ĐẶC ĐIỂM THÀNH PHẦN LOÀI DÂY LEO TẠI CÁC KIỂU THẢM THỰC VẬT KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN KON CHƯ RĂNG VÀ PHỤ CẬN

Các tác giả

  • Trần Thị Thanh Hương, Đặng Hùng Cường, Nguyễn Đăng Hội, Lương Văn Dũng, Hoàng Thanh Trường, Hoàng Thanh Sơn Viện Sinh thái Nhiệt đới, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga

DOI:

https://doi.org/10.71254/1scrx517

Abstract

The typical vegetations of the Kon Chu Rang nature reserve and the surrounding area have a relatively diverse composition of climbing plants. Survey results have recorded 27 species of lianas and vines, belonging to 26 genera, 20 plant family. The legume family (Fabaceae) is the richest in vines recorded, with 4 species, with up to 17/20 single - genus, single - species families. Climbing plants are distributed mainly in secondary vegetation, the recovery secondary forests after shifting cultivation have the highest species diversity with 20/27 species accounting for 74.1% of the total number of recorded climbs. In the secondary forest recovered after exploitation, 16/27 species were recorded, accounting for 59.3%, The grassland, shrubs with regenerated wood trees vegetation had 8 species, accounting for 30.8%. The lowest is the primary forest vegetation with only 5 species of climbing plants recorded, accounting for 18.5%. Species with medicinal value account for 70.4% of the species, many precious medicinal species such as Fibraurea recisa, Fallopia multiflora. Vines dominate the species in secondary vegetation, ranging from 70 - 85.7% of the number of climbing plant species recorded in these vegetations. In contrast, the group of liana species accounts for 80% of the total number of climbing plant species recorded in the primary vegetation. The percentage of tall trees with climbs in primary forest is only 3.5%, in recovery secondary vegetations are very high, from 26.2 - 46.2%.

Keywords:

Climbs, distribution, Kon Chu Rang, species composition, vegetation

Tóm tắt

Các thảm thực vật đặc trưng thuộc Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Kon Chư Răng và phụ cận có thành phần loài dây leo tương đối đa dạng, kết quả điều tra đã ghi nhận được 27 loài dây leo thân gỗ và thân thảo, thuộc 26 chi, 20 họ thực vật. Họ đậu (Fabaceae) giàu loài dây leo nhất được ghi nhận với 4 loài, có tới 17/20 họ đơn chi, đơn loài. Thành phần loài leo phân bố tập trung ở các thảm thực vật thứ sinh, trong đó rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy có mức độ đa dạng loài cao nhất với 20/27 loài, chiếm 74,1% tổng số loài dây leo ghi nhận được, tiếp đến tại rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác ghi nhận được 16/27 loài, chiếm 59,3%, thảm thực vật trảng cỏ cây bụi có cây gỗ tái sinh có 8 loài, chiếm 30,8%, thấp nhất là thảm thực vật rừng nguyên sinh chỉ ghi nhận được 5 loài dây leo, chiếm 18,5% tổng số loài dây leo điều tra được. Các loài có giá trị làm thuốc chiếm 70,4% số loài, nhiều loài thuốc quý như: Dây hoàng đằng (Fibraurea recisa), Dây hà thủ ô (Fallopia multiflora). Dây leo thân thảo chiếm ưu thế về loài tại các thảm thực vật thứ sinh, dao động từ 70 - 85,7% số loài dây leo được ghi nhận tại các thảm thực vật này. Trái lại, nhóm dây leo thân gỗ chiếm 80% tổng số loài dây leo ghi nhận được tại thảm thực vật nguyên sinh. Tỷ lệ cây tầng cao có dây leo quấn ở rừng nguyên sinh chỉ 3,5%, ở các thảm thực vật thứ sinh phục hồi rất cao, từ 26,2 - 46,2%.

Từ khóa:

Dây leo, Kon Chư Răng, phân bố, thành phần loài, thảm thực vật

Ngày nhận bài:

28-03-2025

Ngày nhận bài sửa:

17-06-2026

Ngày duyệt đăng:

17-06-2026

Ngày xuất bản:

28-03-2025

Title:

CHARACTERISTICS OF THE COMPOSITION OF CLIMBS OF VEGETABLE TYPESIN KON CHU RANG NATURE RESERVE AND THE SURROUNDING AREA
Bài viết

Các trích dẫn

ĐẶC ĐIỂM THÀNH PHẦN LOÀI DÂY LEO TẠI CÁC KIỂU THẢM THỰC VẬT KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN KON CHƯ RĂNG VÀ PHỤ CẬN. (2025). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, 8, 93-100. https://doi.org/10.71254/1scrx517
Lượt xem
405
Lượt tải
0