Số 3+4 (2024)

					Xem Số 3+4 (2024)
Đã Xuất bản: 29-02-2024

Bài viết

  • Nghiên cứu thiệt hại gây ra bởi bệnh khảm lá trên cây sắn ở tỉnh Thừa Thiên Huế

    Abstract : 534 PDF: 0
    Nguyễn Kim Chi, Nguyễn Vĩnh Trường
    77-85

    Sắn là cây trồng quan trọng ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Bệnh khảm lá sắn xâm nhập và gây hại trên địa bàn tỉnh từ cuối năm 2019, nhưng cho đến nay chưa có đánh giá về mức độ thiệt hại do bệnh gây nên. Điều tra về tình hình bệnh khảm lá sắn trên địa bàn tỉnh cho thấy, giống sắn chủ lực là KM94 (chiếm tỉ trọng trên 90%). Bệnh khảm lá đã nhiễm hầu hết diện tích sắn KM94 đã trồng từ cấp 2 đến mức cấp 5 tùy thuộc vào nguồn giống người dân sử dụng. Năm 2022, diện tích thiệt hại nặng khoảng 180 ha và mất trắng lên đến 484 ha. Các diện tích còn lại năng suất giảm tùy theo mức độ bệnh hại. Cấp bệnh càng cao và nhiễm bệnh sớm, thiệt hại càng lớn. Cây trồng nhiễm bệnh sớm lúc mọc mầm năng suất giảm lớn, nhưng nhiễm bệnh ở các giai đoạn phát triển thân, lá, củ năng suất giảm thấp hoặc giảm không đáng kể. Bệnh khảm lá sắn có mối tương quan rất chặt với năng suất cây trồng (R2 = 1). Chỉ số bệnh càng cao thì năng suất cây trồng giảm càng lớn. Giống KM94 nhiễm bệnh với chỉ số bệnh trên 90% giảm năng suất từ 61,5 - 62,1% và từ 18,1 - 20,1% hàm lượng tinh bột.

    DOI: https://doi.org/10.71254/sp831090
  • Nghiên cứu tác nhân gây bệnh đốm lá và bệnh teo đầu lá nha đam (Aloe vera) trồng tại tỉnh Ninh Thuận

    Abstract : 791 PDF: 0
    Hồ Thị Cẩm Nguyên, Đoàn Cẫm Tiên, Lê Minh Trường, Trịnh Minh Hợp, Nguyễn Thị Nhã
    86-92

    Bệnh đốm lá và bệnh teo đầu lá là 2 bệnh phổ biến nhất trên ruộng nha đam tại tỉnh Ninh Thuận, ảnh hưởng lớn đến chất lượng và sản lượng lá nha đam thu hoạch. Trong nghiên cứu này, dựa trên phương pháp phân tích đặc điểm hình thái và sinh học phân tử, 2 vi nấm gây bệnh trên cây nha đam đã được xác định bao gồm: Alternaria alternata gây bệnh đốm lá và Curvularia hawaiiensis gây bệnh teo đầu lá. Vùng rDNA chứa trình tự ITS của vi nấm được phân lập từ mẫu bệnh đốm lá và bệnh teo đầu lá nha đam thu tại tỉnh Ninh Thuận tương đồng trên 99% với lần lượt trình tự ITS của A. alternataC. hawaiiensis trên Genbank. Đồng thời, thí nghiệm lây nhiễm nhân tạo cho thấy, các cây nha đam khỏe mạnh khi được lây nhiễm 2 loại vi nấm này đều xuất hiện các triệu chứng tương ứng với bệnh đốm lá và teo đầu lá trên cây nha đam ngoài đồng ruộng. Tái phân lập mẫu bệnh từ thí nghiệm lây nhiễm nhân tạo thu được vi nấm có đặc điểm hình thái giống với mẫu phân lập ban đầu. Những kết quả này là cơ sở để tiếp tục các nghiên cứu khác về cơ chế lây nhiễm cũng như biện pháp phòng trừ bệnh hại cây nha đam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/weje0b43
  • Thành phần hợp chất, hiệu quả xua đuổi của tinh dầu tía tô Perilla frutescens (L.) Britt. đối với Bọ hà khoai lang, Cylas formicarius (F.) (Coleoptera: Brentidae)

    Abstract : 470 PDF: 0
    Lê Thị Thảo, Hoàng Thị Thanh Hà, Nguyễn Thị Quyên, Nguyễn Thị Thu Hiền
    93-100

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả xua đuổi bọ hà khoai lang của tinh dầu tía tô. Thành phần hóa học của tinh dầu tía tô (P. frutescens) tại tỉnh Sơn La được xác định bằng phương pháp phân tích sắc ký khí ghép khối phổ (GC/MS) gồm 24 hợp chất (91,81%). Thành phần chính của tinh dầu tía tô là Perilla aldehyde (47,38%), Limonene (23,46%), Caryophyllene (6,57%), Caryophyllene oxide (3,98%), Linalool (3,45%). Phương pháp sử dụng hệ thống ống chữ Y (tube olfactometer) để đánh giá hiệu quả xua đuổi của tinh dầu tía tô đối với bọ hà khoai lang. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tinh dầu tía tô cho hiệu quả xua đuổi cao đối với bọ hà khoai lang. Hiệu quả xua đuổi bọ hà khoai lang phụ thuộc vào nồng độ tinh dầu. Tinh dầu tía tô cho hiệu quả xua đuổi bọ hà khoai lang cao nhất ở nồng độ 2 µl với hiệu quả xua đuổi là 87,5% (con đực) và 81,0% (con cái). Kết quả nghiên cứu cho thấy, tiềm năng của tinh dầu tía tô để sử dụng trong quản lý tổng hợp bọ hà khoai lang.

    DOI: https://doi.org/10.71254/a7hf5h26
  • Bệnh thối trái nhãn và ảnh hưởng của các yếu tố môi trường chính đến bệnh tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

    Abstract : 598 PDF: 0
    Chu Trung Kiên, Nguyễn Đắc Khoa, Lê Phước Thạnh
    101-110

    Điều tra bệnh thối trái nhãn tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và ảnh hưởng của các yếu tố môi trường chính đến bệnh được thực hiện từ tháng 6 - 10 năm 2022 áp dụng phù hợp TCVN 13268-4:2021 về phương pháp điều tra sinh vật gây hại trên cây ăn trái thân gỗ để ghi nhận mức độ bệnh thối trái nhãn tại các vườn từ thời điểm bệnh xuất hiện đến khi thu hoạch nhãn. Đồng thời, thiết bị nhiệt ẩm kế Datalog 800019 được lắp đặt tại khu vực vườn nhãn từ trước thời điểm bệnh xuất hiện 7 ngày để ghi nhận nhiệt, ẩm độ không khí trên thực địa trong suốt quá trình khảo sát. Kết quả  cho thấy, bệnh thối trái bắt đầu xuất hiện trên các giống nhãn xuồng cơm vàng, edor và tiêu da bò từ giai đoạn trái bắt đầu quá trình chín sinh lý đến khi thu hoạch. Bệnh gây hại 20,83 - 22,92% số chùm nhãn trên cây ở thời điểm chớm xuất hiện và gây hại phổ biến nhất ở giai đoạn thu hoạch với 45,42 - 74,17% số chùm bị bệnh. Mức thiệt hại năng suất nhãn đến thời điểm thu hoạch khoảng 1,15 – 2,96 tấn/ha, từng ứng mức thiệt hại kinh tế khoảng 33,13 - 59,27 triệu/ha. Thiệt hại nặng nhất ở giống nhãn edor, tiếp đến là xuồng cơm vàng và tiêu da bò. Kết quả phân tích tương quan, hồi quy tuyến tính đã ghi nhận mối quan hệ rất chặt chẽ và có ý nghĩa thống kê ở mức 95% giữa bệnh thối trái nhãn với yếu tố ẩm độ không khí và lượng mưa. Trong đó, ẩm độ không khí là yếu tố tác động mạnh nhất đến bệnh thối trái nhãn xuồng cơm vàng và edor tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/wqw4gk93
  • Ảnh hưởng của thời kỳ làm cỏ và lượng phân hữu cơ khoáng đến sinh trưởng, năng suất giống lúa Bắc Hương 9

    Abstract : 350 PDF: 0
    Trần Thị Thiêm, Nguyễn Thị Loan
    111-121

    Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ khoáng và thời kỳ làm cỏ đến sinh trưởng và năng suất giống lúa Bắc Hương 9. Thí nghiệm 2 nhân tố được bố trí theo kiểu ô lớn - ô nhỏ (Split-Plot) với ba lần nhắc lại. Nhân tố ô chính là thời kỳ làm cỏ: Không làm cỏ (T1); làm cỏ một lần ở thời kỳ lúa đẻ nhánh rộ (T2); làm cỏ hai lần ở thời kỳ lúa đẻ nhánh rộ và lúa bắt đầu trỗ (T3). Nhân tố ô phụ là lượng phân hữu cơ khoáng với 4 mức: 0 tấn/ha (P1), 1,5 tấn/ha (P2), 2,0 tấn/ha (P3), 2,5 tấn/ha (P4). Kết quả cho thấy, tăng lượng phân hữu cơ khoáng bón từ mức P1 đến P4 kết hợp làm cỏ đã làm tăng đáng kể các chỉ tiêu sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý, yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa. Năng suất lúa cao nhất (7,10 – 7,34 tấn/ha) đạt được ở mức bón phân P3 và P4 kết hợp với làm cỏ T2 và T3.

    DOI: https://doi.org/10.71254/3rnd4d35
  • Xác định các thông số công nghệ của quá trình chế biến thạch rau câu hương liệu quả có múi

    Abstract : 624 PDF: 0
    Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Thị Thanh Ngọc
    122-131

    Thạch rau câu là sản phẩm thực phẩm được chế biến bằng cách trộn gelatin nguyên chất với các nguyên phụ liệu khác, hoặc dùng các hỗn hợp trộn sẵn giữa gelatin với các chất phụ gia thực phẩm. Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các yếu tố công nghệ của quá trình chế biến thạch rau câu hương liệu quả có múi, với công thức chế biến thạch rau câu hương liệu quả có múi là bột thạch 20 g, gelatin 8 g, đường trắng 30 g, nước lọc 300 ml, nước cam 100 ml và hương liệu quả có múi 2%. Các thông số công nghệ được xác định là gia nhiệt ở nhiệt độ 100oC và thời gian 5 phút. Sản phẩm thạch rau câu thu được có màu vàng cam đặc trưng, mùi thơm đặc trưng hài hoà, vị ngọt đặc trưng xen lẫn vị hơi cay của hương liệu quả có múi, cấu trúc mịn và săn chắc.

    DOI: https://doi.org/10.71254/xqrabr55
  • Ảnh hưởng của một số tác nhân xử lý đến hàm lượng betacyanin và mức độ hỏng trái thanh long ruột đỏ (Hylocereus polyrhizus) trong quá trình bảo quản

    Abstract : 573 PDF: 0
    Hồ Quốc Việt, Nguyễn Thị Kim Tuyến, Trương Thị Tú Trân, Tô Tố Trân, Lê Thị Thuỳ Linh, Trần Thị Như Hà, Nguyễn Bảo Lộc, Hà Thanh Toàn, Nguyễn Hữu Thanh
    132-142

    Thanh long là cây nhiệt đới có ở khắp nơi trên thế giới. Ngày nay, thanh long ruột đỏ trở nên phổ biến vì có giá trị kinh tế cao, các đặc tính dinh dưỡng và dược liệu của chúng. Nghiên cứu được thực hiện với mục đích đánh giá mức độ hỏng và sự ổn định của betacyanin trong quá trình tồn trữ trái tươi khi được xử lý bằng các dung dịch rửa và bao bì bảo quản khác nhau. Kết quả thí nghiệm cho thấy, khi thanh long được rửa sạch bằng dung dịch kali sorbate (3%) giúp làm chậm quá trình hỏng của vỏ quả (11,6%, sau 5 ngày bảo quản) và tăng tính ổn định của betacyanin (365,6 mg/L, sau 5 ngày bảo quản). Màng bao chitosan cũng mang lại hiệu quả bảo quản khác biệt, cụ thể: Mức độ hỏng vỏ quả (15,1%) và hàm lượng betacyanin (333,4 mg/L) sau 9 ngày bảo quản ở nhiệt độ phòng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/250f9897
  • Phân đoạn tinh dầu sả Java (Cymbopogon winterianus) bằng phương pháp chưng cất chân không và đánh giá hoạt tính sinh học các phân đoạn thu được

    Abstract : 575 PDF: 0
    Đỗ Đình Nhật, Vũ Quang Mạnh, Lê Ngọc Duy Tâm, Lê Xuân Tiến, Lê Thị Kim Phụng
    143-153

    Tinh dầu sả Java (Cymbopogon winterianus) là một sản phẩm tự nhiên với nhiều hoạt tính sinh học và được sử dụng phổ biến trong công nghiệp thực phẩm và mỹ phẩm. Trong nghiên cứu này, các phân đoạn khác nhau của tinh dầu sả Java được phân tách khỏi tinh dầu thô bằng phương pháp chưng cất phân đoạn chân không. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chưng cất phân đoạn gồm áp suất chân không và cột chưng cất được khảo sát. Các phân đoạn tinh dầu được xác định thành phần hóa học, khả năng kháng oxy hóa và khả năng kháng khuẩn. Kết quả cho thấy, hệ chưng cất được vận hành ở áp suất chân không 40 mbar sử dụng cột đĩa 400 mm cho độ thu hồi citronella ở phân đoạn F2 đạt giá trị cao nhất là 92,8%, với hàm lượng citronella đạt 80,2% và độ thu hồi rhodinol (hỗn hợp citronellol và geraniol) ở phân đoạn F4 đạt giá trị cao nhất là 81,3% với hàm lượng 71,2%. Có sự khác biệt về thành phần và hàm lượng các hợp chất có trong từng phân đoạn so với tinh dầu thô. Hàm lượng citronellal tăng từ 32,76% từ tinh dầu thô đến 80,2% ở phân đoạn F2. Hàm lượng rhodinol từ 29,12% từ tinh dầu thô đến 71,2% ở phân đoạn F4. Các phân đoạn tinh dầu sả Java khác nhau cho thấy, khả năng kháng oxy hóa và ức chế vi khuẩn khác nhau. Phân đoạn F4 với thành phần chính gồm citronellol và genariol cho thấy khả năng kháng oxi hóa cao nhất (7,0186 ± 0,0254 mg AAE/mL EO). Trong khi đó phân đoạn F2 với thành phần chính citronella cho thấy khả năng kháng khuẩn tốt nhất trong các phân đoạn và cả tinh dầu gốc ban đầu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/wakzwa65
  • Nghiên cứu công nghệ dán phủ ván lạng dọc gỗ hương lên bề mặt ván dán để sản xuất ván sàn kỹ thuật trên thiết bị ép cao tần

    Abstract : 315 PDF: 0
    Vũ Huy Đại, Tạ Thị Phương Hoa, Nguyễn Thị Loan, Tống Thị Phượng, Nguyễn Thế Nghiệp, Trần Công Chi
    154-162

    Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu về ứng dụng dòng điện cao  tần trong công nghệ tạo ván sàn gỗ kỹ thuật có lớp mặt là ván lạng dọc gỗ Hương có chiều dày 3 mm lên bề mặt ván dán có chiều dày 12 mm. Kết quả xác định được quy trình công nghệ dán phủ ván lạng dọc có chiều dày 3 mm từ gỗ Hương lên ván dán để sản xuất ván sàn kỹ thuật, trên thiết bị ép gia nhiệt bằng dòng điện cao tần. Quy trình công nghệ bao gồm các bước cơ bản: Chuẩn bị nguyên, vật liệu; tráng keo và xếp ván; ép ván phủ mặt bằng máy ép cao tần; ổn định ván; cắt ván; sơn UV. Chất lượng ván sàn kỹ thuật được xác định bằng các tính chất cơ lý của ván sàn kỹ thuật theo các tiêu chuẩn hiện hành. Kết quả xác định: Khối lượng riêng 0,78 g/cm3; độ trương nở chiều dày ván 4,36%; độ bền uốn tĩnh 55,93 MPa; mô đun đàn hồi uốn tĩnh 9025,63 MPa; độ bền bề mặt  1,1 Mpa.

    DOI: https://doi.org/10.71254/0bby3r27
  • Nghiên cứu hiện trạng môi trường của một số vùng nuôi hàu Thái Bình Dương Crassostrea gigas Thunberg, 1793) và hàu cửa sông (Crassostrea rivularis Gould, 1861) tại Quảng Ninh

    Abstract : 668 PDF: 0
    Nguyễn Thị Quỳnh, Đỗ Đăng Khoa, Nguyễn Thị Thuỷ, Thái Thị Hồng Phúc, Thái Thanh Bình
    163-173

    Hàu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas Thunberg, 1793) và hàu cửa sông (Crassostrea rivularis Gould, 1861) được nuôi trong môi trường biển hở, do vậy, chúng luôn chịu sự tác động của những biến đổi các yếu tố môi trường tại vùng nuôi. Nghiên cứu hiện trạng môi trường nuôi của hàu Thái Bình Dương và hàu cửa sông là cần thiết để phục vụ phát triển bền vững nghề nuôi các đối tượng này. Địa điểm nghiên cứu tại huyện Vân Đồn và thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Thời gian thực hiện từ tháng 6 năm 2020 đến tháng 5 năm 2021. Các chỉ tiêu môi trường được theo dõi là: Độ mặn, nhiệt độ, DO, kiềm, COD, BOD5, TSS, tốc độ dòng chảy, độ trong, thành phần tảo, Vibrio sp. tổng số trong nước. Các chỉ tiêu được thu mẫu định kỳ 1 lần/tháng, mỗi huyện thu mẫu ở 2 xã, mỗi xã thu mẫu ở 3 điểm nuôi nhuyễn thể, tổng số là 144 mẫu/chỉ tiêu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chỉ tiêu môi trường hầu hết trong ngưỡng giới hạn an toàn nuôi động vật thuỷ sản. Một số chỉ tiêu môi trường vượt ngưỡng giới hạn an toàn và  ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ của hàu như độ mặn ở tháng 12 lên cao đến 30‰ không phù hợp cho sự phát triển của hàu cửa sông, mật độ tảo trong tháng 12 xuống thấp nhất làm cho hàu thiếu thức ăn, mật độ vi khuẩn Vibrio sp. tổng số vượt 103 mg/l ở các tháng 10, 11, 3, 4.

    DOI: https://doi.org/10.71254/wz904a71
  • Đặc điểm hình thái và tập tính loài Rồng đất (Physignathus cocincinus Cuvier, 1829) trong điều kiện nuôi nhốt

    Abstract : 424 PDF: 0
    Đồng Thanh Hải, Tạ Tuyết Nga, Kiều Mạnh Hưởng
    174-183

    Nghiên cứu này đánh giá đặc điểm về hình thái và các tập tính của Rồng đất (Physignathus cocincinus Cuvier, 1829) trong điều kiện nuôi nhốt tại Trường Đại học Lâm nghiệp. Đặc điểm hình thái được quan sát và đo đếm trên 2 nhóm đối tượng là các cá thể trưởng thành với 100 cá thể, bao gồm 50 con đực, 50 con cái và các cá thể con non với 50 cá thể. Mô tả về các tập tính được thực hiện trên 8 cá thể trong 2 chuồng thí nghiệm có kích thước dài 2 m, rộng 2 m và cao 3 m. Kết quả cho thấy, trong môi trường nuôi nhốt, các đặc điểm hình thái đặc trưng của loài không có sự khác biệt so với các mô tả trước đây. Kết quả về khối lượng và kích thước cơ thể cho thấy, có sự khác biệt giữa con đực và con cái. Khối lượng trung bình của con đực là 570,91 ± 85,61 g/cá thể và con cái là 288,04 ± 36,8 g/cá thể. Chiều dài thân trung bình của con đực là 232,53 ± 17,68 mm và con cái là 164,60 ± 11,08 mm. Nghiên cứu ghi nhận một số tập tính của loài Rồng đất như tập tính ăn, di chuyển, nghỉ ngơi, phơi nắng, tắm và ngâm mình trong nước, đào hố đẻ trứng, giao phối và thay đổi màu da.

    DOI: https://doi.org/10.71254/fmegyh08
  • Đa dạng sinh học của họ hồ tiêu (Piperaceae) ở Vườn Quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An

    Abstract : 642 PDF: 0
    Lê Đông Hiếu
    184-189

    Nghiên cứu đa dạng thành phần loài, đặc điểm sinh học, phân bố, giá trị sử dụng và cây thuốc của các loài thuộc họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Vườn Quốc gia (VQG) Pù Mát, tỉnh Nghệ An. Đối tượng nghiên cứu là các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở VQG Pù Mát; phân loại thực vật theo phương pháp hình thái so sánh và chuyên gia. Kết quả nghiên cứu đã xác định được họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở VQG Pù Mát có 20 loài thuộc 3 chi; trong đó, chi Piper là đa dạng nhất với 17 loài. Ghi nhận vùng phân bố mới của 8 loài cho khu hệ thực vật VQG Pù Mát, đó là tiêu gié trắng (Piper albispicum C. DC.); tiêu lá gai (Piper boehmeriaefolium Wall. ex Miq.); tiêu thân ngắn (Piper brevicaule C. DC); tiêu thất (Piper cubeba L.f.); tiêu gié trần (Piper gymnostachyum C. DC.); tiêu harmand (Piper harmandii C. DC.); Piper minutistigmum C. DC.; tiêu pierre (Piper pierrei C. DC.). Hầu hết các loài được nghiên cứu trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) đều có giá trị sử dụng; cây cho tinh dầu có 18 loài, cây làm thuốc có 9 loài, cây làm gia vị và cây ăn được có 4 loài.

    DOI: https://doi.org/10.71254/6w3xt649
  • Một số yếu tố ảnh hưởng đến tích tụ, tập trung đất nông nghiệp phục vụ sản xuất hàng hóa tại tỉnh Hưng Yên

    Abstract : 427 PDF: 0
    Trương Thu Loan, Nguyễn Đình Trung, Nguyễn Thị Hồng Hạnh
    190-200

    Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp. Tích tụ, tập trung (TTTT) đất nông nghiệp để phục vụ sản xuất hàng hóa là xu thế tất yếu. Nghiên cứu nhằm xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến TTTT đất nông nghiệp phục vụ sản xuất hàng hoá tại tỉnh Hưng Yên. Điều tra 90 cán bộ theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên và xử lý bằng thang đo Likert, đã xác định được 5 nhóm với 23 yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến TTTT đất nông nghiệp tại tỉnh Hưng Yên. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) và mô hình tương quan hồi quy tuyến tính bội từ số liệu điều tra 400 người sử dụng đất cho thấy, có 17 yếu tố được phân thành 3 nhóm có ảnh hưởng đến TTTT đất nông nghiệp. Ba nhóm yếu tố này có thể giải thích được 68,1% sự thay đổi của TTTT đất nông nghiệp. Đó là nhóm thể chế gồm 7 yếu tố với hệ số Beta là 0,508; nhóm thị trường gồm 6 yếu tố với hệ số Beta là 0,358 và nhóm kinh tế - xã hội gồm 4 yếu tố với hệ số Beta là 0,125. 31,9% còn lại chịu ảnh hưởng của các nhân tố khác ngoài mô hình mà trong nghiên cứu này chưa đề cập đến.

    DOI: https://doi.org/10.71254/svejb717
  • Ảnh hưởng của Acaulospora sp.-ABLTĐT813 và Gigaspora sp.-ABLTĐT851 đến sinh trưởng và phát triển của lúa Đài Thơm 8 trên nền đất nhiễm mặn tại huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang

    Abstract : 479 PDF: 0
    Nguyễn Văn Lẹ, Trần Nhân Dũng, Bùi Xuân Khanh
    17-24

    Nấm rễ nội sinh và cây lúa là mối quan hệ tương hỗ, cây lúa cung cấp nguồn các bon hữu cơ ở dạng đường và lipit đáp ứng cho sự sinh trưởng, phát triển của nấm rễ nội cộng sinh. Ngược lại, nấm rễ tăng cường khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng cho cây lúa, tái tạo và tăng cường cấu trúc đất, ngoài ra còn giúp cây kháng lại các mầm bệnh xâm nhiễm và chống chịu với điều kiện đất canh tác bị nhiễm mặn…Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu: (i) Khảo sát khả năng tái xâm nhiễm của dòng nấm rễ Acaulospora sp.-ABLTĐT813 và Gigaspora sp.-ABLTĐT851; (ii) Đánh giá ảnh hưởng của dòng nấm rễ Acaulospora sp.-ABLTĐT813 và Gigaspora sp.-ABLTĐT851 đến sinh trưởng của cây lúa trong điều kiện nhà lưới và năng suất trong điều kiện canh tác ngoài đồng ruộng. Kết quả nghiên cứu đã xác định được tỷ lệ tái xâm nhiễm của 2 dòng nấm rễ Gigaspora sp.-ABLTĐT851 và Acaulospora sp.-ABLTĐT813 tương ứng lần lượt là  80% và 100%. Dòng nấm rễ  Acaulospora sp.-ABLTĐT813 tác động đến sinh trưởng của cây lúa hiệu quả hơn dòng nấm rễ Gigaspora sp.-ABLTĐT851 và không khác biệt so với thí nghiệm tổ hợp 2 dòng nấm này trong điều kiện nhà lưới. Trong đó, chiều cao cây và chiều dài rễ lúa tăng hơn so với nghiệm thức đối chứng tương ứng là 1,25 lần và 1,56 lần. Trong điều kiện canh tác ngoài động ruộng tại huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang, nghiệm thức có chủng nấm rễ nội cộng sinh Acaulospora sp.-ABLTĐT813 đạt năng suất lúa tăng 1,28 lần so với đối chứng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/x6382f54
  • Hiệu quả xử lý các loại muối silicate đến khả năng kháng bệnh đốm vằn do nấm Rhizoctonia solani Kuhn trên cây lúa nếp AG

    Abstract : 663 PDF: 0
    Lê Thanh Toàn, Lê Thị Huyền Linh, Lê Thị Huỳnh Vy, Chau Si Quách, Thái Ngọc Oanh, Phan Thị Anh Thơ, Phạm Thị Phương Thảo
    25-37

    Cây lúa nếp AG là đặc sản mang lại giá trị kinh tế cao cho người trồng lúa nếp ở đồng bằng sông Cửu Long. Trong thời gian gần đây, bệnh đốm vằn gây hại nghiêm trọng trên lúa nếp AG. Do đó, nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đánh giá khả năng kháng bệnh đốm vằn của cây lúa nếp sau khi xử lý với các dạng muối silicate (Si). Đầu tiên, ảnh hưởng của các dạng Si đến khả năng kháng bệnh đốm vằn trên lúa nếp AG được khảo sát ở điều kiện nhà lưới, 4 lần lặp lại, 10 nghiệm thức là: CaSiO3-20N, CaSiO3-50N, Na2SiO3-20N, Na2SiO3-50N, K2SiO3-20N, K2SiO3-50N, SLM-20N, SLM-50N, đối chứng-20N và đối chứng-50N. Kết quả cho thấy, việc xử lý chất Si ở 20 ngày sau gieo (NSG) giúp đạt hiệu quả giảm bệnh đốm vằn ở 10 và 20 ngày sau khi lây bệnh (NSLB), không thể hiện rõ hiệu quả trong việc gia tăng năng suất và các thành phần năng suất. Trong khi đó, việc xử lý Si ở 50 NSG giúp đạt hiệu quả giảm bệnh ở 30 NSLB, số bông trên chậu và khối lượng hạt trên chậu. Hiệu quả đạt được khác nhau tùy vào loại chất Si. Việc xử lý Si ở 50 NSG giúp ức chế sự hình thành hạch nấm R. solani. Ở điều kiện ngoài đồng, nghiệm thức CaSiO3 và K2SiO3 giúp cây lúa nếp ức chế bệnh và đạt năng suất tốt hơn so nghiệm thức Na2SiO3.

    DOI: https://doi.org/10.71254/a57g5p24
  • Đánh giá đa dạng di truyền và cấu trúc quần thể nguồn gen xoài (Manifera spp.) bằng chỉ thị GBS - SNP

    Abstract : 531 PDF: 0
    Nguyễn Thị Lan Hoa, Trần Đức Trung, Bùi Thị Thu Giang, Hà Minh Loan, Lê Thị Hoa, Nguyễn Hoàng, Roland Schafleitner, Jean Lin, Nguyễn Thị Thanh Thủy
    38-49

    Xoài (Mangifera indica L.) là cây ăn quả có giá trị kinh tế cao tại Việt Nam. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá mức độ đa dạng di truyền của 14 mẫu giống xoài có nguồn gốc từ các tỉnh thành trong cả nước bằng chỉ thị đa hình đơn nucleotide (SNP). Kỹ thuật GBS (Genotyping by sequencing) được ứng dụng để phát hiện và sàng lọc 1.860 chỉ thị SNP chất lượng cao và sử dụng trong phân tích cấu trúc quần thể (bằng phần mềm STRUCTURE), phân nhóm di truyền (bằng công cụ PowerMarker) cũng như các chỉ số di truyền của các mẫu giống xoài. Kết quả cho thấy, bộ mẫu giống nghiên cứu có mức độ đa dạng di truyền tương đối cao, dựa trên chỉ số đa dạng gen GD (0,259) và hệ số thông tin đa hình PIC (0,227) của các chỉ thị SNP. Bên cạnh phân nhóm của mẫu giống đối chứng nhóm ngoại Thanh Trà khác loài, 2 phân nhóm mẫu giống xoài đã được xác định - một phân nhóm bao gồm các mẫu giống xoài phía Nam có nền di truyền đồng nhất và một phân nhóm của các mẫu giống xoài còn lại có nền di truyền pha trộn. Kết quả phản ánh lịch sử lai giống, chọn tạo khép kín giữa các mẫu giống xoài phía Nam đã góp phần xây dựng cơ sở di truyền cho các nghiên cứu lưu giữ và khai thác nguồn gen xoài tại Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/5akddz49
  • Nghiên cứu phương pháp khử trùng và nhân nhanh in vitro cây hoa giấy Cẩm thạch đỏ sen (Bougainvillea ‘Tropical Rainbow’)

    Abstract : 375 PDF: 0
    Phan Diễm Quỳnh, Hà Thị Loan, Nguyễn Trần Phước Huy, Nguyễn Kim Thủy
    50-58

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định nồng độ chất khử trùng, thời gian khử trùng và môi trường nhân nhanh thích hợp góp phần hoàn thiện quy trình nhân giống in vitro cây hoa giấy Cẩm thạch đỏ sen. Các thí nghiệm sử dụng môi trường cơ bản MS (Murashige, Skoog, 1962) và WPM (Woody Plant Medium, Lloyd, McCown, 1981) có bổ sung chất điều hòa sinh trưởng. Mẫu nuôi cấy là đoạn chồi ngọn dài 5 cm của cây hoa giấy Cẩm thạch 1 năm tuổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sử dụng chất khử trùng Javel theo tỉ lệ 1 Javel: 3 nước, xử lý trong thời gian 20 phút cho tỉ lệ mẫu sống vô trùng cao nhất đạt 82,22%. Môi trường thích hợp để tạo chồi trong nhân giống in vitro cây hoa giấy là WPM + 3,0 mg/L BA + 30 g/L sucrose + 7 g/L agar cho tỷ lệ tạo chồi cao nhất, đạt 100% sau 10 tuần nuôi cấy. Môi trường WPM bổ sung 1,0 mg/L BA là thích hợp cho nhân nhanh chồi hoa giấy in vitro.

    DOI: https://doi.org/10.71254/2608fx89
  • Nghiên cứu nhân giống in vitro cây phòng phong (Saposhnikovia divaricata (Turcz.) Schischk

    Abstract : 608 PDF: 0
    Hoàng Thị Như Nụ, Nguyễn Thị Xuyên, Lê Thị Quỳnh Nga, Đinh Thanh Giảng, Vũ Hoài Sâm
    59-67

    Nghiên cứu được tiến hành góp phần xây dựng quy trình nhân giống in vitro cây phòng phong từ chồi đỉnh. Mẫu phòng phong được khử trùng bằng HgCl2 0,1% trong thời gian 12 phút cho tỷ lệ nhiễm thấp, tỷ lệ mẫu sống, sạch cao đạt 60,7%,  mẫu tái sinh tạo chồi tốt. Môi trường MS có bổ sung 0,5 mg/L BAP là môi trường thích hợp nhất để tái sinh chồi. Môi trường nhân nhanh chồi phòng phong tốt nhất là môi trường MS có bổ sung 1 mg/L BAP cho hệ số nhân chồi đạt cao nhất 8,56 chồi/mẫu, chiều cao đạt 6,1 cm, chất lượng chồi tốt sau 8 tuần nuôi cấy. Môi trường MS có bổ sung 0,5 mg/L α-NAA là môi trường ra rễ thích hợp nhất cho chồi phòng phong với tỷ lệ ra rễ đạt 68,33%, số rễ 11,67 rễ và chiều dài rễ 3,43 cm sau 10 tuần nuôi cấy.

    DOI: https://doi.org/10.71254/qf69wd82
  • Nghiên cứu định danh và điểm của nấm Phytopythium cucurbitacearum liên quan tới bệnh thối rễ cây cam tại Hà Giang

    Abstract : 425 PDF: 0
    Cao Văn Chí, Nguyễn Đức Huy, Bùi Quang Đãng, Phạm Hồng Hiển, Lương Thị Huyền, Giang Đức Hiệp, Nguyễn Văn Trọng
    68-76

    Nghiên cứu định danh và đặc điểm của nấm Phytopythium cucurbitacearum có liên quan đến bệnh thối rễ cây cam, một trong những nguyên nhân gây suy thoái vùng cam tại Hà Giang, các mẫu đất trồng và rễ cam tại 3 huyện trồng cam của tỉnh Hà Giang (Vị Xuyên, Quang Bình và Bắc Quang) được thu thập. Kết quả cho thấy, 2 mẫu đất và rễ tại vùng rễ cây cam bị thối được xác định là Phytopythium cucurbitacearum dựa trên đặc điểm hình thái và trình tự vùng rDNA-ITS. Nghiên cứu đặc điểm hình thái cho thấy, bọc bào tử dạng hình cầu, trứng, ellip, bất định hình, bọc bào tử có núm rõ rệt, chiều dài 21,2 - 68,5 μm và chiều rộng 18,6 - 37,25 μm, kích thước lỗ giải phóng bào tử 3,2 - 5,6 μm, du động bào tử được hình thành trong bọc giả sau đó mới giải phóng. P. cucurbitacearum cấy trên môi trường CA phát triển tốt nhất, sau 7 ngày nuôi cấy trên đĩa petri đều đạt kính thước là 90,00 mm; sau đó đến môi trường V8, kích thước đạt 75,67 mm; môi trường PA và CMA đạt kích thước tản nấm đạt lần lượt là 65,50 và 67,33 mm; môi trường PDA có kích thước tản nấm mọc chậm nhất với kích thước 43,33 mm. Nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của nấm P. cucurbitacearum là từ 20ºC - 30ºC; sau 3 ngày thì sợi nấm đã mọc kín đĩa có đường kính 90 mm ở nhiệt độ 30ºC; ở ngưỡng nhiệt độ 20ºC và 25ºC trong ngày thứ 3 đạt kích thước lần lượt là 67,33 và 81,50 mm và mọc kín đĩa trong ngày thứ tư; ngưỡng nhiệt độ từ 20 - 30ºC là điều kiện thích hợp nhất cho sự phát triển của nấm P. cucurbitacearum gây thối rễ trên cây có múi.

    DOI: https://doi.org/10.71254/q5apda15