Số 14 (2022)

					Xem Số 14 (2022)
Đã Xuất bản: 30-07-2022

Bài viết

  • ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG AMYLOSE VÀ MÙI THƠM CỦA 14 GIỐNG LÚA NẾP (Oryza glutinosa) Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THÔNG QUA PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HÓA LÝ VÀ CHỈ THỊ PHÂN TỬ ADN

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Kim Khánh, Nguyễn Khiết Tâm, Trương Trọng Ngôn
    3-11

    Gạo nếp từ lâu được coi là đặc sản của nhiều vùng miền và được sử dụng cho đời sống văn hóa tín ngưỡng của con người. Để chọn nguồn vật liệu lai tạo các giống lúa nếp mới, 14 giống lúa nếp được sử dụng để đánh giá đặc điểm hình thái hạt, chất lượng gạo và cơm, phân tích hóa lý và phân tử. Các chỉ tiêu hóa lý được phân tích theo Tiêu chuẩn Quốc gia hiện hành, đồng thời sự hiện diện của gen thơm và gen quy định hàm lượng amylose cũng được đánh giá qua chỉ thị BADH2 và WxIn1. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 5 giống thuộc nhóm gạo hạt dài (6,61 - 7,5 mm), chiếm tỷ lệ 35,7% gồm Nếp Thơm, Nếp Thái - 2, Nếp Thái Mỡ, Nếp Bến Tre, OM10412; chín giống thuộc nhóm hạt trung bình (5,51 - 6,60 mm). Các giống trong thí nghiệm có nhiệt độ trở hồ từ cấp 2 đến cấp 6, tập trung chủ yếu ở cấp 4 và 5 (nhiệt độ hóa hồ trung bình). Hàm lượng amylose dao động trong khoảng 1,8 - 5%, xếp loại nếp. Sử dụng dung dịch KOH 1,7% đánh giá mức độ thơm của gạo lức cho thấy, có 4 giống thơm là Nếp Thơm, Nếp Bến Tre, OM10412 (thang điểm 2) và Nếp Hương (thang điểm 3), đồng thời cả 4 giống trên đều có mang gen thơm khi kiểm tra kiểu gen thơm với chỉ thị BADH2, tất cả 14 giống nếp nêu trên đều có hàm lượng amylose thấp, có kiểu gen T, ngoại trừ giống Nếp Thái Mỡ với hàm lượng amylose (5%) xuất hiện trạng thái dị hợp (T/G). Kết hợp các kết quả có thể chọn được giống Nếp Thơm, Nếp Bến Tre, OM10412, Nếp Hương là những giống lúa nếp chất lượng cao, có sự hiện diện của gen thơm và hàm lượng amylose thấp, có dạng hạt dài và trung bình. Kết quả nghiên cứu hứa hẹn góp phần chọn tạo được các giống lúa nếp mới chất lượng cao trong thời gian tới.

    DOI: https://doi.org/10.71254/d0gwfv27
  • NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG DI TRUYỀN MỘT SỐ GIỐNG ỚT ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM BẰNG CHỊ THỈ SSR

    Abstract : 1 PDF: 0
    Hoàng Thị Huệ, Lê Thị Thu Trang, Hà Minh Loan, Đàm Thị Thu Hà, Lã Tuấn Nghĩa
    12-18

    20 chỉ thị SSR đã được sử dụng để nghiên cứu đa dạng di truyền của 90 mẫu giống ớt địa phương của Việt Nam. Kết quả cho thấy, tổng số alen phát hiện tại 20 locut là 83 alen khác nhau, trung bình 4 alen/locut. Hệ số thông tin đa hình của mồi (PIC) dao động từ 0,4 đến 0,8, trung bình 0,6 và mức độ tương đồng di truyền trong khoảng từ 0,65 đến 0,94. Tại mức tương đồng di truyền 0,65, các giống ớt nghiên cứu chia làm 2 nhóm: nhóm I gồm 80 mẫu giống có mức tương đồng di truyền từ 0,74 đến 0,93; nhóm II gồm 10 mẫu giống có mức tương đồng di truyền từ 0,687 đến 0,92. Nghiên cứu đã xác định được 2 chỉ thị cho nhận dạng đặc trưng là CAMS091 và CAMS-90. Các kết quả thu được trong nghiên cứu này rất có ý nghĩa trong công tác bảo tồn và chọn tạo giống ớt ở Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/bjq4k841
  • KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG CHANH LEO QUẾ PHONG 1

    Abstract : 1 PDF: 0
    Nguyễn Văn Viết, Nguyễn Mạnh Hùng, Phạm Duy Thái, Hoàng Mạnh Hùng, Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn Đức Trung
    19-25

    Chanh leo (Passiflora edulis Sims) là cây ăn quả mới có giá trị ở Việt Nam có khả năng mở rộng trong sản xuất. Giống chanh leo Quế Phong 1 được Công ty Chanh leo Nafoods chọn tạo từ năm 2014 đến năm 2021 bằng phương pháp lai hữu tính (Đài Nông 1 x Passiflora Malaysia 2). Giống có nhiều đặc điểm nông sinh học tốt, thời gian sinh trưởng từ trồng đến thu quả chín đầu tiên 141-178 ngày (tương đương giống Đài Nông 1), chiều dài đốt cành ngắn (5,3 - 6,2 cm), nhiễm nhẹ đến trung bình sinh vật hại chính như đốm nâu, đốm dầu, nhện (cấp 0 - 3). Giống có khối lượng quả to vượt trội so với khối lượng quả giống Đài Nông 1 (132,6 - 143,0 g/quả so với 90,7 - 122,2 g/quả tương ứng), vỏ quả cứng. Năng suất thực thu giống Quế Phong 1 khá cao (37,29 - 52,9 tấn/ha/năm) cao hơn năng suất giống Đài Nông 1 (14,5 - 18,5%). Chất lượng quả giống Quế Phong 1 tương đương giống Đài Nông 1 (độ brix 16,2 - 17,2%, hàm lượng axit 2,85%), phù hợp cho cả ăn tươi và chế biến. Giống Quế Phong 1 đã được Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và PTNT cấp bằng bảo hộ giống cây trồng năm 2019 và cho công bố lưu hành năm 2021.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ecdj4s09
  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CÁC ĐỢT LỘC VÀ PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN GIỮA ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CÀNH MẸ ĐẾN NĂNG SUẤT QUẢ Ở CÂY HỒNG VIỆT CƯỜNG

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Thị Tình, Chu Huy Tưởng, Bùi Quang Đãng, Bùi Trí Thức, Đào Duy Hưng, Lã Văn Hiền, Nguyễn Hồng Sơn, Ngô Xuân Bình
    26-30

    Nghiên cứu được tiến hành trên vườn hồng Việt Cường 12 - 13 tuổi tại huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Trong 1 năm cây hồng Việt Cường ra 3 đợt cành là cành vụ xuân, vụ hè và vụ thu. Trong đó đợt cành vụ xuân và vụ thu có thời gian sinh trưởng ngắn hơn (lần lượt là 29,7 và 30,6 ngày), cành vụ xuân sinh trưởng mạnh ở 10 ngày đầu. Cành vụ thu sinh trưởng đều trong suốt thời gian từ khi mọc đến thuần thục, cành vụ hè có thời gian sinh trưởng dài nhất (39,9 ngày) và sinh trưởng mạnh ở 20 ngày đầu. Tương quan tuyến tính giữa sinh trưởng cành mẹ (đường kính, chiều dài, số lá) thể hiện không rõ ràng, trong đó tương quan tuyến tính giữa đường kính cành mẹ với năng suất ở mức không chặt chẽ (r = 0,31), các chỉ tiêu sinh trưởng khác (chiều dài, số lá) thể hiện mức tương quan không có ý nghĩa. Tương quan tuyến tính giữa tuổi cành mẹ và năng suất quả thể hiện tương quan thuận ở mức chặt chẽ (r = 0,87). Kết quả nghiên cứu là cở sở khoa học để xây dựng các biện pháp kỹ thuật thâm canh (tỉa cành tạo tán, dinh dưỡng...) trên giống hồng Việt Cường.

    DOI: https://doi.org/10.71254/sw6c0w77
  • KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG CHUỐI TÂY TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI

    Abstract : 1 PDF: 0
    Nguyễn Quốc Hùng, Đinh Thị Vân Lan, Võ Văn Thắng, Ngô Xuân Phong
    31-37

    Nghiên cứu được triển khai nhằm xác định được các giống chuối tây đạt năng suất cao trên 35 tấn/ha, ít bị nhiễm bệnh héo vàng do nấm Fusarium oxysporium f.sp Cubense gây hại, phù hợp với điều kiện sinh thái của các tỉnh phía Bắc để bổ sung vào cơ cấu giống phục vụ sản xuất. Thí nghiệm được triển khai trong thời gian 2018 - 2020, với 5 giống chuối: tây Hưng Yên, tây Thái Lan, tây Phấn vàng, Xiêm trắng và Xiêm đen, được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ, 30 cây/1 giống và nhắc lại 3 lần. Kết quả nghiên cứu thu được cho thấy, các giống chuối tây trồng thí nghiệm đều có khả năng sinh trưởng khỏe, chất lượng quả tương đương nhau, thích ứng tốt với điều kiện sinh thái vùng Gia Lâm - Hà Nội. Trong đó, các giống chuối: tây Thái Lan, tây Phấn vàng có năng suất thực thu đạt được tương tự nhau và cao nhất trong các giống chuối trồng thí nghiệm với 36,4 - 38,7 tấn/ha ở vụ 1 và 28,7 - 31,2 tấn/ha ở vụ 2. Giống chuối tây Hưng Yên có năng suất thực thu đạt được thấp nhất với 21,8 tấn/ha ở vụ 1 và 12,7 tấn/ha ở vụ 2. Các giống chuối: tây Thái Lan và tây Phấn vàng có tỷ lệ cây bị nhiễm bệnh thấp hơn so với các giống chuối tây khác trồng thí nghiệm với tỷ lệ cây bị nhiễm bệnh tương ứng là 6,5%, 8% ở vụ 1 và 18,2%, 24,1% ở vụ 2. Giống chuối tây Hưng Yên có tỷ lệ số cây bị nhiễm bệnh cao nhất với 45,8% ở vụ 1 và 65,8% ở vụ 2.

    DOI: https://doi.org/10.71254/sg2baw55
  • ẢNH HƯỞNG CỦA NƯỚC NHIỄM MẶN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA HAI GIỐNG CẢI XANH TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Thị Ngọc Diệu, Nguyễn Thị Hải Yến, Trần Thị Khánh Ly, Nguyễn Quốc Anh, Trần Thị Đào, Nguyễn Ngọc Yến Vy, Trương Thảo Vy, Nguyễn Hoàng Nguyên, Nguyễn Châu Thanh Tùng, Nguyễn Quốc Khương, Ngô Thụy Diễm Trang
    38-46

    Nghiên cứu được thực hiện trong nhà lưới nhằm xác định khả năng sinh trưởng và năng suất của hai giống cải xanh mỡ 06 (CX06) và cải bẹ xanh Thái Lan (CXTL) trong điều kiện tưới mặn 0, 2, 4‰. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với ba lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ mặn 2-4‰ trong nước tưới sau thời gian tưới mặn liên tục 14 ngày (với tổng lượng nước tưới mặn là 1,93 L/chậu đất 6 kg) chưa ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất của 2 giống cải. Khối lượng tươi thân lá (36,9 - 45,2 g/cây) và khối lượng khô thân lá (2,7 - 3,6 g/cây) của 2 giống cải xanh sau khi kết thúc tưới mặn 14 ngày không có sự khác biệt giữa các mức tưới mặn 0, 2, 4‰, là bộ phận thu hoạch cho giá trị kinh tế. Hai giống cải xanh được đánh giá là chịu mặn khá trong điều kiện EC trong nước tưới là 3,55 - 7,23 mS/cm (độ mặn 2-4‰). Khi tưới mặn ở nồng độ 4‰ đã gây nhiễm mặn cho đất ở tất cả các nghiệm thức (ECe=4,25 - 4,89 mS/cm), do đó, để tiếp tục trồng vụ sau cần phải rửa mặn cho đất hoặc phải sử dụng những loài cây có khả năng chịu mặn trong nước từ 4‰ trở lên, hoặc trong đất từ 4 mS/cm trở lên.

    DOI: https://doi.org/10.71254/4q00dw25
  • NGHIÊN CỨU LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN N, P, K TÍCH HỢP CHO GIỐNG LÚA KBL2 TRONG VỤ XUÂN VÀ HÈ THU NĂM 2020 TẠI TỈNH THANH HÓA

    Abstract : 0 PDF: 0
    Tống Văn Giang , Nguyễn Quang Tin
    47-53

    Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định liều lượng phân bón N, P, K phù hợp cho giống lúa KBL2 trồng tại tỉnh Thanh Hóa. Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ gồm 4 công thức và 3 lần nhắc lại tại 3 điểm trong 2 vụ: xuân và hè thu năm 2020. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trên nền 1 tấn phân HCVS Tiến Nông + 400 kg vôi bột/ha mức phân bón cao nhất trong vụ xuân 110 kg N + 90 P2O5 + 100kg K2O/ha, ở vụ hè thu 100 kg N + 80 P2O5 +90 kg K2O/ha luôn cho các chỉ tiêu sinh trưởng lớn nhất. Trong vụ xuân, thời gian sinh trưởng 132 – 133 ngày, chiều cao cây 103,8 – 107,3 cm, số nhánh hữu hiệu 5,9 – 6,1 nhánh/khóm. Đối với vụ hè thu, thời gian sinh trưởng 110-118 ngày, chiều cao cây 110,7 – 117,8 cm, số nhánh hữu hiệu 5,5 – 5,8 nhánh/khóm. Trên nền 1 tấn phân HCVS Tiến Nông + 400 kg vôi bột/ha năng suất thực thu và hiệu quả kinh tế của vụ xuân ở 2 mức bón: 100 kg N + 80 P2O5 + 90 kg K2O/ha và 110 kg N + 90 P2O5 +100 kg K2O/ha cho năng suất thực thu 6,32 – 7,00 tấn/ha và lãi thuần 12,022 – 17,366 triệu đồng/ha, MBCR >2 lần. Đối với vụ hè thu mức bón 90 kg N + 70 P2O5 + 80 kg K2O/ha cho năng suất thực thu 5,90 – 6,30 tấn/ha và lãi thuần 9,666 – 12,466 triệu đồng/ha, MBCR >2 lần. Mức bón phân trên cho giống lúa KBL2 trong cả 2 vụ (xuân và hè thu) được nông dân có thể áp dụng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/dyhemr77
  • ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÁC LOẠI DỊCH CHIẾT THẢO DƯỢC TRONG VIỆC NÂNG CAO KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU CỦA TÔM CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) VỚI VI KHUẨN Vibrio parahaemolyticus

    Abstract : 1 PDF: 1
    Lê Nguyễn Thiên Phúc, Nguyễn Minh Thành
    54-60

    Nghiên cứu đánh giá hiệu quả 3 loại dịch chiết thảo dược: trầu không (Piper betle); rau má (Centella asiatica) và tỏi (Allium sativum) phối trộn vào chế độ ăn hoặc bổ sung trực tiếp vào môi trường nuôi trong cải thiện tỷ lệ sống và ức chế mật độ Vibio spp. khi cảm nhiễm tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) với vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus. Ở thí nghiệm 1, tôm hậu ấu trùng (PL12) ở mỗi bể thí nghiệm được nuôi chuẩn bị bằng thức ăn phối trộn thảo dược tương ứng trong 30 ngày. Sau đó, tôm được cảm nhiễm với V. parahaemolyticus và tiếp tục nuôi thêm 15 ngày theo 3 nghiệm thức thức ăn có thảo dược (trầu không, rau má hoặc tỏi). Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Đối chứng dùng thức ăn không có thảo dược. Ở thí nghiệm 2, PL12 được nuôi chuẩn bị bằng thức ăn không trộn thảo dược trong 30 ngày và được cảm nhiễm với V. parahaemolyticus. Sau 24 giờ, các loại dịch chiết thảo dược được cho trực tiếp vào môi trường nuôi cũng theo 3 nghiệm thức và đối chứng không được bổ sung thảo dược. Tôm của tất cả các bể của thí nghiệm 2 tiếp tục được nuôi bằng thức ăn thông thường trong 15 ngày. Cả 2 thí nghiệm đều giúp nâng cao tỷ lệ sống và kiềm chế mật độ Vibrio spp. trong tôm một cách có ý nghĩa thống kê so với đối chứng (P < 0,05). Trong đó, thí nghiệm thảo dược bổ sung trong chế độ ăn cho kết quả nâng cao tỷ lệ sống và giảm mật độ Vibrio spp. (P < 0,05) so với thí nghiệm thảo dược bổ sung trực tiếp vào môi trường nuôi. Nghiên cứu cho thấy tiềm năng sử dụng thảo dược, đặc biệt trong chế độ ăn, trong cải thiện khả năng chống chịu của tôm chân trắng với V. parahaemolyticus.

    DOI: https://doi.org/10.71254/d4rf2v55
  • NGHIÊN CỨU TÁCH CHIẾT COLLAGEN THỦY PHÂN TỪ DA CÁ LÓC (Channa striata) BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỦY PHÂN ENZYME ALCALASE

    Abstract : 2 PDF: 0
    Nguyễn Văn Thành, Lê Thị Minh Thủy
    61-68

    Nghiên cứu tách chiết collagen thủy phân từ da cá lóc được thực hiện thông qua các bước: loại lipid của da cá lóc, trích ly gelatin và sử dụng enzyme Alcalase để thuỷ phân gelatin và thu nhận collagen thuỷ phân. Kết quả cho thấy, hiệu quả loại lipid đạt 78,2% khi xử lý da cá lóc bằng axit acetic 0,05M trong 1 giờ. Da cá lóc được trích ly trong nước cất ở nhiệt độ 70°C, 2 giờ thu được gelatin có hiệu suất thu hồi cao, độ bền gel, độ nhớt, màu sắc và nhiệt độ tạo gel tốt nhất lần lượt là 22,8%; 216 g; 14,9 mPa.s; L*= 81,8 và 13,5°C. Hiệu suất thu hồi collagen thủy phân là 98,6% khi gelatin thuỷ phân bằng enzyme Alcalase 2% (v/w) trong 3 giờ, độ hòa tan cực đại ở pH=7 và nồng độ NaCl từ 0,8 - 1,2 M. Hơn nữa, kết quả phổ FTIR cho thấy, collagen thủy phân vẫn chứa đầy đủ các nhóm chức đặc trưng. Do đó, da cá lóc có thể được tận dụng để sản xuất collagen thủy phân.

    DOI: https://doi.org/10.71254/p405cw52
  • NGHIÊN CỨU PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN NẤM MEN ĐỂ SẢN XUẤT VANG TỪ QUẢ SIM (Rhodomyrtus tomentosa)

    Abstract : 1 PDF: 0
    Hoàng Thị Lệ Thương, Phạm Thị Lan
    69-75

    Từ dịch ép quả sim bổ sung đường và axit cao lên men tự nhiên phân lập được 5 chủng nấm men kí hiệu từ S1 đến S5, tuyển chọn được chủng S5 có hoạt lực lên men cao, hương thơm đặc trưng, độ kết lắng tốt. Định loại bằng phương pháp hóa sinh và sinh học phân tử đều cho phép khẳng định S5Saccharomyces cerevisiae, gọi tên là Saccharomyces cerevisiae S5. Từ đó, nghiên cứu môi trường nhân giống, lên men, tàng trữhoàn thiện sản phẩm. Vang thành phẩm có hàm lượng ethanol 8,14%V/V, đường sót 2,2 g/l, hiệu suất lên men 93,25%, hàm lượng axit tổng số 4,68 g/l, điểm cảm quan 89,2/100 điểm, đạt tiêu chuẩn về rượu QCVN 6-3: 2010/BYT của Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/cf1x7v32
  • ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT TỈNH HẬU GIANG SỬ DỤNG THỐNG KÊ ĐA BIẾN

    Abstract : 1 PDF: 1
    Trần Thị Kim Hồng, Nguyễn Thanh Giao
    76-83

    Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích cụm (CA) và phân tích thành phần chính (PCA) để đánh giá vị trí thu mẫu và xác định chỉ tiêu ảnh hưởng đến chất lượng nước tại tỉnh Hậu Giang. Các mẫu quan trắc chất lượng nước mặt được thu thập từ 39 vị trí với 12 chỉ tiêu gồm nhiệt độ (0C), pH, chất rắn lơ lửng (TSS), nhu cầu oxy hóa học (COD), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD), oxy hòa tan (DO), đạm amoni (N-NH4+), nitrite (N-NO2-), nitrate (N-NO3-), orthophotphase (P-PO43-), coliform và sắt (Fe). Chất lượng nước mặt được đánh giá sử dụng Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt (QCVN 08-MT: 2015/BTNMT, cột A2) và chỉ số chất lượng nước (WQI). Kết quả nghiên cứu cho thấy, khu vực nghiên cứu đang bị ô nhiễm các chất hữu cơ, ô nhiễm vi sinh vật và hàm lượng kim loại nặng (Fe) cao ở mức nghiêm trọng. Chất lượng nước tại đây đạt mức trung bình (64%) đến xấu (33%) và chỉ có 3% đạt chất lượng nước tốt. Phân tích phần chính (PCA) chỉ ra 4 PCs giải thích 71,3% sự thay đổi và biến động chất lượng nước tại khu vực nghiên cứu. Trong đó, 12 chỉ tiêu quan trắc đều có tác động đến chất lượng nước mặt nên cần được tiếp tục theo dõi tại chương trình quan trắc chất lượng nước mặt trong tương lai. Phân tích CA cũng giúp nghiên cứu xác định 20/39 vị trí cần thực hiện quan trắc mà vẫn đảm bảo được hiệu quả của công tác quan trắc, giúp giảm 34% chi phí thực hiện trong chương trình quan trắc. Nghiên cứu này cung cấp thông tin khoa học phục vụ công tác quan trắc chất lượng nước mặt tỉnh Hậu Giang.

    DOI: https://doi.org/10.71254/5v6e9811
  • ĐỀ XUẤT LỰA CHỌN CÂY TRỒNG PHÙ HỢP CHO KHU VỰC VEN BIỂN TỈNH BÌNH THUẬN

    Abstract : 1 PDF: 1
    Hồ Viết Thế, Nguyễn Thị Thanh Duyên, Nguyễn Hồng Quân
    84-92

    Nghiên cứu được thực hiện tại vùng ven biển tỉnh Bình Thuận nhằm đề xuất các loài cây trồng thích hợp và khu vực trồng tiềm năng trong điều kiện hạn hán của tỉnh. Số liệu được thu thập từ các cơ quan chức năng, các văn bản liên quan về chính sách, quy hoạch liên quan đến nông nghiệp và các hoạt động kinh tế trên địa bàn tỉnh và phỏng vấn trực tiếp hộ canh tác. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra danh sách các cây trồng tiềm năng trên địa bàn khảo sát, gồm: Cây thanh long, măng tây, neem, lúa miến, nha đam, bụp giấm, tật lê, bí nhật bản, trôm, sả, tỏi trắng, phi lao, keo lá liềm. Các giải pháp liên quan đến công nghệ sinh học cũng được đề xuất: chuyển dịch cơ cấu cây trồng thích hợp và lai tạo, chọn lọc được các giống cây trồng có khả năng chịu hạn và có bộ rễ sâu hơn nhằm tiếp cận được với nguồn nước ngày càng sụt giảm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/an6aeh96
  • NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ KỸ THUẬT TỐI ƯU CỦA MÁY SẢN XUẤT BẦU HỮU CƠ TỰ HỦY

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Đức Lợi, Nguyễn Đắc Triển, Ngô Thế Long
    93-99

    Bầu hữu cơ tự hủy được nghiên cứu và đưa vào sử dụng để sản xuất cây giống lâm nghiệp ở Việt Nam bước đầu đã đem lại những hiệu quả nhất định. Quá trình đóng bầu đã được cơ giới hóa bằng việc sử dụng máy đóng bầu, tuy nhiên năng suất và chất lượng của bầu tạo ra còn nhiều hạn chế chưa đảm bảo phục vụ sản xuất ở quy mô công nghiệp. Bằng thực nghiệm, nghiên cứu này đã xác định được giá trị tối ưu của độ ẩm giá thể, các thông số kỹ thuật của máy đóng bầu như: Tốc độ động cơ nhồi bầu, nhiệt độ hàn túi, thời gian hàn túi đảm bảo cho quá trình đóng bầu hữu cơ tự hủy đạt năng suất trên 3.000 bầu/giờ đáp ứng quá trình sản xuất cây giống lâm nghiệp chất lượng cao ở quy mô công nghiệp.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ydsxdd65
  • NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT ĐỒ GỖ MỸ NGHỆ Ở HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA

    Abstract : 1 PDF: 1
    Hoàng Hữu Chinh, Hoàng Vũ Quang
    100-105

     Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu đánh giá sự phát triển sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ trên địa bàn huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong thời gian qua và đề xuất giải pháp phát triển trong thời gian tới. Nghiên cứu đã khảo sát 90 hộ và 9 doanh nghiệp tại 3 xã sản xuất đồ gồ chủ yếu của huyện Hoằng Hóa. Kết quả nghiên cứu cho thấy xu hướng tăng liên tục số lượng cơ sở sản xuất và sản lượng đồ gỗ mỹ nghệ ở huyện trong những năm qua. Doanh nghiệp có năng lực sản xuất, sản lượng và lợi nhuận cao hơn nhiều so với hộ gia đình. Tuy nhiên, xét về hiệu quả sử dụng vốn và lao động thì hộ gia đình cao hơn doanh nghiệp. Các cơ sở sản xuất còn có nhiều khó khăn về vốn, trình độ tay nghề, đất đai để mở rộng sản xuất. Một số giải pháp được đề xuất nhằm phát triển sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ của huyện Hoằng Hóa trong thời gian tới.

    DOI: https://doi.org/10.71254/amk98x63
  • PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT TRONG SẢN XUẤT HỒ TIÊU CỦA NÔNG HỘ TẠI PHÚ QUỐC, KIÊN GIANG

    Abstract : 1 PDF: 0
    Lê Văn Gia Nhỏ, Nguyễn Văn An, Nguyễn Bình Duy, Nguyễn Văn Mãnh, Trần Đăng Dũng, Trương Vĩnh Hải
    106-112

    Nghiên cứu được thực hiện dựa trên số liệu khảo sát nông hộ trồng hồ tiêu Phú Quốc từ tháng 10/2020 đến 2/2021, với việc áp dụng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên - SFA (Stochastic Frontier Analysis) để đánh giá hiệu quả kỹ thuật TE (Technical Efficiency) của nông hộ trồng hồ tiêu tại Phú Quốc. Kết quả phân tích đã chỉ ra rằng chỉ số TE biến động từ 0,14 - 0,91, bình quân đạt 0,64 (64%) với độ biến thiên là 24,4%. Trong đó, có 15,2% số hộ đạt TE thấp, 58,6% số hộ có TE trung bình và TE đạt cao chỉ có 26,3% số hộ. Như vậy, hiệu quả kỹ thuật áp dụng trong sản xuất hồ tiêu ở Phú Quốc phần lớn từ trung bình đến thấp (khoảng 74% số hộ). Do vậy, để nâng cao hiệu quả kỹ thuật áp dụng trong canh tác hồ tiêu Phú Quốc, ngoài việc áp dụng kỹ thuật canh tác hiện hữu, địa phương cần tổ chức các buổi tọa đàm hay hội thảo đầu bờ để nông dân chia sẻ kinh nghiệm với nhau, khuyến khích nông dân sử dụng phân hữu cơ (phân chuồng hoai, phân hữu cơ vi sinh/hữu cơ khoáng và chế phẩm sinh học). Ngoài ra, cần tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nông hộ tiếp cận với nguồn vốn tín dụng sản xuất hồ tiêu nhằm mang lại lợi nhuận cao hơn cho nông hộ trồng hồ tiêu tại Phú Quốc.

    DOI: https://doi.org/10.71254/b721ed56