh học và phân hữu cơ đến hàm lượng cation (K+, Na+) hòa tan, trao đổi trong đất và năng suất lúa canh tác trên đất nhiễm mặn. Thí nghiệm đồng ruộng được thực hiện tại huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang qua 6 vụ lúa liên tục trong 2 năm. Bốn nghiệm thức với bốn lần lặp lại được thiết kế theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên. Các nghiệm thức bao gồm: (1) ba vụ lúa liên tục trong năm (LLL), (2) hai vụ lúa (bỏ vụ xuân hè) (LL), (3) LL kết hợp với phân hữu cơ ở mức 3 tấn/ha/vụ (LL + PHC) và (4) LL kết hợp với than sinh học ở mức 10 tấn/ha/vụ (LL + TSH). Kết quả nghiên cứu cho thấy, canh tác lúa 2 vụ kết hợp bón than sinh học ở mức 10 tấn/ha giúp tăng có ý nghĩa thống kê về hàm lượng K+ trao đổi và hòa tan và giảm tỷ lệ Na+/K+ trao đổi trong đất qua mỗi vụ canh tác. Năng suất lúa đạt giá trị cao nhất trong nghiệm thức bón than sinh học sau 5 vụ liên tục và khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức chỉ bón phân vô cơ. Tuy nhiên, bón phân hữu cơ không cho kết quả khác biệt có ý nghĩa đến hàm lượng K+ trao đổi và hòa tan, tỷ lệ Na+/K+ trao đổi trong đất và năng suất lúa. Đáng chú ý, mối tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ Na+/K+ trao đổi và năng suất lúa cho thấy, việc giảm Na+ và tăng K+ trong đất là yếu tố quan trọng góp phần tăng năng suất lúa. Vì vậy, bón than sinh học có thể được xem là một trong những giải pháp tiềm năng trong cải thiện năng suất lúa trên đất nhiễm mặn ở đồng bằng sông Cửu Long.

    DOI: https://doi.org/10.71254/hvczfj54
  • NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ BỆNH THỐI RỄ CÂY SẮN TẠI TỈNH LÀO CAI

    Abstract : 347 PDF: 0
    Trần Trung Kiên, Nguyễn Mạnh Hùng, Trịnh Xuân Hoạt, Lê Thị Hằng, Ngô Quang Huy, Trần Thị Hoa2, Dương Thị Nguyên, Hoàng Kim Diệu, Phạm Thị Thu Huyền, Nguyễn Thị Mai Thảo, Đặng Thế Dương, Lưu Ngọc Sinh
    43-50

    Bệnh thối rễ và củ trên cây sắn gần đây đã xuất hiện ở tỉnh Yên Bái trước đây nay là tỉnh Lào Cai (mới) và các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, bệnh gây ra mối đe dọa nghiêm trọng đối với sản xuất sắn cũng như hoạt động của các nhà máy chế biến. Tổng số 180 mẫu bệnh hại có triệu chứng thối rễ và củ đã được thu thập tại các xã Yên Bình (Tân Hương), Bảo Ái (Cảm Ân), Yên Bình (Đại Đồng), Mậu A (Mậu Đông), Đông Cuông và Châu Quế (Châu Quế Hạ) của tỉnh Lào Cai. Kết quả cho thấy, bệnh xuất hiện và gây hại từ giai đoạn cây con cho đến khi thu hoạch trên tất cả các giống sắn được khảo sát, với mức độ nghiêm trọng khác nhau. Trong đó, giống KM98 -7 thể hiện mức độ nhiễm bệnh thấp hơn so với giống BK. Tại xã Yên Bình (Tân Hương), Bảo Ái (Cảm Ân), nơi sắn thường được trồng xen canh và luân canh với các cây trồng khác, tỷ lệ bệnh thối rễ và củ nhẹ hơn so với các xã Mậu A (Mậu Đông), Đông Cuông và Châu Quế (Châu Quế Hạ), nơi sắn được trồng thâm canh theo hệ thống độc canh. Tỉ lệ bệnh giữa các tháng không có ý nghĩa thống kê về ảnh hưởng tỉ lệ bệnh của các tháng đến năng suất thực thu, tuy nhiên tỉ lệ củ thối có quan hệ chặt với năng suất thực thu, khi tăng 1% tỉ lệ củ thối sẽ làm giảm 0,73 tấn/ha đối giống BK và 1,3 tấn/ha đối giống KM98 - 7 tại xã Yên Bình (Tân Hương), Bảo Ái (Cảm Ân) và 0,83 tấn/ha đối giống BK và 1,4 tấn/ha đối với giống KM98 - 7 tại các xã Mậu A (Mậu Đông), Đông Cuông và Châu Quế (Châu Quế Hạ).

    DOI: https://doi.org/10.71254/gj41gk77
  • THÀNH PHẦN BỆNH HẠI VÀ KHẢO SÁT HIỆU LỰC MỘT SỐ CHẾ PHẨM SINH HỌC PHÒNG TRỪ MỘT SỐ BỆNH HẠI CHÍNH TRÊN CÂY NHA ĐAM (Aloe vera) TẠI TỈNH BÌNH THUẬN

    Abstract : 411 PDF: 0
    Nguyễn Văn Sơn, Phan Công Kiên, Mai Văn Hào, Trần Thị Thảo, Trịnh Thị Vân Anh
    51-60

    Nha đam (Aloe vera) là cây trồng ngoài các giá trị về công nghệ dược phẩm, hoá mỹ phẩm thì còn là cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao và đang được mở rộng diện tích tại tỉnh Bình Thuận. Trong sản xuất nha đam tại tỉnh Bình Thuận có nhiều loại bệnh hại xuất hiện và gây hại lớn ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng nha đam.Qua điều tra cho thấy, có 6 loại bệnh hại chính; trong đó, 3 bệnh hại gồm: Bệnh thối nhũn (E. cloacae), bệnh đốm lá (Alternaria alternata) và bệnh teo đầu lá (Curvularia hawaiiensis) xuất hiện phổ biến và gây hại nặng trên các ruộng nha đam tại tỉnh Bình Thuận, với tỷ lệ gây hại cao nhất 38,0% đối với bệnh thối nhũn và teo đầu lá, 40% đối với bệnh đốm lá. Thử nghiệm 5 loại chế phẩm sinh học (Agri Life 100 SL, Map Lotus 125 WP, Javimin 20 SL, Curenox OC85 WP, Starner 20 WP) phòng trừ vi khuẩn gây bệnh thối nhũn và 5 loại chế phẩm sinh học (PyLo T01, BIONITE WP, CNX - CN, Mocabi SL, Nanobacplasma) phòng trừ nấm gây bệnh đốm lá và teo đầu lá. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chế phẩm Javimin 20 SL cho hiệu quả phòng trừ bệnh thối nhũn tốt nhất với tỷ lệ bệnh sau xử lý thuốc lần đầu 5 ngày 7,8% và duy trì đến 15 ngày sau phun lần 2 là 11,1%. Mocabi SL cho hiệu quả phòng trừ bệnh đốm lá tốt nhất với tỷ lệ bệnh và chỉ số bệnh sau xử lý thuốc lần đầu 7 ngày là 11,3% và 2,7%, duy trì đến 21 ngày sau phun lần 2 là 28,2% và 5,7%. Còn CNX - CN có tỷ lệ bệnh và chỉ số bệnh sau xử lý thuốc lần đầu 7 ngày là 11,0% và 3,7% duy trì 21 ngày sau phun lần 2 là 36,0% và 5,1%, thấp hơn so với các công thức khác.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tez2m693
  • NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ, SINH HÓA NƯỚC TIỂU MÈO BỊ BỆNH ĐƯỜNG TIẾT NIỆU TẠI BỆNH XÁ THÚ Y THỰC HÀNH, ĐẠI HỌC CẦN THƠ

    Abstract : 487 PDF: 0
    Nguyễn Thị Yến Mai, Trần Ngọc Bích, Ngô Ngọc Sơn, Võ Thị Loan
    61-66

    Bằng các phương pháp điều tra cắt ngang, soi kính hiển vi, “Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa nước tiểu mèo bị bệnh đường tiết niệu tại Bệnh xá Thú y thực hành, Đại học Cần Thơ” được thực hiện từ tháng 10/2024 đến tháng 2/2025, nhằm xác định tỷ lệ mèo mắc bệnh đường tiết niệu, xác định sự thay đổi của các chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá nước tiểu mèo khi mắc bệnh đường tiết niệu tại Bệnh xá Thú y thực hành, Đại học Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 51/1.061 con mèo bị mắc bệnh đường tiết niệu, chiếm tỷ lệ 4,81%. các triệu chứng phổ biến nhất là: Bí tiểu (50,98%), tiểu dắt, tiểu máu (27,45%), các triệu chứng khác như không ăn, ói, mất nước là 13,73% và đau vùng bụng là 7,84%. Kết quả khảo sát sự thay đổi màu sắc nước tiểu mèo khi bị bệnh đường tiết niệu cho thấy, đỏ sậm là cao nhất (50,98%), đỏ tươi (27,45%), vàng (9,80%), trong (7,84%) và đục có lẫn máu (3,93%). Sự thay đổi chỉ tiêu sinh hóa đặc trưng liên quan đến các bệnh lý đường tiết niệu như: Bạch cầu tăng, protein tăng, pH cao, hồng cầu tăng và tỷ trọng giảm. Ngoài ra, trong thành phần nước tiểu của mèo mắc bệnh đường tiết niệu thông qua soi cặn còn chứa tế bào máu (82,35%) và tinh thể (27,45%). Trong các mẫu có tinh thể, phần lớn là sỏi struvite (MAP) (85,71%), còn lại là canxi oxalate (14,29%).

    DOI: https://doi.org/10.71254/3bf1k003
  • XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CÔNG TRÌNH BẢO VỆ BỜ SÔNG GIAO HÒA TỈNH BẾN TRE

    Abstract : 231 PDF: 0
    Văn Hữu Huệ
    67-80

    Do hoạt động khai thác nguồn nước ở thượng nguồn sông Mekong và nội vùng lưu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), kết hợp biến đổi khí hậu - nước biển dâng đã làm cho tình hình sạt lở bờ sông ĐBSCL trở nên trầm trọng. Sông Mekong có chín cửa (nay còn bảy cửa) sông đổ ra biển, địa bàn tỉnh Bến Tre (cũ) có bốn cửa nên chế độ dòng chảy hết sức phức tạp; đoạn bờ sông Giao Hòa, xã Giao Long đang sạt lở đã gây nên những thiệt hại, uy hiếp người dân. Để đảm bảo cuộc sống người dân và ổn định sản xuất, việc nghiên cứu xác định nguyên nhân, từ đó đề xuất giải pháp bảo vệ bờ hợp lý cho đoạn sông này là cần thiết. Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phần mềm Geostudio, Plaxis, Geo 5, Mike 11, Mike 21. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra được nguyên nhân sạt lở và giải pháp công trình cho khu vực nghiên cứu (KVNC)

    DOI: https://doi.org/10.71254/9kf6s449
  • NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ (GIS) ĐỂ XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ XÓI MÒN DO MƯA TẠI TỈNH SƠN LA

    Abstract : 383 PDF: 0
    Trần Xuân Biên, Nguyễn Văn Hưởng, Lưu Thùy Dương, Trần Xuân Miễn
    81-89

    Xói mòn đất là hiện tượng tự nhiên tác động đến đất ở mọi dạng địa hình. Quá trình này dẫn đến sự rửa trôi các dưỡng chất quan trọng trên bề mặt, làm suy giảm chất lượng đất, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng và phá vỡ sự cân bằng tự nhiên của môi trường đất. Mưa là nguyên nhân chính dẫn đến xói mòn đất, chiếm tỷ lệ cao nhất trong các nguyên nhân xói mòn đất do nước. Sơn La là tỉnh vùng núi thuộc khu vực Tây Bắc có địa hình chủ yếu là dốc, chia cắt mạnh; khí hậu phân hóa thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa có lượng mưa lớn tập trung. Tài nguyên đất và rừng khá phong phú cùng hệ thống sông ngòi phức tạp, trong điều kiện ảnh hưởng khá rõ nét của biến đổi khí hậu đã tạo cho đất ở tỉnh Sơn La có nguy cơ thoái hóa, nhất là ở loại hình xói mòn do mưa. Trong nghiên cứu này, bản đồ xói mòn xây dựng bằng phương pháp GIS dựa trên công thức của phương trình mất đất phổ dụng biến đổi, gồm có 5 bản đồ hệ số: Bản đồ hệ số xói mòn do mưa (R); bản đồ hệ số xói mòn của đất (K); bản đồ độ dốc và độ dài sườn dốc (LS); bản đồ hệ số lớp phủ thực vật và quản lý đất (C) và bản đồ hệ số do áp dụng các biện pháp canh tác, bảo vệ đất (P). Sử dụng phương pháp chồng xếp, thống kê dữ liệu bằng phần mềm ArcGIS đã xác định được mức độ và vị trí của các khu vực xói mòn đất theo 4 mức: Không xói mòn; xói mòn yếu; xói mòn trung bình và xói mòn mạnh.

    DOI: https://doi.org/10.71254/wq0hb019
  • NGHIÊN CỨU CÔNG TÁC CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2022 - 2024

    Abstract : 296 PDF: 0
    Nguyễn Quang Thi
    90-100

    Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng công tác chuyển quyền sử dụng đất (chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất và tặng cho quyền sử dụng đất) tại thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2022 - 2024 và đã xác định được yếu tố ảnh hưởng đến công tác này qua kết quả điều tra 180 hộ. Sử dụng phương pháp so sánh và dùng thang đo 5 cấp của Likert để đánh giá thực trạng và xác định yếu tố ảnh hưởng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong 3 năm 2022 - 2024, hình thức chuyển nhượng quyền sử dụng đất với tổng số 8.044 trường hợp, hoàn thành 7.379 trường hợp, đạt tỷ lệ 91,73%. Hình thức thừa kế quyền sử dụng đất với tổng số 838 trường hợp, hoàn thành 786 hồ sơ, đạt tỷ lệ 93,80%. Hình thức tặng cho quyền sử dụng đất với tổng số trường hợp đăng ký là 1.837, hoàn thành 1.714 trường hợp, chiếm 93,30%. Đã xác định được 8/12 yếu tố rất ảnh hưởng đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất, 7/12 yếu tố rất ảnh hưởng đến thừa kế quyền sử dụng đất và 5/12 yếu tố rất ảnh hưởng đến tặng cho quyền sử dụng đất. Từ kết quả này, đề xuất giải pháp tập trung vào các yếu tố để làm tốt công tác chuyển quyền sử dụng đất ở thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

    DOI: https://doi.org/10.71254/qwfjz082