Số 8 (2024)

					Xem Số 8 (2024)
Đã Xuất bản: 29-04-2024

Bài viết

  • Nghiên cứu nhân nhanh chồi từ hạt của cây chè Mã Dọ (Camellia sinensis var. madoensis)

    Abstract : 435 PDF: 0
    Văn Thị Phương Như, Nguyễn Trần Vũ, Nguyễn Khánh Hy, Trịnh Thị Huy Trà
    3-10

    Chè Mã Dọ (Camellia sinensis var. madoensis) là một giống chè địa phương phân bố ở tỉnh Phú Yên và Bình Định có giá trị dược liệu và thương phẩm cao. Hiện nay, số lượng cá thể tự nhiên của loài này đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt do khai thác quá mức; do đó, phát triển nguồn giống loài cây này là rất cần thiết. Trong nghiên cứu này, hạt chè Mã Dọ được thu thập và khử trùng với 10% Ca(OCl)2 bổ sung Tween 20 trong thời gian 20, 30 và 40 phút để đánh giá hiệu quả khử trùng và là vật liệu để khảo sát ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng thực vật lên khả năng nhân nhanh chồi. Kết quả  cho thấy, hạt chè Mã Dọ khử trùng với 10% Ca(OCl)2 trong 40 phút cho hiệu quả khử trùng tối ưu với 100% mẫu sống và nảy mầm sau 10 tuần nuôi cấy. Ngoài ra, chồi đỉnh (1,5 cm) nuôi cấy trên môi trường MS bổ sung 4,0 mg/l BA, 0,8 mg/L IBA và 1,6 mg/L GA3, 30 g/L sucrose và 7 g/L agar ghi nhận hiệu quả nhân nhanh chồi tới ưu với 8,5 chồi/mẫu cấy và 24, 25 lá so với các nghiệm thức khác sau 12 tuần nuôi cấy. Kết quả của nghiên cứu đã tạo được nguồn mẫu in vitro phục vụ công tác nhân giống và bảo tồn loài cây này.

    DOI: https://doi.org/10.71254/npx7xx08
  • Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến dược liệu ké đầu ngựa (Xanthium strumarium L.) tại thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương

    Abstract : 549 PDF: 0
    Lương Thị Hoan, Nghiêm Tiến Chung, Trần Văn Thắng, Phạm Hồng Minh, Trần Thị Lan1 Trần Hữu Khánh Tân
    11-20

    Nghiên cứu này nhằm xác định biện pháp kỹ thuật về thời vụ, mật độ trồng và liều lượng phân bón thích hợp cho cây ké đầu ngựa (Xanthium strumarium L.) tại thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Kết quả nghiên cứu về thời vụ trồng cho thấy: Số lượng quả và năng suất quả ở thời vụ trồng tháng 3 cao hơn so với thời vụ trồng tháng 4. Năng suất đạt 14,03 tấn/ha ở thời vụ trồng tháng 3, trong khi thời vụ trồng tháng 4 đạt 13,2 tấn/ha. Nghiên cứu về mật độ cho thấy: Chiều cao, đường kính tán và số cành cấp 1 ở giai đoạn sau trồng 7 tháng tuổi, khác biệt có ý nghĩa (P ≤ 0,05). Công thức trồng 50 x 60 cm (MĐ1) có chiều cây cao hơn chiều cao cây ở công thức 50 x 70 cm (MĐ2)và 50 x 80 cm (MĐ3). Ở MĐ2 có số cành cấp 1 lớn nhất (24,5 cành/cây), trong khi đó ở MĐ1 chỉ đạt giá trị tương ứng là 21,7 cành/cây ở giai đoạn sau trồng 7 tháng tuổi, ở MĐ2 có năng suất cao nhất (13,08 tấn/ha) cao hơn và có ý nghĩa (p ≤ 0,05) so với MĐ3 và MĐ1. Kết quả nghiên cứu về liều lượng phân bón cho thấy, công thức phân bón 9 kg NPK (9: 6: 3) + 6,5 kg NPK (17: 12: 7) + 7,5 kg NPK (12: 7: 17) + 1 kg vi lượng (PB2) có năng suất cao nhất (13,91 tấn/ha) cao hơn có ý nghĩa (p ≤ 0,05) so với các công thức phân bón 11 kg NPK (9: 6: 3) + 7,5 kg NPK (17: 12: 7) + 8,5 kg NPK (12: 7: 17) + 1 kg phân vi lượng (PB3) và công thức phân bón 7 kg NPK (9: 6: 3) + 5,5 kg NPK (17: 12: 7) + 6,5 kg NPK (12: 7: 17) + 1 kg vi lượng (PB1). Công thức bón 9 kg NPK (9: 6: 3) + 6,5 kg NPK (17: 12: 7) + 7,5 kg NPK (12: 7: 17) + 1 kg vi lượng có nhiều ưu thế nhất nên có thể áp dụng trong điều kiện tại thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên, cần có nghiên cứu về thành phần axit chlorogenic trong dược liệu ké đầu ngựa theo Dược điển Việt Nam V.

    DOI: https://doi.org/10.71254/84kkjj23
  • Xác định ẩm độ phù hợp trong sản xuất chế phẩm chứa các dòng vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía cố định đạm

    Abstract : 449 PDF: 0
    Nguyễn Đức Trọng, Lý Ngọc Thanh Xuân, Trần Chí Nhân, Nguyễn Thanh Phương, Trần Trọng Khôi Nguyên, Lê Thị Mỹ Thu, Nguyễn Quốc Khương
    21-30

    Thí nghiệm được thực hiện với mục tiêu xác định ẩm độ phù hợp trong sản xuất chế phẩm vi sinh chứa vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía cố định đạm. Thí nghiệm hai nhân tố bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 lần lặp lại. Trong đó, nhân tố thứ nhất gồm 5 mức ẩm độ: 30, 40, 50, 60, 70% và nhân tố thứ hai gồm các dòng vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía cố định đạm: W15, S27, W39 và W15, S27 + W39 trên tỷ lệ rơm: lá khóm: tro trấu là 1: 3: 1. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hàm lượng C trong chất mang chất nền đạt ở tỷ lệ ẩm độ: 30, 50, 60 và 70% lần lượt là 59,3, 59,4, 58,5 và 59,0%. Các nghiệm thức bổ sung dòng đơn W15 và S27 có C/N chỉ 46,4 và 44,9, thấp hơn so với các nghiệm thức còn lại. Dòng vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía cố định đạm W15, S27 và S39 phát triển tốt ở tỷ lệ ẩm độ 40 - 70% với mật độ tế bào với dao động 0,424 - 0,428 x 106 CFU/g.

    DOI: https://doi.org/10.71254/mr6n7w26
  • Thành phần giống tuyến trùng trên cây ớt (Capsicum frutescens L.) chỉ thiên F1 ở huyện An Phú, tình An Giang

    Abstract : 261 PDF: 0
    Lê Hữu Phước, Võ Thị Hướng Dương
    31-38

    Kết quả phân tích tuyến trùng ký sinh thực vật trên  cây ớt chỉ thiên F1 trồng tại huyện An Phú, tỉnh An Giang trong năm 2022 đã xác định được 11 giống tuyến trùng (Ditylenchus, Tylenchorhynchus, Pratylenchus, Hirschmanniella, Rotylenchulus, Helicotylenchus, Meloidogyne, Criconemella, Tylenchulus, Aphelenchoides Xiphinema) thuộc 9 họ, 3 bộ. Trong đó, trên mẫu đất, giống Meloidogyne có tần suất xuất hiện cao nhất (28,5%) và có mức độ phổ biến nhất. Giống TylenchulusPratylenchus là hai giống có mức độ phổ biến kế tiếp, với tần suất lần lượt là 14,7% và 11,4%. Tương tự, trên mẫu rễ, Meloidogyne có tần suất cao nhất (27,1%). TylenchulusPratylenchus là hai giống có mức độ phổ biến với tần suất xuất hiện là 16,3% và 7,2%. Các giống còn lại đều có tần suất thấp, dưới 10%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/vfs60a47
  • Nghiên cứu bệnh giảm bạch cầu trên mèo do Feline Panleukopenia virus tại Chi cục Thú y liên quận Ninh Kiều - Bình Thủy, thành phố Cần Thơ

    Abstract : 809 PDF: 0
    Nguyễn Thị Yến Mai, Trần Ngọc Bích, Võ Thị Loan
    39-50

    Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6/2023 đến tháng 12/2023 nhằm theo dõi sự thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của mèo mắc bệnh do Feline Panleukopenia virus (FPV), theo dõi hiệu quả hỗ trợ điều trị mèo mắc bệnh do FPV tại Chi cục Thú y liên quận Ninh Kiều – Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Trong tổng số 468 mèo đến khám và điều trị, có 67/468 mèo dương tính với FPV, chiếm tỷ lệ 14,32%. Tỷ lệ mắc bệnh do FPV theo độ tuổi cho thấy, mèo từ 1 - 6 tháng tuổi chiếm tỷ lệ nhiễm cao nhất (46,67%), mèo từ 7 - 12 tháng tuổi có tỷ lệ bệnh là 25,64% và nhóm trên 12 tháng tuổi thấp nhất là 13,89%. Tỷ lệ bệnh ở giống mèo nội khá cao, chiếm 40,18% và ở giống mèo ngoại thấp hơn, chiếm 23,91% (P<0,05). Về giới tính, tỷ lệ bệnh ở mèo đực và mèo cái lần lượt là 34,62% và 31,00% (P>0,05). Những con mèo đã được tiêm vắc xin phòng bệnh do FPV có tỷ lệ mắc bệnh là 7,63% so với nhóm chưa tiêm phòng là 67,44% (P<0,01). Các triệu chứng điển hình của bệnh do FPV là ủ rũ, mệt mỏi, ăn ít hoặc bỏ ăn, sốt cao, tiêu chảy, phân có lẫn máu, nôn với tần suất xuất hiện từ 83 - 100%. Kết quả xét nghiệm sinh lý, sinh hóa máu cho thấy, số lượng bạch cầu giảm mạnh chỉ còn 0,75, tiểu cầu giảm còn 123 , hồng cầu vẫn nằm trong ngưỡng bình thường. Mèo dương tính với FPV được tiến hành hỗ trợ điều trị và hiệu quả điều trị được ghi nhận như sau: Khỏi bệnh sau 5 - 7 ngày điều trị chiếm tỷ lệ khá thấp là 22,39%, thuyên giảm bệnh là 8,95% và nhóm không khỏi bệnh chiếm tỷ lệ 68,66%

    DOI: https://doi.org/10.71254/26fbwq56
  • Khoai lang tím: Một loại thế liệu đầy tiềm năng trong sản xuất bia của tương lai

    Abstract : 585 PDF: 0
    Bùi Thế Vinh, Đinh Thái Phi Bằng, Nguyễn Ngọc Nhi, Nguyễn Lê Tấn Thiện, Trần Hữu Thanh Huy, Lê Thị Kim Loan
    51-61

    Ngày nay, người tiêu dùng quan tâm đến sự đa dạng hơn là loại bia truyền thống được làm từ malt đại mạch. Bên cạnh đó, nhu cầu về các loại thực phẩm bổ dưỡng, có lợi cho sức khỏe ngày càng tăng, việc sử dụng các nguyên liệu thay thế malt đại mạch để tạo ra sản phẩm mới bổ dưỡng, có hương vị độc đáo theo xu hướng tiêu dùng và tiết kiệm chi phí sản xuất là vấn đề đang được quan tâm. Khoai lang tím (Ipomoea batatas (L.) Lam) được xem là một loại củ tốt cho sức khỏe, có hương vị độc đáo, lượng chất xơ cao, chứa anthocyanin có hoạt tính sinh học và nhiều chất dinh dưỡng. Do đó, bột khoai lang tím là một loại nguyên liệu tiềm năng để thay thế một phần malt đại mạch trong sản xuất bia nhằm tạo ra sản phẩm bia mới và đáp ứng theo xu hướng thị trường bia. Quy trình sản xuất bia bằng bột khoai lang tím cũng tương tự như quy trình sản xuất bia truyền thống, chỉ thay đổi một số thông số công nghệ như đường hóa và lên men theo tỷ lệ bột khoai lang sử dụng. Sản phẩm bia sử dụng hàm lượng bột khoai lang tím từ 20 - 50% có giá trị cảm quan cao và chứa nhiều hợp chất chống oxy hóa mạnh như anthocyanin, phenol, anthocyanidin giúp ngăn ngừa ung thư và cải thiện chức năng thị giác.

    DOI: https://doi.org/10.71254/bjd66d22
  • Tối ưu hóa quá trình thủy phân sụn cá hồi (Salmon salar) bằng tổ hợp enzyme alcalase-papain theo phương pháp mặt đáp ứng

    Abstract : 333 PDF: 0
    Đinh Hữu Đông
    62-73

    Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu tối ưu hóa quá trình thủy phân sụn cá hồi (Salmon salar (Linnaeus, 1758)) bằng hỗn hợp enzyme alcalase - papain. Kết quả nghiên cứu đã xác định được khoảng thông số biên thích hợp cho quá trình thủy phân sụn cá hồi bằng hỗn hợp enzyme alcalase - papain: Khonồng độ enzyme thích hợp là 0,3 - 0,6%, khoảng nhiệt độ thích hợp là 45và khoảng thời gian thích hợp là 3 - 6 giờ. Kết quả tối ưu hóa đã xác định được các thông số tối ưu cho quá trình thủy phân sụn cá hồi bằng hỗn hợp enzyme alcalase - papain: Nồng độ enzyme là 0,4%, nhiệt độ thủy phân là 55oC và thời gian thủy phân là 4 giờ. Kết quả thủy phân sụn cá hồi với các thông số ở trên thu được dịch thủy phân với hiệu suất thu chondroitin sulfate đạt 98,52%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/94qavp51
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT CHIẾT LÁ KHUYNH DIỆP LÊN KHẢ NĂNG KHÁNG Edwardsiella ictualuri, GÂY BỆNH GAN THẬN MỦ VÀ MỘT SỐ CHỈ SỐ HUYẾT HỌC TRÊN CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus)

    Abstract : 591 PDF: 0
    Trần Bửu Tài, Nguyễn Thị Trúc Linh
    74-83

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của chất chiết lá khuynh diệp (Eucalyptus globulus) lên hoạt tính kháng Edwardsiella ictaluri, gây bệnh gan thận mủ và xác định một số chỉ số huyết học trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus). Kết quả đã cho thấy, khả năng kháng khuẩn của chất chiết lá khuynh diệp bằng phương pháp khuếch tán đĩa thạch, đồng thời xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) và nồng độ diệt khuẩn tối thiểu (MBC) bằng phương pháp pha loãng nồng độ. Chất chiết lá khuynh diệp có hoạt tính kháng Edwardsiella ictaluri, với đường kính vòng vô trùng 23 mm; MIC, MBC tương ứng 1,56 mg/mL và 3,12 mg/mL. Kết quả chỉ số huyết học đã thể hiện rõ việc bổ sung chất chiết từ lá khuynh diệp giúp làm gia tăng có ý nghĩa số lượng tổng hồng cầu, tổng bạch cầu nói chung và các loại bạch cầu nói riêng so với đối chứng ở liều bổ sung 1%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/nvghqp36
  • ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI TRỤ MẦM CỦA CÁC LOÀI CÂY THUỘC HỌ ĐƯỚC TẠI KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Abstract : 496 PDF: 0
    Huỳnh Đức Hoàn, Bùi Nguyễn Thế Kiệt, Lương Thị Thu Thảo, Nguyễn Thị Phương Linh, Viên Ngọc Nam
    84-92

    Phát triển và bảo tồn rừng ngập mặn là một trong những chủ trương, chính sách được Đảng và Nhà nước ngày càng chú trọng quan tâm thực hiện nhằm phát triển kinh tế - xã hội và ứng phó với biến đổi khí hậu. Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng cho 11 loài cây rừng ngập mặn, tuy nhiên, các nguồn tài liệu nghiên cứu về kỹ thuật trồng cây rừng ngập mặn vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu này nhằm xác định đặc điểm hình thái trụ mầm, bao gồm: Đường kính, chiều dài và khối lượng tươi trụ mầm của 8 loài cây rừng ngập mặn thuộc họ Rhizophoraceae, với số lượng mẫu được thực hiện trên 100 trụ mầm/mỗi loài. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cây Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza) có đường kính trụ mầm cao nhất, đạt trung bình 21,72 ± 1,04 mm. Trong khi đó, cây Đưng (Rhizophora mucronata) có chiều dài và khối lượng tươi trụ mầm là cao nhất, đạt lần lượt 55,80 ± 4,21 cm và 95,44 ± 17,23 g. Nghiên cứu cũng xác định được mối tương quan giữa đường kính và chiều dài trụ mầm thông qua phương trình Y = exp (a + b*X) với giá trị R2 cao (0,63 - 0,94). Kết quả cũng đối sánh về đặc điểm hình thái trụ mầm của các loài cây rừng ngập mặn trong nghiên cứu này với các kết quả của nghiên cứu khác và đã chỉ ra mối tương đồng cao. Như vậy, các kết quả đạt được trong nghiên cứu này bước đầu đã cung cấp các thông số có ý nghĩa khoa học cao trong việc phục vụ công tác nghiên cứu cũng như thực hiện các chương trình, dự án trồng rừng trong tương lai và các địa phương có điều kiện tự nhiên tương đồng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/t8p3ck88
  • ĐẶC ĐIỂM THÀNH PHẦN LOÀI DÂY LEO TẠI CÁC KIỂU THẢM THỰC VẬT KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN KON CHƯ RĂNG VÀ PHỤ CẬN

    Abstract : 405 PDF: 0
    Trần Thị Thanh Hương, Đặng Hùng Cường, Nguyễn Đăng Hội, Lương Văn Dũng, Hoàng Thanh Trường, Hoàng Thanh Sơn
    93-100

    Các thảm thực vật đặc trưng thuộc Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Kon Chư Răng và phụ cận có thành phần loài dây leo tương đối đa dạng, kết quả điều tra đã ghi nhận được 27 loài dây leo thân gỗ và thân thảo, thuộc 26 chi, 20 họ thực vật. Họ đậu (Fabaceae) giàu loài dây leo nhất được ghi nhận với 4 loài, có tới 17/20 họ đơn chi, đơn loài. Thành phần loài leo phân bố tập trung ở các thảm thực vật thứ sinh, trong đó rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy có mức độ đa dạng loài cao nhất với 20/27 loài, chiếm 74,1% tổng số loài dây leo ghi nhận được, tiếp đến tại rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác ghi nhận được 16/27 loài, chiếm 59,3%, thảm thực vật trảng cỏ cây bụi có cây gỗ tái sinh có 8 loài, chiếm 30,8%, thấp nhất là thảm thực vật rừng nguyên sinh chỉ ghi nhận được 5 loài dây leo, chiếm 18,5% tổng số loài dây leo điều tra được. Các loài có giá trị làm thuốc chiếm 70,4% số loài, nhiều loài thuốc quý như: Dây hoàng đằng (Fibraurea recisa), Dây hà thủ ô (Fallopia multiflora). Dây leo thân thảo chiếm ưu thế về loài tại các thảm thực vật thứ sinh, dao động từ 70 - 85,7% số loài dây leo được ghi nhận tại các thảm thực vật này. Trái lại, nhóm dây leo thân gỗ chiếm 80% tổng số loài dây leo ghi nhận được tại thảm thực vật nguyên sinh. Tỷ lệ cây tầng cao có dây leo quấn ở rừng nguyên sinh chỉ 3,5%, ở các thảm thực vật thứ sinh phục hồi rất cao, từ 26,2 - 46,2%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/1scrx517