Bệnh thối trái nhãn và ảnh hưởng của các yếu tố môi trường chính đến bệnh tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
DOI:
https://doi.org/10.71254/wqw4gk93Abstract
Investigation of longan fruit rot and the influence of principally environmental factors on the disease were carried out from June to October 2022 in Ba Ria - Vung Tau province, appropriately applying TCVN 13268-4:2021 on pests recording method on fruit trees to determine the yield loss by fruit rot during harvest season. While the Datalog 800019 thermo-hygrometer equipment was installed in the longan field before the disease emerged at 7 days to record temperature and humidity data throughout the survey period. The results show that fruit rot disease emerged on the xuong com vang, edor and tieu da bo longan varieties from the physiological maturity to the harvest stage. The longan fruit rot harmed from 20.83% to 22.92% of the clusters at emerging period. The disease was the most severe at the harvest stage with 45.42 - 74.17% of the damaged clusters. Longan varieties yield were lost from 1.15 tone per hectare to 2.96 tone per hectare at harvesting time. Therefore, the economic value loss caused by the disease from 33.13 to 59.27 million VND per hectare. The largest damage was on the edor variety, followed by the xuong com vang and tieu da bo respectively. The linear regression analysis shows a very firm and significant correlation between the longan fruit rot and humidity and rainfall. In which, humidity created the most influential on fruit rot of the xuong com vang and edor varieties during the rainy season in Ba Ria - Vung Tau province.
Keywords:
Longan fruit rot, principally environmental factors, xuong com vang, edor, tieu da bo varietiesTóm tắt
Điều tra bệnh thối trái nhãn tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và ảnh hưởng của các yếu tố môi trường chính đến bệnh được thực hiện từ tháng 6 - 10 năm 2022 áp dụng phù hợp TCVN 13268-4:2021 về phương pháp điều tra sinh vật gây hại trên cây ăn trái thân gỗ để ghi nhận mức độ bệnh thối trái nhãn tại các vườn từ thời điểm bệnh xuất hiện đến khi thu hoạch nhãn. Đồng thời, thiết bị nhiệt ẩm kế Datalog 800019 được lắp đặt tại khu vực vườn nhãn từ trước thời điểm bệnh xuất hiện 7 ngày để ghi nhận nhiệt, ẩm độ không khí trên thực địa trong suốt quá trình khảo sát. Kết quả cho thấy, bệnh thối trái bắt đầu xuất hiện trên các giống nhãn xuồng cơm vàng, edor và tiêu da bò từ giai đoạn trái bắt đầu quá trình chín sinh lý đến khi thu hoạch. Bệnh gây hại 20,83 - 22,92% số chùm nhãn trên cây ở thời điểm chớm xuất hiện và gây hại phổ biến nhất ở giai đoạn thu hoạch với 45,42 - 74,17% số chùm bị bệnh. Mức thiệt hại năng suất nhãn đến thời điểm thu hoạch khoảng 1,15 – 2,96 tấn/ha, từng ứng mức thiệt hại kinh tế khoảng 33,13 - 59,27 triệu/ha. Thiệt hại nặng nhất ở giống nhãn edor, tiếp đến là xuồng cơm vàng và tiêu da bò. Kết quả phân tích tương quan, hồi quy tuyến tính đã ghi nhận mối quan hệ rất chặt chẽ và có ý nghĩa thống kê ở mức 95% giữa bệnh thối trái nhãn với yếu tố ẩm độ không khí và lượng mưa. Trong đó, ẩm độ không khí là yếu tố tác động mạnh nhất đến bệnh thối trái nhãn xuồng cơm vàng và edor tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.








