Số 13 (2025)

					Xem Số 13 (2025)
Đã Xuất bản: 15-07-2025

Bài viết

  • ĐÁNH GIÁ TỔN THƯƠNG XÃ HỘI DO SẠT LỞ TRÊN HỆ THỐNG SÔNG, KÊNH RẠCH NỘI ĐỒNG TỈNH AN GIANG

    Abstract : 495 PDF: 0
    Cù Ngọc Thắng, Trần Văn Tỷ, Nguyễn Thanh Bình
    59-71

    Tình trạng sạt lở bờ sông, kênh, rạch nội đồng trên địa bàn tỉnh An Giang thời gian qua đã và đang là một vấn đề đáng lo ngại, ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống và sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nghiên cứu này đã phân tích các nguyên nhân và đánh giá mức độ dễ bị tổn thương xã hội của cộng đồng địa phương chịu tác động từ sạt lở bờ sông, kênh, rạch trong khu vực. Qua phỏng vấn trực tiếp 70 hộ dân bị ảnh hưởng, một chỉ số dễ bị tổn thương xã hội đã được xây dựng. Kết quả cho thấy, hơn 72% số hộ khảo sát thuộc nhóm dễ bị tổn thương từ mức trung bình trở lên, phản ánh mức độ đa dạng về khả năng ứng phó ngắn hạn của các cộng đồng trong mẫu nghiên cứu. Tuy chỉ có 10% số hộ dân thuộc nhóm cực kỳ dễ bị tổn thương nhưng đây cũng là nhóm gần như không có khả năng chống chịu và thích ứng với tác động của sạt lở bờ sông gây ra. Do đó, nghiên cứu này đã đề xuất giải pháp nhằm triển khai các chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng và điều chỉnh chính sách để hỗ trợ sinh kế cho người dân địa phương. Ngoài ra, việc tăng cường sự tham gia của các bên liên quan và cộng đồng được xem là các giải pháp quan trọng giúp người dân chủ động ứng phó với những thách thức do sạt lở bờ sông gây ra.

    DOI: https://doi.org/10.71254/fec89073
  • THÀNH PHẦN LOÀI SÂU HẠI CÂY MỠ (Manglietia conifera Dandy) TẠI MỘT SỐ TỈNH MIỀN BẮC VIỆT NAM

    Abstract : 247 PDF: 0
    Lê Văn Bình, Đặng Như Quỳnh, Trần Viết Thắng
    72-81

    Bằng phương pháp điều tra thu mẫu vật trên các ô tiêu chuẩn, định danh các loài sâu hại bằng các tài liệu chuyên ngành. Kết quả, đã ghi nhận 32 loài sâu hại cây Mỡ thuộc 24 họ, 8 bộ côn trùng tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam. Trong đó, bộ Cánh vảy có số lượng loài nhiều nhất với 17 loài thuộc 10 họ, bộ cánh đều có 5 loài thuộc 4 họ, bộ cánh cứng có 4 loài thuộc 4 họ, bộ cánh nửa cứng 2 loài thuộc 2 họ, bộ cánh màng, bộ cánh bằng, bộ bọ que và bộ cánh tơ ghi nhận 1 loài thuộc 1 họ. Nhóm sâu ăn lá có 26 loài chiếm tỷ lệ cao nhất 81,3%, tiếp theo là sâu hại ngọn 7 loài chiếm 21,9%, sâu hại thân chiếm 18,8%, sâu hại cành 5 loài chiếm 15,6% và sâu hại hoa 1 loài chiếm 3,1%. Tỷ lệ hại của các loài sâu hại dao động từ 2,5 - 65,0% với chỉ số hại dao động từ 0,6 – 39,4%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/xgnt3s35
  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÁI SINH TRẠNG THÁI RỪNG NGHÈO THUỘC KIỂU RỪNG GỖ LÁ RỘNG RỤNG LÁ Ở KHU VỰC XÃ NINH SƠN, TỈNH KHÁNH HÒA

    Abstract : 457 PDF: 0
    Phan Minh Xuân, Lê Hy Quang
    82-92

    Bài báo này giới thiệu kết quả nghiên cứu về cấu trúc và đa dạng loài cây gỗ đối với trạng thái rừng nghèo thuộc kiểu rừng gỗ lá rộng rụng lá ở khu vực xã Ninh Sơn, tỉnh Khánh Hòa trực thuộc quản lý của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ninh Sơn. Mục tiêu nghiên cứu là xác định những đặc điểm cấu trúc rừng và đa dạng loài cây gỗ làm cơ sở cho quản lý rừng và bảo tồn đa dạng sinh học. Số liệu nghiên cứu bao gồm 15 ô tiêu chuẩn điển hình với kích thước 0,1 ha. Các thông tin thu thập trên các ô tiêu chuẩn bao gồm thành phần loài cây gỗ, mật độ rừng, đường kính và chiều cao của tất cả các cây gỗ. Kết quả cho thấy, tại khu vực nghiên cứu đã bắt gặp được 20 loài thuộc 18 chi và 11 họ thực vật khác nhau. Những họ có độ giàu có về loài cao là: Cà phê (Rubiaceae), Đào lộn hột (Anacardiaceae), Sao dầu (Dipterocarpaceae), Thị (Ebenaceae) và Đậu (Fabaceae); họ ưu thế là Sao dầu, loài ưu thế và đồng ưu thế là Cẩm liên, Dầu lông và Cám; kết cấu loài, mật độ và trữ lượng tập trung chủ yếu ở nhóm D ≤ 20 cm và lớp 10 < H ≤ 15 m; trữ lượng bình quân là 85,4 m3/ha, mật độ bình quân là 755 cây/ha, đường kính và chiều cao bình quân tương ứng 15,8 cm và 9,9 m; phân bố theo cấp đường kính và chiều cao đều có dạng một đỉnh lệch trái và phù hợp với hàm phân bố Weibull; số loài cây tái sinh bắt gặp là 19 loài và có độ tương đồng họ và loài với cây mẹ là rất cao (tương ứng 91% và 92%). Mật độ tái sinh khá cao (4.245 cây/ha) và cây tái sinh diễn ra liên tục dưới tán rừng, đa số cây tái sinh có chất lượng khá tốt (> 90%), có số lượng cá thể đảm bảo kế thừa; đa dạng họ và đa dạng loài cây gỗ trạng thái rừng nghèo khá thấp (H’họ = 1,02 và H’loài = 1,50). Tại khu vực nghiên cứu đã ghi nhận 7 loài cây gỗ quý hiếm theo Danh lục Đỏ IUCN (2024), trong đó có 1 loài thuộc Sách Đỏ Việt Nam và 1 loài thuộc Nghị định số 84/2021/NĐ-CP bao gồm: Bình linh lông, Cẩm lai, Cẩm liên, Dầu lông, Găng lựu, Gáo vàng và Sến mủ. Ba loài hiếm theo chỉ số hiếm (IR) gồm: Bình linh lông, Nhàu rừng và Trám trắng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/32f35d79
  • KHẢO SÁT NGUYÊN NHÂN Ô NHIỄM VÀ SỰ SẴN LÒNG CHI TRẢ CỦA NGƯỜI DÂN NHẰM CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG NƯỚC RẠCH ĐẦU SẤU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

    Abstract : 812 PDF: 0
    Nguyễn Thanh Giao, Huỳnh Thị Hồng Nhiên, Nguyễn Thị Ngọc Xuyến, Lê Thị Mỹ Anh, Trương Hoàng Đan, Trần Thị Kim Hồng
    93-100

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các nguyên nhân gây ô nhiễm và đánh giá sự sẵn lòng chi trả của người dân địa phương nhằm cải thiện chất lượng nước tại rạch Đầu Sấu, thành phố Cần Thơ. Phương pháp tiếp cận bao gồm: Khảo sát thực tế kết hợp phỏng vấn 60 hộ dân sinh sống ven rạch và đo đạc các thông số chất lượng nước hiện trường như: pH, nhiệt độ, độ đục (NTU), oxy hòa tan (DO), độ dẫn điện (EC) và tổng chất rắn hòa tan (TDS). Kết quả cho thấy, khoảng 90% người dân nhận định rằng, chất lượng nước mặt tại rạch Đầu Sấu đang ở mức ô nhiễm nặng đến rất nặng. Nguyên nhân chính gây ô nhiễm được xác định là do nước thải sinh hoạt và các hoạt động sản xuất, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng, hoạt động kinh doanh và chất lượng môi trường sống. Kết quả phân tích chất lượng nước cũng ghi nhận tình trạng ô nhiễm tại tất cả các vị trí khảo sát. Các yếu tố như: Trình độ học vấn, nhận định về mức độ ô nhiễm, mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm nguồn nước đều đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định sự sẵn lòng chi trả. Các giải pháp được người dân đề xuất bao gồm: Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân, kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải và thực hiện nạo vét kênh, rạch định kỳ. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thông tin khoa học hữu ích cho công tác quản lý và cải thiện chất lượng nước tại rạch Đầu Sấu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/hhykat17
  • ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC NGUỒN GEN BƯỞI ĐỎ NGỌT TẠI HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

    Abstract : 402 PDF: 0
    Nguyễn Hữu Hải, Dương Thị Hồng Mai, Phan Thị Nga
    3-10

    Bưởi đỏ Ngọt là một trong những nguồn gen bưởi quý vùng ven sông Đáy trồng tại xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã và đang đóng góp quan trọng vào việc nâng cao đời sống người dân địa phương. Kết quả nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học, sinh trưởng và phát triển của nguồn gen bưởi này cho thấy, cây sinh trưởng và phát triển tốt, ít sâu, bệnh, thời gian ra hoa sớm hơn các giống bưởi khác trong vùng khoảng 20 ngày, tỷ lệ đậu quả tương đối cao (2,14%), năng suất quả cao (194,1 kg/cây), dễ bóc vỏ, tép ráo, giòn và có vị ngọt đậm, chứa nhiều khoáng chất có lợi cho sức khỏe con người (hàm lượng lycopen 2,18 mg/100 mg, beta-caroten 0,33 mg/100 mg, vitamin C 76,00 mg/100 g).

    DOI: https://doi.org/10.71254/3garj766
  • NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG TỪ HẠT VÀ HOM GIÂM CỦA CÂY BỔ BÉO ĐEN (Goniothalamus vietnamensis Bân)

    Abstract : 445 PDF: 0
    Nguyễn Văn Phú, Lê Văn Cường, Mai Hải Châu, Nguyễn Thị Hiếu, Trần Thị Ngoan, Đặng Việt Hùng, Nguyễn Trọng Phú
    11-19

    Bổ béo đen (Goniothalamus vietnamensis Bân) là một loài cây có giá trị dược liệu cao. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện tại về kỹ thuật nhân giống cây Bổ béo đen còn rất hạn chế, gây khó khăn trong việc phát triển và bảo tồn loài này. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu nhân giống cây Bổ béo đen tại vùng Đông Nam bộ. Nhân giống loài Bổ béo đen đã được nghiên cứu bằng 2 phương pháp hữu tính (từ hạt) và vô tính (từ hom). Đối với nhân giống hữu tính, nghiên cứu biện pháp xử lý nảy mầm của hạt được thực hiện với 6 thí nghiệm ngâm hạt ở nhiệt độ từ 30 - 700C trong thời gian 6 giờ; thí nghiệm được bố trí với 4 lần lặp, 50 hạt/công thức/lặp. Đối với nhân giống vô tính, nghiên cứu sử dụng chất điều hòa sinh trưởng IBA với 4 nồng độ khác nhau (500 ppm, 1.000 ppm, 1.500 ppm và 2.000 ppm); thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 3 lần lặp lại. Kết quả nghiên cứu cho thấy, biện pháp xử lý hạt giống Bổ béo đen với công thức thí nghiệm 3 (CT3) ngâm hạt ở nhiệt độ từ 40 - 500C cho kết quả tốt nhất với tỉ lệ nảy mầm là 90,5%, thế nảy mầm 33,5%, hạt bắt đầu nảy mầm sau 15 ngày và kết thúc quá trình nảy mầm sau 47 ngày. Nồng độ chất điều hòa sinh trưởng IBA có ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom Bổ béo đen; tuy nhiên, tỷ lệ ra rễ của chất điều hòa sinh trưởng IBA thấp, dao động từ 1 - 5%. Những phát hiện của nghiên cứu này góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc quý, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Nam bộ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tnv32y81
  • ẢNH HƯỞNG CỦA BỘT VỎ TRỨNG VÀ KALI ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LẠC L27 TRONG VỤ XUÂN TẠI TỈNH THANH HOÁ

    Abstract : 396 PDF: 0
    Tống Văn Giang, Lê Huy Tuấn, Lê Thị Hường
    20-32

    Thí nghiệm được tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của lượng bón bột vỏ trứng và kali đến sinh trưởng và năng suất của giống lạc L27 trong vụ xuân tại tỉnh Thanh Hóa. Thí nghiệm 2 nhân tố được bố trí theo kiểu ô chính - ô phụ (Split - plot design) với 3 lần lặp lại. Nhân tố thứ nhất là lượng bón bột vỏ trứng (0, 200, 300, 400 kg/ha), nhân tố thứ hai là lượng bón kali (80, 100, 120 kg/ha). Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong điều kiện được bón bột vỏ trứng, các chỉ tiêu sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lạc L27 đạt giá trị cao hơn so với điều kiện không được bón bột vỏ trứng. Tăng lượng bón kali thì các chỉ tiêu sinh trưởng cũng như các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lạc L27 cũng có xu hướng tăng lên. Kết quả nghiên cứu cũng đã xác định được lượng bón bột vỏ trứng 300 kg/ha kết hợp với 100 kg kali là phù hợp để giống lạc L27 sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cá thể (17,3 quả/cây), năng suất lý thuyết (5,2 tấn/ha), năng suất thực thu (4,2 tấn/ha) đạt giá trị cao và cho lãi thuần đạt giá trị cao nhất 114 triệu đồng/ha trong vụ xuân tại thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

    DOI: https://doi.org/10.71254/gq7nth29
  • ẢNH HƯỞNG CỦA DỊCH CHIẾT XƠ DỪA ĐẾN KHẢ NĂNG ỨC CHẾ NẤM Colletotrichum sp. GÂY BỆNH THÁN THƯ TRÊN TRÁI ĐU ĐỦ (Carica papaya L.) SAU THU HOẠCH

    Abstract : 391 PDF: 0
    Nguyễn Trung Trực, Quách Văn Cao Thi, Nguyễn Thị Như Huỳnh
    33-42

    Bệnh thán thư do nấm Colletotrichum sp. gây ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng của trái đu đủ sau thu hoạch. Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của dịch chiết xơ dừa lên khả năng ức chế nấm Colletotrichum sp. gây bệnh thán thư trên trái đu đủ sau thu hoạch. Kết quả cho thấy, chủng nấm Colletotrichum sp. (DD1) đã được phân lập từ trái đu đủ nhiễm bệnh tự nhiên tại tỉnh Vĩnh Long. Trái đu đủ sau khi lây nhiễm nhân tạo có các dấu hiệu bệnh tương tự đu đủ nhiễm bệnh thán thư ngoài tự nhiên. Kết quả giải trình tự gen cho thấy, chủng DD1 tương đồng 100% so với chủng Colletotrichum siamense trên ngân hàng gene. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dịch chiết xơ dừa ức chế hiệu quả sự phát triển của sợi nấm Colletotrichum sp. Ở nồng độ 100 µg/mL và 200 µg/mL, dịch chiết xơ dừa có hoạt tính ức chế cao nhất lần lượt là 62% và 78,5%. Đặc biệt, hoạt tính kháng nấm duy trì 100% từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 10 khi dịch chiết xơ dừa ở nồng độ 400 - 1.000 µg/mL. Bên cạnh đó, dịch chiết cũng làm giảm khả năng nảy mầm của bào tử nấm với nồng độ 5 mg/mL thể hiện sự ức chế hoàn toàn. Kết quả quan sát dưới kính hiển vi cho thấy, các sợi nấm bị biến dạng, dày lên và không tạo bào tử trong môi trường có dịch chiết. Nghiên cứu cho thấy, tiềm năng ứng dụng của dịch chiết xơ dừa vào các phương pháp quản lý dịch hại bền vững nhằm hạn chế sự phụ thuộc vào hóa chất bảo vệ thực vật

    DOI: https://doi.org/10.71254/zfhsbd55
  • HIỆU QUẢ NHÂN NUÔI VÀ PHÒNG TRỪ BỆNH THÁN THƯ HÀNH LÁ CỦA NẤM Trichoderma harzianum

    Abstract : 416 PDF: 0
    Đỗ Văn Bảo, Mã Thế Gia, Trần Thị Thu Thủy, Lê Thanh Toàn
    43-50

    Bệnh thán thư do nấm Colletotrichum gloeosporioides gây hại phổ biến trên hành lá ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Hiện nay, để quản lý bệnh thán thư trên hành lá, đa số nông dân sử dụng nhiều loại thuốc hóa học, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và môi trường. Do đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá khả năng phòng trừ sinh học của nấm Trichoderma harzianum đối với bệnh thán thư trên hành lá. Kết quả cho thấy, nấm T. harzianum phát triển và tạo sinh khối tốt ở pH 5,5 trong môi trường nước dừa. Sự tăng trưởng chiều dài rễ, chiều cao tép và khối lượng cây hành tốt nhất là khi ngâm hành lá 30 phút trong huyền phù nấm T. harzianum, lần lượt là 0,44 cm và 0,43 g. Hiệu quả giảm bệnh của nấm T. harzianum ở thời điểm 7, 10, 14 ngày sau khi lây bệnh lần lượt là 28,93%; 28,79%; 29,28%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/vhdgsk69
  • NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN TRÍCH LY SIÊU ÂM MỘT SỐ HỢP CHẤT CÓ HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA TỪ LÁ CÂY SEN (Nelumbo nucifera) Ở TỈNH NGHỆ AN

    Abstract : 547 PDF: 0
    Mai Văn Khánh, Phạm Đình Nhật Trung, Nguyễn Thành Nguyên, Trần Phan Tuấn Anh, Nguyễn Tân Thành
    51-58

    Nghiên cứu sử dụng phương pháp đáp ứng bề mặt (Response Surface Methdology) để xác định điều kiện trích ly tối ưu hàm lượng tổng phenolic, tổng flavonoid và hoạt tính chống oxy hóa (DPPH) từ lá cây Sen (Nelumbo nucifera) có sự hỗ trợ của sóng siêu âm. Bố trí thí nghiệm theo thiết kế Box - Benhken, đã xây dựng được mô hình tối ưu quy trình trích ly các hàm mục tiêu trên với ba yếu tố là: Nhiệt độ trích ly (X1), thời gian trích ly (X2), nồng độ ethanol (X3). Điều kiện tối ưu các thông số công nghệ của quá trình trích ly được xác định tại nhiệt độ nhiệt độ trích ly 71oC, thời gian trích ly 50 phút và nồng độ dung môi là 44%, kết quả thu được như sau: Hàm lượng tổng phenolic là 45,12 ± 0,15 mg GAE/g, hàm lượng tổng flavonoid là 14,04 ± 0,11 mg CE/g, hoạt tính chống oxy hóa thông qua xác định khả năng khử gốc tự do DPPH đạt 79,15 ± 0,22%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/schk9x25