Số 21 (2022)

					Xem Số 21 (2022)
Đã Xuất bản: 15-11-2022

Bài viết

  • TIỀM NĂNG CỦA VI KHUẨN QUANG DƯỠNG KHÔNG LƯU HUỲNH MÀU TÍA KHÁNG CADMIUM ĐẾN SỰ NẢY MẦM VÀ SINH TRƯỞNG CÂY LÚA TRONG ĐIỀU KIỆN NHIỄM Cd

    Abstract : 1 PDF: 1
    Lý Ngọc Thanh Xuân, Nguyễn Huỳnh Minh Anh, Phan Chấn Hiệp, Nguyễn Ngọc Toàn, Nguyễn Thanh Ngân, Nguyễn Đức Trọng, Lê Thị Ngọc Thơ, Nguyễn Quốc Khương
    3-10

    Mục tiêu của nghiên cứu là (i) đánh giá vai trò của các dòng vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía kháng cadmium (Cd - PNSB) đến sự nảy mầm của hạt lúa, (ii) xác định vai trò của Cd - PNSB trong cải thiện sinh trưởng cây lúa trong điều kiện nhiễm Cd. Kết quả cho thấy bổ sung Cd - PNSB gồm dòng W4.3, S29, W44, W10, W29 và W17 không làm giảm tỷ lệ nảy mầm của hạt lúa. Tỷ lệ pha loãng 1 g chế phẩm vi sinh với 1.000 mL nước phù hợp để sử dụng cho ủ nảy mầm. Ngoài ra, dòng đơn vi khuẩn W4.3, S29, W29, W10 hoặc hỗn hợp vi khuẩn W4.3 và S29 hoặc hỗn hợp W29 và W10 hoặc hỗn hợp W44 và W17 bổ sung vào môi trường nhiễm Cd đã góp phần cải thiện chiều cao cây, chiều dài rễ và khối lượng khô của cây lúa so với không bổ sung vi khuẩn, lần lượt là 9,69 - 11,1 cm so với 7,88 cm, 5,25 - 6,73 cm so với 4,48 cm, 0,016 - 0,022 g/chậu so với 0,014 g/chậu ở vụ thứ 2, theo thứ tự.

    DOI: https://doi.org/10.71254/kd3pjq17
  • CHỌN TẠO GIỐNG ĐẬU XANH ĐXBĐ.07 CHO VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ VÀ TÂY NGUYÊN

    Abstract : 1 PDF: 1
    Hồ Huy Cường, Mạc Khánh Trang, Trương Thị Thuận, Đỗ Thị Xuân Thùy, Đường Minh Mạnh, Phan Trần Việt
    11-19

    Để góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng và nâng cao giá trị gia tăng trên đơn vị đất canh tác ở vùng duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, Viện KHKT Nông nghiệp duyên hải Nam Trung bộ chọn tạo các giống đậu xanh theo hướng ngắn ngày, chín tập trung, kháng bệnh khảm vàng và năng suất cao. Bằng phương pháp chọn lọc phả hệ, kết quả đã chọn được giống đậu xanh ĐXBĐ.07 (là con lai của giống đậu xanh NM94 và KPS2). Năng suất giống đậu xanh ĐXBĐ.07 trên đất phù sa chủ động nước tưới ở vùng duyên hải Nam Trung bộ từ 2,09 - 2,51 tấn/ha, trên đất bazan không chủ động nước tưới ở vùng Tây Nguyên là 1,58 - 1,62 tấn/ha. Giống đậu xanh ĐXBĐ.07 có kiểu hình sinh trưởng hữu hạn, thân mầm có sắc tố anthocyanin ở mức trung bình, dạng cây đứng đến nửa đứng, dạng lá chét hình trứng nhọn, quả khô có màu nâu trung bình, hạt màu xanh vàng khi chín, dạng hạt hình trụ, vỏ hạt sáng bóng, chiều dài quả đạt từ 11,3 - 11,5 cm, số hạt/quả từ 12,1 - 12,8 hạt, khối lượng 1.000 hạt từ 65,2 - 69,6 gam và không nhiễm bệnh khảm vàng - MYMD (điểm 1), có dạng chùm quả vươn trên tán lá và khả năng chín tập trung cao với năng suất thực thu đợt 1 đạt trên 65%, thuận lợi cho việc cơ giới hóa khâu thu hoạch. Giống đậu xanh ĐXBĐ.07 thích hợp để sản xuất trên chân đất phù sa chủ động nước tưới ở vùng duyên hải Nam Trung bộ và đất đỏ bazan không chủ động nước tưới ở vùng Tây Nguyên.

    DOI: https://doi.org/10.71254/1xyw0158
  • NGHIÊN CỨU, TUYỂN CHỌN GIỐNG KHOAI LANG ĂN LÁ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CHO SẢN XUẤT TẠI THỪA THIÊN - HUẾ

    Abstract : 1 PDF: 0
    Trịnh Thị Sen, Phan Thị Phương Nhi, Trần Thị Hương Sen, Trần Văn Tý
    20-28

    Mục đích của nghiên cứu là xác định được giống có năng suất và tỷ lệ thương phẩm cao, chất lượng tốt nhằm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất khoai lang ăn lá. Thí nghiệm được tiến hành trên 6 giống khoai lang ăn lá, được bố trí theo phương pháp khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD), 3 lần nhắc lại, trong vụ hè thu 2019 và vụ đông 2019 tại Trung tâm Nghiên cứu và Dịch vụ nông nghiệp, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế, thuộc phường Tứ Hạ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Các chỉ tiêu nghiên cứu thực hiện theo Quy chuẩn về khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống khoai lang (2011) của Bộ Nông nghiệp và PTNT. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 2 giống VĐ1 và KLR3 có thời gian sinh trưởng phù hợp, đạt năng suất và tỷ lệ thương phẩm cao, chất lượng tốt. Năng suất đạt lần lượt của 2 giống qua 2 vụ trồng là VĐ1 (12,0 và 23,1 tấn/ha) và KLR3 (11,2 và 25,9 tấn/ha). Hai giống này đều có tỷ lệ thương phẩm đạt ≥ 55%, các chỉ tiêu chất lượng ăn nếm tốt (mùi vị thơm ngon, ngọt, giòn, không chát, rau có màu xanh sau luộc), hàm lượng các chất dinh dưỡng protein, vitamin C, đường tổng số, pholyphenol cao và hàm lượng tanin thấp. Nghiên cứu đã đề xuất chọn giống VĐ1 và KLR3 đưa vào sản xuất trên diện rộng tại các vùng trồng khoai lang ăn lá ở tỉnh Thừa Thiên - Huế.

    DOI: https://doi.org/10.71254/d8pem427
  • KẾT QUẢ NHÂN GIỐNG CÂY ĐINH MẬT TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

    Abstract : 1 PDF: 1
    Dương Văn Thảo, Vũ Văn Thông
    29-36

    Đinh mật là cây gỗ lớn, mọc khá nhanh, gỗ cứng, vân thớ đẹp, mịn, rất được ưa chuộng làm đồ mộc cao cấp. Tuy nhiên, loài cây này bị khai thác tận diệt và có nguy cơ tuyệt chủng, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện chỉ còn hơn 100 cá thể. Do đó rất cần nghiên cứu nhân giống phục vụ bảo tồn và phát triển nguồn gen loài cây quý hiếm này. Nghiên cứu này trình bày một số kết quả nghiên cứu nhân giống từ hạt và giâm hom cho cây Đinh mật. Kết quả cho thấy xử lý hạt Đinh mật bằng cách ngâm trong nước ấm (600C) trong 8 giờ đạt hiệu quả cao nhất, tỷ lệ nảy mầm đạt 82%. Giá thể gieo ươm gồm 15% phân chuồng + 2% NPK + 83% đất tầng B có tỷ lệ cây sống cao nhất, khả năng sinh trưởng đường kính, chiều cao và cho tỷ lệ xuất vườn cao nhất, đạt 81,75%. Sử dụng chất kích thích sinh trưởng IBA, nồng độ 1,5 % để giâm hom Đinh mật cho tỷ lệ hom ra rễ cao nhất (74,6%), số rễ nhiều nhất (4,7 rễ/hom) và chiều dài rễ trung bình lớn nhất (4,5 cm). Sử dụng hom bánh tẻ làm vật liệu giâm hom cho hiệu quả tốt nhất. Thời vụ giâm hom tốt nhất là vào mùa xuân và mùa thu. Kết quả nghiên cứu này sẽ là cơ sở để xây dựng quy trình nhân giống cây Đinh mật bằng phương pháp gieo hạt và giâm hom.

    DOI: https://doi.org/10.71254/x5w15k25
  • NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC TỪ TINH DẦU BẠCH ĐÀN (Eucalyptus camaldulensis Dehnh.) TRỒNG Ở HÀ NỘI, VIỆT NAM

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Phương Hạnh, Trần Huy Thái, Nguyễn Quang Hưng, Chu Thị Thu Hà, Nguyễn Sinh Khang, Nguyễn Đức Thịnh, Nguyễn Thị Hiền
    37-42

    Bạch đàn (Eucalyptus camaldulensis Dehnh.) là cây gỗ thuộc chi Bạch đàn (Eucalyptus), họ Sim (Myrtaceae) được trồng ở nhiều nơi để lấy gỗ. Trong nghiên cứu này, tinh dầu từ lá Bạch đàn được tách chiết bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước và thành phần hóa học các chất được phân tích bằng phương pháp sắc ký khí - khối phổ (GC-MS). Hàm lượng tinh dầu thu được đạt 1,7% (tính theo nguyên liệu khô). Thành phần hóa học gồm có 33 hợp chất đã được xác định, chiếm 100% tổng số tinh dầu, trong đó, eucalyptol (30,097%), globulol (10,359%), cyclofenchene (10,368%), β-pinene (7,917%), aromandendrene (6,21%) và spatulenol (5,968%) là các thành phần chính trong tinh dầu lá Bạch đàn; các thành phần còn lại chiếm tỷ lệ thấp, dao động từ 0,354 - 3,569%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/5x2t7650
  • ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ PHỐI TRỘN ĐẤT VỚI CƠ CHẤT HỮU CƠ VÀ PHÂN BÓN ĐẾN CHẤT LƯỢNG GIÁ THỂ VÀ SINH TRƯỞNG CỦA MẠ

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Đức Dũng, Hoàng Ngọc Thuận, Trần Minh Tiến, Lã Tuấn Anh, Nguyễn Minh Quang, Nguyễn Thế Hậu
    43-50

    Mục tiêu nghiên cứu là xác định được tỷ lệ phối trộn giữa các cơ chất hữu cơ (nguyên liệu hữu cơ) phù hợp với từng loại đất, đồng thời xác định được lượng phân khoáng (N, P, K) đảm bảo sinh trưởng, phát triển của lúa trong giai đoạn mạ khay. Nghiên cứu được thực hiện trong điều kiện nhà lưới, 3 loại đất khác nhau (đất phù sa, đất đồi đỏ nâu, đất đồi đỏ vàng) được phối trộn với các nguyên liệu hữu cơ sẵn có (mùn cưa, trấu hun, phân hữu cơ hoai mục). Kết quả cho thấy, đối với đất phù sa, tỷ lệ đất phối trộn phù hợp là 4: 1 hoặc 3: 2 với mùn cưa, 4: 1 với trấu hun, 4: 1 với hữu cơ hoai mục; đối với đất đỏ nâu, tỷ lệ đất phối trộn tốt nhất là 4:1 với mùn cưa, 4: 1 và 3: 2 với trấu hun; đối với đất đỏ vàng, tỷ lệ đất phối trộn phù hợp là 4: 1 và 3: 2 với mùn cưa, 4: 1 và 3: 2 với trấu hun, 4: 1 với hữu cơ hoai mục. Trong đó, mùn cưa là nguyên liệu cơ chất hữu cơ phù hợp nhất để tạo giá thể mạ khay với cả 3 loại đất phù sa, đỏ nâu và đỏ vàng. Lượng phân khoáng bổ sung phù hợp với đất phù sa và đất đỏ vàng là 0,35 kg N + 1,32 kg P2O5 + 0,45 kg K2O/1 m3 giá thể; với đất đỏ nâu là 0,35 - 0,46 kg N + 1,32 - 1,98 kg P2O5 + 0,45 - 0,60 kg K2O/1 m3 giá thể.

    DOI: https://doi.org/10.71254/0mv36716
  • TRIỆU CHỨNG VÀ NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH TUA MỰC HẠI CÂY QUẾ (Cinnamomum cassia) Ở VÙNG NAM TRUNG BỘ

    Abstract : 1 PDF: 0
    Đào Ngọc Quang, Đặng Như Quỳnh, Nguyễn Mạnh Hà, Phạm Quang Thu, Đinh Văn Thọ, Nguyễn Minh Chí
    51-59

    Quế là loài cây đặc sản có giá trị kinh tế cao và được gây trồng phổ biến ở Việt Nam. Tuy nhiên, bệnh tua mực hại cây Quế đã phát sinh, gây hại phổ biến tại vùng Nam Trung bộ. Nghiên cứu này nhằm xác định triệu chứng và nguyên nhân gây bệnh tua mực trên cây Quế ở tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. Triệu chứng điển hình của cây Quế bị bệnh tua mực là trên thân, cành, cuống lá và gân lá xuất hiện các u bướu sần sùi, sau đó mọc ra các tua dài hoặc phát triển những cụm chồi mọc bất thường. Một số trường hợp xuất hiện cả tua mực và cụm chồi mọc bất thường trên cùng một cây, thậm chí trên cùng một vị trí. Cây bị bệnh thường còi cọc, chậm phát triển, nếu bệnh nặng cây có thể bị chết. Kết quả gây bệnh nhân tạo bằng các mẫu cây đã được xác định có phytoplasma đều thể hiện tính gây bệnh trung bình đến rất mạnh trên cây Quế ở giai đoạn 1 năm tuổi. Kỹ thuật nested - PCR với cặp mồi P1/P7 và R16F2n/R16R2 đã xác định Cinnamomum cassia witches' broom phytoplasma là nguyên nhân gây bệnh tua mực trên cây Quế. Cần tiếp tục nghiên cứu các giải pháp quản lý hiệu quả bệnh tua mực để góp phần bảo tồn và phát triển thành công cây Quế ở tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi.

    DOI: https://doi.org/10.71254/6ryz5a58
  • ỨNG DỤNG SÓNG SIÊU ÂM ĐỂ NÂNG CAO HIỆU SUẤT QUÁ TRÌNH THỦY PHÂN CƠ CHẤT TRONG SẢN XUẤT ETHANOL TỪ GẠO

    Abstract : 1 PDF: 1
    Đinh Hữu Đông, Huỳnh Thái Nguyên
    60-65

    Trong những năm gần đây, sóng siêu âm đã được quan tâm và ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như công nghệ sinh học, hóa học và công nghệ thực phẩm. Trong nghiên cứu này, sóng siêu âm được sử dụng để xử lý huyền phù bột gạo trong quá trình lên men để sản xuất ethanol từ gạo. Hỗn hợp huyền phù bột gạo được xử lý siêu âm trong khoảng thời gian từ 30 -150 giây với ba mức công suất khác nhau gồm 150 w, 225 w, 300 w. Hiệu quả của quá trình thuỷ phân cơ chất được đánh giá thông qua hai hàm mục tiêu là hiệu suất thuỷ phân tinh bột gạo và hàm lượng nitơ amin tự do (FAN) có trong dịch thủy phân tinh bột. Xử lý siêu âm trong thời gian 120 giây với công suất 300 w trước khi hồ hoá, dịch hoá làm tăng hiệu suất thuỷ phân tinh bột gạo đến 16% và 10,2% hàm lượng FAN so với mẫu đối chứng (không xử lý siêu âm). Như vậy, kết hợp xử lý siêu âm làm tăng đáng kể hiệu quả cho quá trình dịch hóa, từ đó có thể cải thiện hiệu suất lên men và giảm chi phí sản xuất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zby0a164
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ PULLULAN THU NHẬN TỪ CHỦNG NẤM Aureobasidium pullulans M01 ĐẾN KHẢ NĂNG BẢO QUẢN QUẢ XOÀI CÁT CHU

    Abstract : 1 PDF: 1
    Bùi Thị Hải Hòa, Trịnh Thị Thu Hằng, Nguyễn Ngọc Huyền
    66-74

    Trong nghiên cứu này, đã sử dụng pulllan thu nhận được từ chủng nấm Aureobasidium pullulans M01 để nghiên cứu đánh giá khả năng bảo quản xoài. Kết quả cho thấy, sử dụng chế phẩm pullulan 8%, kết hợp với bao gói PE - T cho bảo quản xoài ở nhiệt độ thường (28 - 300C) có thể gia tăng thời gian bảo quản lên đến 13 ngày, kéo dài hơn 8 ngày so với mẫu đối chứng. Sử dụng chế phẩm pullulan kết hợp với bao gói PE - L cho bảo quản xoài ở nhiệt độ lạnh (12 - 130C) có thể  gia tăng thời gian bảo quản xoài lên 25 ngày, kéo dài hơn 12 ngày so với mẫu đối chứng. Tỷ lệ thối hỏng khi bảo quản xoài ở nồng độ pullulan 8% và 12% ở nhiệt độ thường và nhiệt độ lạnh sau 13 ngày và 25 ngày ở mức 8,33%, nhỏ hơn 10% và đạt yêu cầu bảo quản. Xoài vẫn giữ được màu sắc của vỏ quả sau 13 và 25 ngày bảo quản ở nhiệt độ thường và nhiệt độ lạnh, biến đổi về độ cứng cũng như trạng thái, kết cấu của quả đạt mức thấp nhất. Chất lượng quả xoài sau bảo quản vẫn đảm bảo giá trị dinh dưỡng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/yr6nnv06
  • XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ TỐI ƯU CỦA QUÁ TRÌNH LÊN MEN GIẤM VANG XƠ MÍT (Artocarpus heterophyllus)

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Thị Như Ngọc, Nguyễn Kim Nguyên, Huỳnh Ngọc Thanh Tâm
    75-81

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm tối ưu hóa các thông số cho quá trình lên men axit acetic từ xơ mít có bổ sung vi khuẩn Acetobacter sp. Các thông số cho quá trình lên men bao gồm nồng độ ethanol (5-9% v/v), hàm lượng đường (25-75 g/L) và mật độ vi khuẩn (103-107 tế bào/mL) trong dịch lên men được tối ưu bằng phương pháp bố trí thí nghiệm theo mô hình Box–Behnken. Bổ sung hàm lượng nitrogen thích hợp cho quá trình lên men với nồng độ chất dinh dưỡng DAP (0-1-2-3 g/L). Giấm vang sau khi lên men được thanh trùng với sự thay đổi nhiệt độ (60-65-700C), thời gian giữ nhiệt là 2, 4, 6 phút. Các điều kiện lên men tối ưu cho hàm lượng axit acetic cao đạt nhất (4,12%) được xác định với nồng độ ethanol 5,08%, hàm lượng đường 49,55 g/L, mật độ vi khuẩn 1,5x106 tế bào/mL. Hàm lượng nitrogen cần bổ sung để nâng cao chất lượng là 3 g/L DAP sẽ cho hàm lượng axit acetic cao hơn so với dịch lên men không bổ sung chất dinh dưỡng. Giấm vang xơ mít được thanh trùng ở nhiêt độ 600C và thời gian giữ nhiệt 2 phút đã loại bỏ hoàn toàn vi sinh vật và nấm men mốc, thời gian duy trì chất lượng giấm vang trên 196 ngày.

    DOI: https://doi.org/10.71254/n019tf62
  • HIỆU QUẢ CỦA VIỆC TƯỚI TIẾT KIỆM NƯỚC NGẦM ĐẾN NĂNG SUẤT CÂY HÀNH TÍM Ở HUYỆN VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Văn Tuyến, Nguyễn Văn Quý, Hồng Minh Hoàng, Đặng Kiều Nhân
    82-88

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá khả năng tiết kiệm nước ngầm để tưới cho cây hành tím nhưng vẫn đảm bảo được năng suất, đồng thời giúp tăng hiệu quả sử dụng nước tưới tại vùng ven biển huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng từ tháng 3/2021 đến 3/2022. Trong nghiên cứu này, mô hình Aquacrop (phiên bản 6.1+) được sử dụng để mô phỏng nhu cầu tưới cho cây hành tím, sau đó tính toán lượng nước tưới cho từng mô hình trong thí nghiệm. Thí nghiệm đồng ruộng được bố trí để xác định lượng nước tưới và năng suất cây hành tím. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc giảm lượng nước tưới đem lại hiệu quả sử dụng nước, nhưng vẫn đảm bảo năng suất và đạt tương ứng là 1.658 kg/1.000 m2/vụ (ở vụ hành sớm). Kết quả lượng nước tiết kiệm trong vụ hành sớm là 125 m3/1.000 m2/vụ. Khi áp dụng các biện pháp canh tác tiết kiệm nước góp phần đối phó với tình trạng khan hiếm nước ngọt vào mùa khô, đặc biệt là các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL.

    DOI: https://doi.org/10.71254/h608fd33
  • ẢNH HƯỞNG CỦA XẠ KHUẨN (Streptomyces sampsonii) LÊN KHẢ NĂNG KHÁNG VI KHUẨN VIBRIO VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU MIỄN DỊCH CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei)

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Thị Huế Linh, Nguyễn Thị Xuân Hồng, Nguyễn Đức Quỳnh Anh, Nguyễn Nam Quang, Nguyễn Ngọc Phước TÓM TẮT
    89-95

    Nghiên cứu này bước đầu đánh giá ảnh hưởng của xạ khuẩn (Streptomyces sampsonii) lên khả năng kháng vi khuẩn Vibrio và một số chỉ tiêu miễn dịch của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei). Tôm thí nghiệm (trọng lượng 2 ± 0,3 g/con) được cho ăn thức ăn công nghiệp có hoặc không bổ sung xạ khuẩn với hàm lượng lần lượt là 106, 107 và 108 CFU/g thức ăn. Sau 14 ngày thử nghiệm cho ăn, máu tôm được thu để phân tích các chỉ tiêu miễn dịch và tôm thí nghiệm được cảm nhiễm với vi khuẩn Vibrio parahaemolyticusV. harveyi. Kết quả sau khi cảm nhiễm với 2 chủng Vibrio gây bệnh, tỷ lệ chết cộng dồn của tôm sau 14 ngày cảm nhiễm ở các nghiệm thức thí nghiệm (20 - 24,4%) thấp hơn so với tôm ở nghiệm thức đối chứng (55,6 - 57,8%). Tổng số tế bào máu và hoạt tính của enzyme phenoloxidase của tôm cho ăn thức ăn chứa xạ khuẩn cao hơn (p<0,05) so với tôm ở nghiệm thức đối chứng, trong đó tôm thí nghiệm với chế độ ăn có chứa hàm lượng xạ khuẩn 108 CFU/g thức ăn được ghi nhận có hiệu quả tốt hơn so với tôm ở các nghiệm thức khác. Tuy nhiên, hoạt tính enzyme lysozyme của tôm không khác nhau ở các nghiệm thức thí nghiệm và đối chứng (p>0,05). Những kết quả đạt được trong nghiên cứu này bước đầu cho thấy chế phẩm sinh học chứa xạ khuẩn S. sampsonii có thể giúp tôm nuôi kháng lại vi khuẩn gây bệnh và đã làm tăng hoạt động miễn dịch của tôm thẻ chân trắng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ffk05y83
  • NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT DANH MỤC CÁC LOÀI HẢI SẢN NGUY CẤP Ở VÙNG BIỂN VEN BỜ VÀ VÙNG LỘNG TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

    Abstract : 1 PDF: 1
    Phạm Quốc Huy, Nguyễn Văn Giang, Nguyễn Phước Triệu
    96-104

    Từ kết quả thu thập dữ liệu về nghề cá ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tại các cảng cá, bến cá năm 2020-2021, cho thấy số lượng nghề tham gia khai thác hải sản ở vùng biển ven bờ và vùng lộng có 10 nhóm nghề khai thác hải sản bao gồm: Lưới kéo đáy cá, lưới kéo đáy tôm, lưới kéo ruốc, lưới rê đáy, lưới rê nổi, lưới vây, nghề câu, nghề lồng bẫy, nghề đăng, đáy và nghề khác. Số lượng loài bắt gặp trong tất cả các nghề là 432 loài thuộc 236 giống, 107 họ. So sánh, đối chiếu với danh mục các loài nguy cấp của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 2021), Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2017) và Sách Đỏ Việt Nam cho thấy, có 16 loài là đối tượng nguy cấp (trong đó 11 loài theo tiêu chí của IUCN (2021) và CITES (2021); 5 loài theo tiêu chí của Sách Đỏ Việt Nam (2007), từ mức gần bị đe dọa (NT) đến mức nguy cấp (EN). Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng đề xuất bổ sung 71 loài hải sản vào nhóm nguy cấp cần được bảo vệ ở vùng biển ven bờ và vùng lộng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, từ mức gần bị đe dọa (NT) đến mức rất nguy cấp (CR) theo tiêu chí của IUCN (2021) và Sách Đỏ Việt Nam (2007). Đây là cơ sở khoa học và thực tiễn, phục vụ cho công tác quản lý, quy hoạch và phát triển kinh tế thủy sản của tỉnh đạt hiệu quả cao và bền vững.

    DOI: https://doi.org/10.71254/9wdx2n53
  • TÍNH ĐA DẠNG VÀ HIỆN TRẠNG BẢO TỒN CÁC LOÀI THỰC VẬT HỌ HỒ ĐÀO (Juglandaceae) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN XUÂN NHA, TỈNH SƠN LA

    Abstract : 2 PDF: 1
    Hoàng Văn Sâm, Nguyễn Văn Nam, Trịnh Văn Thành, Dương Thị Bích Ngọc, Nguyễn Thế Hưởng, Nguyễn Văn Lý, Phùng Thị Tuyến
    105-110

    Thực vật họ Hồ đào (Juglandaceae) tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Xuân Nha, tỉnh Sơn La khá đa dạng về thành phần loài với 5 loài, thuộc 4 chi được ghi nhận, chiếm 45,5% tổng số loài, 57,1% tổng số chi thuộc họ Hồ đào tại Việt Nam, trong đó Hóa hương (Platycarya strobilacea Sielbold & Zuccarini) là loài mới được ghi nhận cho hệ thực vật Xuân Nha. Thực vật họ Hồ đào tại khu vực nghiên cứu có giá trị bảo tồn cao với 3 loài được ghi nhận trong Danh lục Đỏ IUCN (2021), 2 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (2007). Thực vật họ Hồ đào tại khu vực nghiên cứu chủ yếu phân bố ở độ cao dưới 700 m so với mực nước biển với 5 loài được ghi nhận. Trong đó Hóa hương (Platycarya strobilacea Sielbold & Zuccarini) và Mạy châu (Carya tonkinensis Lecomte) có biên độ cao lớn phân bố cả 3 đai cao tại khu vực nghiên cứu. Nghiên cứu đã đánh giá đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái và phân bố của 5 loài thuộc họ Hồ đào tại Khu BTTN Xuân Nha. Trong 5 loài thì Chẹo tía (Alfaroa roxburghiana (Lindl. ex Wall.) Iljinsk) và Cơi (Pteracarya tonkinensis Dode) còn gặp khá nhiều và có tái sinh tự nhiên tốt. Trong khi đó, Chò đãi (Carya sinensis Dode), Hóa hương (Platycarya strobilacea Sielbold & Zuccarini) và Mạy châu (Carya tonkinensis Lecomte) số lượng gặp ngoài tự nhiên còn ít, đặc biệt là Hóa hương chưa được ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) cũng như Danh lục Đỏ của IUCN (2021) nhưng số lượng loài gặp tự nhiên còn rất ít. Vì vậy, cần có chương trình nghiên cứu nhân giống và bảo tồn các loài thực vật thuộc họ Hồ đào tại Khu BTTN Xuân Nha, trong đó chú ý ưu tiên các loài Chò đãi, Hóa hương và Mạy châu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/n52p7x90
  • CƠ SỞ KHOA HỌC PHÂN CHIA NHÓM DẠNG LẬP ĐỊA TRỒNG RỪNG PHÒNG HỘ CHẮN GIÓ, CHẮN CÁT BAY VEN BIỂN CÁC TỈNH HÀ TĨNH, QUẢNG BÌNH VÀ QUẢNG TRỊ

    Abstract : 1 PDF: 1
    Lê Đức Thắng
    111-120

    Diện tích đất cát và cồn cát ven biển tại các huyện ven biển 3 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị đã và đang bị hoang mạc hóa, sa mạc hóa. Trong công tác trồng rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay vùng ven biển thường gặp nhiều khó khăn về lập địa trồng rừng; tỷ lệ thành rừng thấp, chưa đảm bảo được khả năng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay ven biển. Kết quả nghiên cứu cho thấy, với 20 chỉ tiêu của 5 tiêu chí: (i) địa hình, địa mạo; (ii) loại đất cát; (iii) độ cao tuyệt đối; (iv) khả năng thoát, giữ nước của đất cát; (v) thảm thực bì chỉ thị vùng đất cát ven biển được phân chia thành 4 nhóm dạng lập địa, với 38 dạng lập địa chủ yếu, trong đó, nhóm dạng lập địa III được chia thành 4 nhóm dạng phụ (III1, III2, III3 và III4) và các nhóm dạng lập địa I, II và IV không có nhóm dạng phụ. Đây là cơ sở để các địa phương quy hoạch, kế hoạch xây dựng và phát triển bền vững hệ thống đai rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay ven biển bằng các loài cây trồng rừng và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ phù hợp và hiệu quả trên các nhóm dạng lập địa đã phân chia.

    DOI: https://doi.org/10.71254/j1730177