Số 22 (2021)

					Xem Số 22 (2021)
Đã Xuất bản: 30-11-2021

Bài viết

  • ĐỊNH LƯỢNG DÒNG VẬT LIỆU CÓ THỂ TÁI CHẾ THU HỒI TRONG CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ

    Abstract : 12 PDF: 10
    Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Trường Thành, Lê Hoàng Việt
    3-10

    Chất thải tái chế là một trong những thành phần quan trọng trong chất thải sinh hoạt ở khu vực đô thị và nông thôn Việt Nam nói chung và tại đồng bằng sông Cửu Long nói riêng. Các hoạt động liên quan đến thu hồi vật liệu tái chế trong chất thải sinh hoạt có thể được xem là phi chính thức nhưng lại có đóng góp rất lớn trong việc chuyển dòng chất thải cho các hoạt động tái chế bên ngoài. Lượng chất thải rắn sinh hoạt của thành phố Cần Thơ khoảng 266.085 tấn/năm thì có khoảng 38.062 tấn/năm vật liệu tái chế được từ chất thải sinh hoạt bao gồm các thành phần như nhựa, cao su, giấy, bìa cứng, kim loại, lon bia, lon sữa,… Các hoạt động phi chính thức này gồm thu hồi và bán phế liệu tại hộ gia đình, tại điểm thu gom, xe kéo, xe ép rác và điểm xử lý cuối cùng có đóng góp không nhỏ trong quá trình hoàn nguyên vật liệu có giá trị từ dòng thải; chiếm 17,88% lượng chất thải rắn sinh hoạt thu gom. Tỷ lệ thu hồi này tương ứng với khối lượng rác tái chế thu hồi hàng ngày là 104,28 tấn/ngày (khoảng 38.062 tấn/năm) tính cho cả thành phố. Với tiềm năng lớn cả về khía cạnh kinh tế và khía cạnh thu hồi và hoàn nguyên vật liệu, hoạt động này cần được chú trọng và quản lý tốt hơn để nâng cao hiệu quả hoạt động thu hồi vật liệu có giá trị. Điều này không chỉ góp phần bảo vệ môi trường, hướng đến phát triển bền vững mà còn đóng góp lợi ích không nhỏ cho lĩnh vực kinh tế tuần hoàn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/f4ppmn25
  • ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ĐẤT ĐAI HUYỆN LỘC HÀ, TỈNH HÀ TĨNH PHỤC VỤ CÔNG TÁC ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

    Abstract : 11 PDF: 11
    Hoàng Lê Hường, Ngô Thanh Sơn, Trần Trọng Phương
    11-20

    Để đảm bảo tính khả thi trong việc định hướng sử dụng đất nông nghiệp phù hợp, đặc biệt trong bối cảnh tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng ngày càng rõ rệt, thì việc đánh giá tiềm năng đất đai nông nghiệp là bước thực hiện không thể thiếu. Trong nghiên cứu này, việc đánh giá tiềm năng đất đai huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh dựa trên cơ sở phân hạng thích hợp đất đai, được thực hiện nhờ ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) và phương pháp phân tích đa chỉ tiêu (MCA). Kết quả cho thấy, tiềm năng đất đai cho sản xuất nông nghiệp của Lộc Hà rất lớn: trong tổng 5.386 ha đất trồng trọt thì có trên 4 nghìn ha rất thích hợp với trồng màu, đặc biệt là lạc (trên 80%); còn đối với 556 ha đất chưa sử dụng thì cũng có đến trên 90% diện tích rất thích hợp với cây lạc và cây màu khác. Thực tế sản xuất tại địa phương cũng đã chứng tỏ điều này, với 5.386 ha đất trồng trọt hiện tại của huyện, phần lớn diện tích trồng trọt ở mức thích hợp (S2) (50,73% tổng diện tích trồng trọt) và rất thích hợp (S1) (37,64%), trong đó, nhiều nhất là đất trồng lúa; chỉ có phần nhỏ diện tích có mức ít thích hợp (S3 - 11,14%) và không thích hợp (N - 0,48%) với điều kiện đất đai hiện tại. Do đó, nghiên cứu đã đề xuất định hướng chuyển đổi đất sản xuất nông nghiệp như sau: giữ 4.760,33 ha (88,38%) diện tích đất đang được sử dụng có mức độ thích hợp S1 và S2; chuyển 624,04 ha các loại sử dụng đất có mức S3 và N sang các cây trồng khác phù hợp hơn, trồng rừng và đồng thời đầu tư khai thác diện tích đất chưa sử dụng, đưa vào sử dụng cho các mục đích nông lâm nghiệp.

    DOI: https://doi.org/10.71254/m0zpbm25
  • HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU KIM LOẠI NẶNG TRONG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

    Abstract : 12 PDF: 13
    Nguyễn Thành Hưng
    21-27

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm kim loại nặng (KLN) trong đất nông nghiệp tại thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Tổng số 50 mẫu đất ở những vị trí khác nhau được thu thập và phân tích hàm lượng KLN (Cr, Zn, Cu, Cd, Pb và As) theo phương pháp . Kết quả thu được cho thấy, đất nghiên cứu chưa bị ô nhiễm As, Pb, Cd, Cu và Zn. Riêng đối với Cr, có hàm lượng trung bình 247,5±46,40 mg/kg đất khô, cao hơn QCVN 03- MT:2015/BTNMT từ 1,3 đến 2 lần. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sử dụng cây Lu lu đực (Solanum nigrum L.), một loài cây bản địa có khả năng xử lý đất ô nhiễm Cr khá tốt. Đồng thời với các biện pháp lật đất, xới xáo sâu và điều tiết nước làm tăng tính linh động chất ô nhiễm bề mặt và sự hấp thụ KLN trong cây trồng, rút ngắn thời gian xử lý đất ô nhiễm và thân thiện với môi trường.

    DOI: https://doi.org/10.71254/q8v98f55
  • KHẢ NĂNG TỔNG HỢP CÁC YẾU TỐ KÍCH THÍCH TĂNG TRƯỞNG THỰC VẬT IN VITRO CỦA CHỦNG VI KHUẨN NGN07

    Abstract : 14 PDF: 11
    Lê Mai Hương, Hà Thị Hằng, Trần Thị Hồng Hà, Đào Thị Lương
    28-33

    Sử dụng vi khuẩn vùng rễ kích thích tăng trưởng thực vật (PGPR) là một giải pháp thay thế thân thiện với môi trường cho phân bón hóa học và thuốc trừ sâu. PGPR không chỉ nâng cao năng suất và chất lượng của các loại cây trồng khác nhau mà còn duy trì tính bền vững của hệ sinh thái nông nghiệp. Trong nghiên cứu này, chủng vi khuẩn NgN07 phân lập từ đất vùng rễ cây ngô, được xác định các yếu tố kích thích tăng trưởng thực vật trong điều kiện in vitro như cố định nitơ, hòa tan phốt phát khó tan, tổng hợp IAA, hoạt chất kháng nấm bệnh, enzyme phân giải các hợp chất hữu cơ khó tan và định danh đến loài. Kết quả nghiên cứu xác định cho thấy chủng NgN07 có khả năng cố định nitơ cao nhất với hàm lượng amonium đạt 24,63 µg/ mL; hòa tan lân  từ Ca3(PO4)2 đạt 515,62 μg/mL; tổng hợp axit indole-3-acetic (IAA) từ tryptophan đạt 22,25 µg/mL sau 4 ngày nuôi cấy. Ngoài ra, chủng NgN07 còn có khả năng đối kháng các loại nấm gây bệnh thực vật Colletotrichum gloeosporioides và Fusarium oxysporum với đường kính vùng ức chế  đạt 16 ± 0,32 mm và 17 ± 0,41 mm; tổng hợp enzyme phân hủy các hợp chất hữu cơ khó tan với đường kính vòng phân giải casein, chitin, CMC, pectin và tinh bột từ 20 -26 mm. Chủng vi khuẩn NgN07 được định danh là Paenibacillus polymyxa NgN07 thuộc nhóm vi khuẩn an toàn cấp độ 1 có tiềm năng sử dụng cho sản xuất phân bón sinh học và kiểm soát sinh học tác nhân gây bệnh hại cây trồng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/pg391z09
  • NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN VỀ TÌNH TRẠNG XÓI MÒN ĐẤT TRÊN ĐẤT DỐC CANH TÁC VÙNG ĐỒI NÚI TẠI TỈNH GIA LAI

    Abstract : 6 PDF: 7
    Vũ Thanh Biển, Ngô Thanh Sơn, Nguyễn Thu Hà, Hoàng Lê Hường, Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Đức Hưởng, Trần Trọng Phương
    34-41

    Xói mòn đất vùng đồi núi là một vấn đề nghiêm trọng ở Việt Nam. Đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên, việc đánh giá tình trạng xói mòn thông qua nhận thức của người nông dân chưa có nhiều nghiên cứu thực hiện. Do vậy, mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá nhận thức của người nông dân về tình trạng xói mòn đất trên đất dốc canh tác vùng đồi núi tỉnh Gia Lai. Đã sử dụng phương pháp phỏng vấn ngẫu nhiên 116 hộ trên 4 huyện/thị có diện tích đất dốc lớn bao gồm: Mang Yang, Ia Pa, Phú Thiện và thị xã Ayun Pa kết hợp với phương pháp khảo sát thực địa. Thống kê mô tả (trung bình, độ lệch chuẩn) và kiểm định sự khác biệt (T test, Fisher’ exact test) được sử dụng để phân tích số liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy: nông dân nhận thức được 7 tín hiệu của hiện tượng xói mòn đất. Các nguyên nhân chính gây ra xói mòn đất tại vùng đất dốc tỉnh Gia Lai bao gồm việc gia tăng cường độ và tần suất mưa; thâm canh cây trồng; độc canh; đốt nương làm rẫy. Điều này dẫn đến giảm năng suất cây trồng, giảm độ màu mỡ của đất, tăng chi phí đầu tư vào đất và người dân phải chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Trồng xen, làm bờ bao quanh ruộng, tạo dòng chảy dẫn nước để tránh việc rửa trôi đất là những biện pháp chính mà người dân đang áp dụng để hạn chế xói mòn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/p63re872
  • Ủ PHÂN TỪ BÈO TAI TƯỢNG (Pistia stratiotes L.) VÀ THỬ NGHIỆM TRỒNG RAU MUỐNG (Ipomoea aquatic)

    Abstract : 12 PDF: 12
    Nguyễn Văn Công, Đinh Thị Kim, Nguyễn Thị Hãi Yến, Phạm Quốc Nguyên, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Hữu Chiếm, Lê Diễm Kiều
    42-50

    Nghiên cứu này sử dụng nguồn sinh khối bèo tai tượng để tạo phân compốt và thử nghiệm phân ủ để trồng rau muống nhằm góp phần xử lý môi trường và tạo phân bón cho cây trồng. Thí nghiệm ủ phân được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trong 21 ngày, gồm 3 nghiệm thức với 3 lần lặp lại: (1) 100% bèo tai tượng (C/N=28,2); (2) bèo tai tượng + bùn từ hệ thống xử lý nước thải (HTXLNT) sinh hoạt của thành phố Cần Thơ (C/N=25); (3) bèo tai tượng + bùn HTXLNT + Tricoderma - ĐHCT (C/N=25). Phân compốt được trộn với đất ở tỷ lệ 1 phân : 3 đất để thử nghiệm trồng rau muống. Kết quả cho thấy thời gian thích hợp cho ủ phân từ bèo tai tượng là khoảng 21 ngày trở lên. Chất lượng phân compốt ở các nghiệm thức có pH, % C, tỷ lệ C/N, kali hữu hiệu đều đạt chất lượng phân theo QCVN 01-189:2019/BNNPTNT. Ẩm độ còn khá cao, dao động từ 46,1-49,4%, nhưng hàm lượng đạm (1,72-1,81% N) và lân hữu hiệu (1,13-1,23% P2O5) thấp hơn QCVN 01-189:2019/BNNPTNT. Phân được ủ từ bèo hay bèo kết hợp bùn HTXLNT sinh hoạt có thể sử dụng trồng rau muống với năng suất thu hoạch lần đầu cao hơn 6,4-8,5 lần so với đối chứng không bón phân. Nghiên cứu chỉ ra tiềm năng sử dụng nguồn sinh khối bèo tai tượng để tạo phân compốt, góp phần xử lý môi trường và tạo phân bón cho cây trồng. Cần phối trộn thêm các loại phế thải khác có hàm lượng N và P cao hơn để nâng cao chất lượng phân bón.

    DOI: https://doi.org/10.71254/60v4f571
  • ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN THAN SINH HỌC HỮU CƠ - KHOÁNG ĐẾN TUẦN HOÀN NITƠ TRONG ĐẤT, KHẢ NĂNG QUANG HỢP VÀ HIỆU SUẤT SỬ DỤNG NITƠ CỦA CÂY TRỒNG

    Abstract : 10 PDF: 14
    Nguyễn Thị Thu Nhạn, Hoàng Thị Huê, Nguyễn Hoàng Nam
    51-59

    Phân bón sinh học hữu cơ-khoáng có khả năng thay thế than sinh học thông thường và phân bón hữu cơ để cải thiện chất lượng đất và tăng khả năng quang hợp của cây trồng. Nghiên cứu này đã khám phá các cơ chế liên quan đến chu trình luân chuyển nitơ (N) ở cả đất và cây gừng (Zingiber officinale: Zingiberaceae) trong các công thức khác nhau. Đất được bón bốn loại phân bón khác nhau, bao gồm: (1) phân hữu cơ thương mại: 5 tấn/ha, làm mẫu đối chứng; (2) phân than sinh học thương mại từ tre: 5 tấn/ha; (3) phân than sinh học hữu cơ-khoáng liều thấp: 3 tấn/ha; (4) phân than sinh học hữu cơ-khoáng liều cao: 7,5 tấn/ha. Các dạng C và N của đất và thực vật và các phép đo trao đổi khí đã được phân tích. Kết quả cho thấy ở giai đoạn đầu, bón phân than sinh học hữu cơ-khoáng liều thấp làm tăng N trong lá. Phân than sinh học hữu cơ-khoáng liều cao đã làm tăng đáng kể hiệu suất sử dụng N (NUE) của sinh khối trên mặt đất so với các công thức khác và cải thiện quang hợp so với công thức đối chứng. Nghiên cứu cũng cho thấy phân than sinh học hữu cơ-khoáng có lợi thế nông học hơn so với phân đạm vô cơ và hữu cơ tươi/thô vì nó cho phép người nông dân đưa các chất dinh dưỡng vào đất với nồng độ cao mà không hạn chế khả năng dễ tiêu, sự hấp thu N và quang hợp của cây. Nghiên cứu này khuyến cáo nên sử dụng phân than sinh học hữu cơ-khoáng liều thấp để thay thế phân hữu cơ thương mại.

    DOI: https://doi.org/10.71254/4at9yz19
  • KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ TÍCH LŨY SINH KHỐI CỦA BỒN BỒN (Typha orientalis), CỎ BÀNG (Lepironia articulata) VÀ NĂN TƯỢNG (Scirpus littoralis) TRỒNG TRÊN ĐẤT MẶN SODIC KẾT HỢP BÓN VÔI

    Abstract : 5 PDF: 7
    Võ Hoàng Việt, Võ Thị Phương Thảo, Võ Hữu Nghị, Đỗ Hữu Thành Nhân, Ngô Thụy Diễm Trang, Nguyễn Châu Thanh Tùng
    60-66

    Nghiên cứu đánh giá sinh trưởng và năng suất sinh khối của ba loài thực vật thủy sinh trồng trên đất mặn sodic. Trước khi trồng cây, đất được rửa mặn trong vòng 42 ngày với CaCO3 (2 tấn CaCO3/ha) và không bón CaCO3 (đối chứng). Bồn bồn (T. orientalis), cỏ bàng (L. articulata) và năn tượng (S. littoralis) được trồng trên đất sau khi rửa mặn. Thí nghiệm được thực hiện trong nhà lưới và bố trí theo thể thức nhân tố hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức. Việc sử dụng CaCO3 giúp cải thiện pHe đất (tăng từ 4,62 lên 5,30) và giảm 34,7% ECe và 27,7% Na+ trao đổi so với đất ban đầu và các giá trị CEC, ESP, SAR cũng có xu hướng giảm sau khi rửa mặn. Sau 90 ngày trồng, chiều cao cây có sự tăng trưởng tốt hơn (0,06-0,53 cm/ngày) ở nghiệm thức có CaCO3. Dựa vào RGR cho thấy sự tăng trưởng sinh khối tươi cao nhất là bồn bồn > năn tượng > cỏ bàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy bồn bồn có tiềm năng năng suất tươi cao nhất (43,9 tấn/ha) ở nghiệm thức có CaCO3.

    DOI: https://doi.org/10.71254/31jp8618
  • BIẾN ĐỘNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ MỘT SỐ NGUYÊN TỐ TRONG CÁ LÓC VÀ RAU CẢI XANH TRONG MÔ HÌNH AQUAPONICS

    Abstract : 7 PDF: 7
    Nguyễn Phúc Cẩm Tú, Nguyễn Ngọc Hà
    67-74

    Aquaponic, hệ thống canh tác đa bậc dinh dưỡng gồm có một hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn và hệ thủy canh, là một trong những hệ thống sản xuất thực phẩm bền vững đầy hứa hẹn. Trong nghiên cứu này, hai hệ thủy canh bè nổi (BN) và giá thể sỏi (GTS) được sử dụng để sản xuất cá lóc đen (Channa striata) và rau cải xanh (Brassica juncea). Cá được nuôi trong vòng 167 ngày với ba đợt trồng và thu hoạch rau. Chất dinh dưỡng thực vật cũng như tích lũy kim loại nặng và nitrát trong cá lóc và rau cải xanh được đánh giá trong ba chu kỳ sản xuất rau. Kết quả cho thấy hàm lượng của các chất dinh dưỡng thực vật theo dõi hàng tuần (tổng nitơ, phốtpho hòa tan, kali, canxi, magiê, bo và sắt) ở nghiệm thức GTS cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức BN(p < 0,05). Hàm lượng của các kim loại nặng (cadimi, chì và thủy ngân) và nitrát trong cá lóc và rau khi thu hoạch thấp hơn giới hạn cho phép được khuyến cáo bởi Tổ chức Y tế Thế giới, Cộng đồng kinh tế châu Âu và Bộ Y tế Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nuôi kết hợp cá lóc và trồng rau thủy canh trong mô hình aquaponic hoàn toàn thân thiện với môi trường và tạo ra sản phẩm cá và rau an toàn. Cần có các nghiên cứu tiếp theo để xác định tỷ lệ tối ưu giữa lượng ăn của cá và diện tích trồng rau cho các đối tượng thủy sản và cây trồng khác.

    DOI: https://doi.org/10.71254/p6m09y54
  • HOẠT HÓA BÙN HẠT POLYVINYL ALCOHOL (PVA) TRONG THIẾT BỊ UASB XỬ LÝ NƯỚC THẢI SƠ CHẾ CAO SU THIÊN NHIÊN

    Abstract : 11 PDF: 11
    Nguyễn Hoàng Dung, Phạm Thị Quỳnh, Nguyễn Lan Hương
    75-81

    Trong nghiên cứu này, hạt gel polyvinyl alcohol (PVA) được cố định vi sinh vật bằng cách trộn lẫn với bùn phân tán kỵ khí theo tỉ lệ 1/1 và hoạt hóa trong thiết bị xử lý kị khí với dòng chảy ngược qua lớp bùn hoạt tính (UASB - Upflow anaerobic sludge blanket). Ở giai đoạn 1 (giai đoạn hoạt hóa) thiết bị khởi động với nước thải sơ chế cao su thiên nhiên (NR) có nhu cầu oxy hóa hóa học (COD) tăng dần từ 448 - 916 mg/L, tải trọng hữu cơ (OLR) trung bình là 1,39 ± 0,81 kg COD/m3. ngày, pH duy trì 6,8 - 7,2, thời gian lưu 16,3 ± 5,7 giờ, tại 350C. Sau 100 ngày hoạt hóa, bùn hạt PVA có màu vàng nâu, tỷ lệ gVSS/gPVA đạt 0,934 và hoạt tính sinh metan riêng (SMA) đạt 0,217 g COD/g VSS. ngày. Trong giai đoạn 2, bùn hạt PVA sau hoạt hóa được tách riêng và tiếp tục đánh giá với điều kiện vận hành thay đổi: COD dòng vào thay đổi từ 345 - 4410 mg/L, OLR từ 2,13 - 15,97 kg COD/m3. ngày, pH trong khoảng 6,0 - 7,5, thời gian lưu 9,4 ± 2,5 giờ. Sau 288 ngày vận hành của giai đoạn 2, bùn hạt PVA cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc xử lý ô nhiễm hữu cơ trong nước thải NR, COD dòng ra đạt 34 - 88 mg/L, hiệu quả xử lý tương đương 81,4 - 98,9%. Tại ngày 281 của giai đoạn 2, hiệu suất sinh khí metan đạt cao nhất là 0,33 m3 CH4/kg CODchuyển hóa.

    DOI: https://doi.org/10.71254/3a39ny26
  • ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH LONG GIAI ĐOẠN 2017 - 2019

    Abstract : 5 PDF: 8
    Võ Quốc Bảo, Phạm Văn Toàn, Nguyễn Văn Tuyến, Văn Phạm Đăng Trí, Lê Văn Mười
    82-89

    Hệ thống sông nội địa có ý nghĩa rất quan trọng trong việc cung cấp nước để sản xuất và sinh hoạt cho tỉnh Vĩnh Long. Việc nghiên cứu để đánh giá chất lượng nước sông tỉnh Vĩnh Long là rất cần thiết. Trong nghiên cứu này, các mẫu nước được thu thập tại 11 tuyến sông trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long từ năm 2017-2019 và phân tích các chỉ tiêu cơ bản bao gồm: pH, DO, BOD5, COD, TSS, N-NH+4, N-NO3-, Coliform. Kết quả cho thấy chất lượng nước mặt trên 11 tuyến sông có xu hướng suy giảm trong giai đoạn 2017-2019, chất lượng nước chỉ phù hợp cho mục đích tưới tiêu và giao thông thủy, không phù hợp cho cấp nước sinh hoạt. Các chỉ tiêu ô nhiễm ở mùa mưa có hàm lượng cao hơn mùa khô ở các tuyến sông nghiên cứu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/kxsvsv05
  • KHẢ NĂNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI TỪ AO NUÔI ẾCH BẰNG HỆ THỐNG ĐẤT NGẬP NƯỚC KIẾN TẠO

    Abstract : 12 PDF: 12
    Nguyễn Văn Tuyến, Nguyễn Thanh Sơn, Lê Anh Tuấn
    90-95

    Hiện nay, diện tích và mật độ thâm canh trong nuôi trồng thủy sản (NTTS) ở vùng đồng bằng sông Cửu Long(ĐBSCL) khá cao có thể khiến ô nhiễm nước mặt gia tăng. Việc xử lý nước thải NTTS cần cân nhắc sao cho hiệu quả với giá thành hợp lý. Nghiên cứu này thử nghiệm khả năng áp dụng mô hình đất ngập nước kiến tạo chảy ngầm phương ngang (HSSFCW) kết hợp với các loại thực vật chọn lựa có để xử lý nước thải nuôi ếch thương phẩm. Thực nghiệm được thực hiện tại thị trấn Mỹ An, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp từ tháng 6/2020 đến tháng 10/2020. Hệ thống HSSFCW được thiết kế với vật liệu nền là đá cấp phối 1 x 2 cm và cát thô, thực vật được chọn là cỏ Vetiver (Vetiveria zizanioides L.) và cỏ Voi (Pennisetum setaceum), là loại thực vật quen thuộc trong vùng. Hệ thống này phù hợp với quy mô nhỏ và trung bình theo quản lý cấp gia đình. Hệ thống được tải nạp thủy lực nước thải từ ao nuôi ếch với mức đầu vào là 132 mm/ngày và thời gian tồn lưu là 5 ngày. Các kết quả thí nghiệm cho thấy, mô hình cho khả năng xử lý COD, BOD5, TSS, TN và TP là của cỏ Vetiver đạt hiệu suất cao nhất, tương ứng với 83,9%, 85,9%, 87,3%, 71,8% và 88,9% và đạt QCVN 40:2011-BTNMT (cột A); tiếp theo là cỏ Voi cũng xử lý nước thải đạt QCVN 40:2011-BTNMT (cột A).

    DOI: https://doi.org/10.71254/8p36p611
  • NGHIÊN CỨU XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT SAU BỂ TỰ HOẠI BẰNG TẢO BÁM KẾT HỢP TRONG BÃI LỌC NGẦM NHÂN TẠO

    Abstract : 12 PDF: 12
    Nguyễn Ngọc Tú, Nguyễn Thị Thu Hà, Hồ Thị Diệu Lành, Trịnh Quang Huy
    96-103

    Mô hình đất ngập nước nhân tạo (CW) đã được nghiên cứu và áp dụng hiệu quả trong xử lý nước thải sinh hoạt. Tuy nhiên, để loại bỏ hiệu quả chất dinh dưỡng và tăng hiệu suất xử lý, cần sử dụng mô hình CW tích hợp được cả quá trình vật lý và quá trình sinh học. Nghiên cứu này đã kết hợp tảo bám (peryphyton) vào hệ thống CW để đánh giá khả năng xử lý chất hữu cơ và dinh dưỡng trong nước thải sinh hoạt sau bể phốt ở quy mô phòng thí nghiệm. Quá trình tạo màng tảo bám trên vật liệu cho thấy, mật độ lớn nhất trên vật liệu tìm thấy ở ngày thứ 9-12, mật độ tảo vào khoảng 1 – 2x107 TB/cm2. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự có mặt của tảo bám trong hệ thống CW đã giúp nâng cao hiệu quả quá trình xử lý chất hữu cơ lên đến 86,74%, hiệu quả xử lý TSS đạt 56,67%, hiệu quả xử lý PO43- đạt 83,69%. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, phương pháp bãi lọc ngầm nhân tạo kết hợp tảo bám có khả năng xử lý đối với nước thải sinh hoạt sau bể tự hoại có thể thay thế cho một số phương pháp xử lý truyền thống, thân thiện với môi trường đồng thời mang lại hiệu quả cao, xây dựng đơn giản.

    DOI: https://doi.org/10.71254/t6yjk130
  • PHÂN HỦY PHẨM ĐỎ ĐH 120 TRONG MÔI TRƯỜNG NƯỚC BẰNG QUÁ TRÌNH NỘI ĐIỆN PHÂN TRÊN VẬT LIỆU NANO Fe/GrO

    Abstract : 13 PDF: 14
    Đỗ Trà Hương, Hà Xuân Linh, Nguyễn Văn Tú, Dương Thị Thảo
    104-111

    Chế tạo thành công vật liệu nano Fe/GrO bằng cách đưa các hạt Fe chế tạo từ NaBH4 và FeSO4 lên bề mặt GrO. Vật liệu nano Fe/GrO được dùng phân hủy phẩm nhuộm đỏ ĐH 120 trong dung dịch nước bằng phương pháp nội điện phân. Kết quả cho thấy điều kiện tối ưu để thuốc nhuộm đỏ ĐH 120 phân hủy là pH = 2, thời gian tiếp xúc 150 phút, khối lượng nguyên liệu 1,67 g/L, tốc độ lắc 300 vòng/phút, hiệu suất khử thuốc nhuộm đỏ ĐH 120 là 61,18%, với nồng độ ban đầu là 200 mg/L. Quá trình phân hủy thuốc nhuộm đỏ ĐH 120 bằng vật liệu nano Fe/GrO tuân theo mô hình động học biểu kiến bậc nhất, với hằng số tốc độ phản ứng k = 0,0118 phút-1. Kết quả cho thấy vật liệu nano Fe/GrO có thể dùng để phân hủy thuốc nhuộm đỏ ĐH 120 trong dung dịch nước bằng phương pháp nội điện phân trước khi xử lý bằng phương pháp sinh học.

    DOI: https://doi.org/10.71254/nx41w657
  • NHẬN DIỆN NHỮNG THÁCH THỨC TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN BỀN VỮNG TẠI ĐẦM PHÁ TAM GIANG, THỪA THIÊN - HUẾ, VIỆT NAM

    Abstract : 11 PDF: 14
    Nguyễn Văn Chung, Lê Thị Hoa Sen, Lê Chí Hùng Cường, Hoàng Dũng Hà, Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Thị Diệu Hiền, Nguyễn Quang Tân
    112-119

    Nuôi trồng thủy sản ở đầm phá Tam Giang (Thừa Thiên - Huế) đóng góp đáng kể trong việc nâng cao thu nhập cho người dân. Chính quyền địa phương và người dân luôn chú trọng phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều thách thức trong lĩnh vực này. Nghiên cứu này nhằm nhận diện các thách thức chính trong hoạt động nuôi trồng thủy sản tại đầm phá Tam Giang, cũng như phân tích các nguyên nhân và đề xuất giải pháp trong vấn đề này. Nghiên cứu được thực hiện dựa trên 55 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc và 2 cuộc thảo luận nhóm, cũng như thu thập dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo và thống kê. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, người nuôi trồng thủy sản tại đầm phá Tam Giang đang phải đối mặt với các thách thức về chất lượng con giống, hiện tượng ngọt hóa, ô nhiễm môi trường nước và cơ sở hạ tầng chưa đảm bảo. Những thách thức này ảnh hưởng lớn đến định hướng phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững tại đây. Người dân và chính quyền địa phương đã có những giải pháp ứng phó, tuy nhiên hiệu quả mang lại còn hạn chế.

    DOI: https://doi.org/10.71254/mkaqgb68
  • LƯỢNG GIÁ KINH TẾ VÀ LẬP BẢN ĐỒ PHÂN BỐ GIÁ TRỊ DỊCH VỤ CUNG CẤP CỦA CÁC HỆ SINH THÁI NUÔI TÔM VÙNG VEN BIỂN TỈNH SÓC TRĂNG

    Abstract : 11 PDF: 13
    Nguyễn Thị Hồng Điệp, Trần Quốc Khải, Nguyễn Trọng Cần, Trần Sỹ Nam
    120-127

    Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu lượng hóa kinh tế và lập bản đồ hiện trạng nuôi tôm và phân bố các giá trị dịch vụ cung cấp của hệ sinh thái nuôi tôm ven biển tỉnh Sóc Trăng tại huyện Mỹ Xuyên, Trần Đề, Cù Lao Dung và thị xã Vĩnh Châu. Nghiên cứu thu thập thông tin số liệu thứ cấp, sơ cấp và phỏng vấn điều tra 164 hộ dân trực tiếp nuôi tôm tại vùng nghiên cứu bằng phiếu phỏng vấn theo phương pháp phân bố ngẫu nhiên phân lớp theo huyện. Sử dụng phương pháp phân loại có kiểm định (supervised classification) trên ảnh Landsat 8 để lập bản đồ hiện trạng nuôi trồng thủy sản với độ chính xác toàn cục đạt 88,57%, hệ số Kappa bằng 0,77. Kết quả nghiên cứu đã lượng giá kinh tế giá trị dịch vụ cung cấp (trung bình) của hệ sinh thái nuôi tôm thâm canh (536.722.354 đồng/ha/năm), cao hơn gấp khoảng 11,48 lần so với phương thức nuôi tôm bán thâm canh (46.737.323 đồng/ha/năm) và gấp 2,98 lần so với phương thức nuôi tôm quảng canh (185.365.266 đồng/ha/năm).

    DOI: https://doi.org/10.71254/wt624d54
  • ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH NUÔI TÔM NƯỚC LỢ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÙNG NUÔI TẠI TỈNH SÓC TRĂNG

    Abstract : 12 PDF: 13
    Ngô Thụy Diễm Trang, Nguyễn Hải Thanh, Trần Đình Duy, Lê Thanh Phong, Nguyễn Thị Hồng Điệp, Trần Sỹ Nam
    128-137

    Nghiên cứu nhằm đánh giá mô hình nuôi tôm nước lợ thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH), góp phần phát triển nghề nuôi tôm ven biển bền vững ở tỉnh Sóc Trăng. Thông qua phỏng vấn trực tiếp 180 hộ nuôi tôm nước lợ tại 3 huyện ven biển tỉnh Sóc Trăng (60 hộ thâm canh - TC), 60 bán thâm canh - BTC) và 60 quảng canh cải tiến - QCCT) về vấn đề liên quan đến BĐKH và ô nhiễm môi trường. Các chỉ tiêu đánh giá tập trung vào cơ sở hạ tầng (6 tiêu chí), tiêu chí kỹ thuật và quản lý ao nuôi (8 tiêu chí), nhận thức và cách ứng phó với BĐKH của nông hộ (6 tiêu chí). Mỗi chỉ tiêu được đánh giá, cho điểm theo thang điểm Likert (thang 5 điểm: 5 = rất tốt; 4 = tốt; 3 = trung bình; 2 = kém; 1 = yếu). Kết quả đánh giá cho thấy hầu hết các tiêu chí thường đạt mức trung bình trở lên, trừ những chỉ tiêu cơ sở hạ tầng và kỹ thuật của mô hình QCCT, do thiếu vốn sản xuất. Người dân canh tác mô hình QCCT có nhận thức về BĐKH và ô nhiễm môi trường tốt hơn hai quy mô còn lại. Vấn đề đầu tư cơ sở hạ tầng và kỹ thuật quản lý ao nuôi cần được quan tâm cho 2 mô hình BTC và QCCT, trong khi vấn đề nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường và ứng phó BĐKH thì cần được ưu tiên cho mô hình TC nhằm hướng đến phát triển bền vững ngành nuôi tôm nước lợ cho tỉnh Sóc Trăng trong bối cảnh BĐKH.

    DOI: https://doi.org/10.71254/8mp0wn66
  • XÂY DỰNG BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP BẰNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH THỨ BẬC MỜ (fuzzy AHP) THÍ ĐIỂM TẠI MỘT SỐ HUYỆN VEN BIỂN TỈNH THÁI BÌNH

    Abstract : 11 PDF: 15
    Nguyễn Thị Hoài Thương, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Bùi Thị Thu Trang, Hoàng Thị Huê
    138-148

    Biến đổi khí hậu đã và đang tác động đến sinh kế của người dân sống ở vùng ven biển, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Nghiên cứu đánh giá khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu cung cấp cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về xây dựng bộ tiêu chí đánh giá khả năng thích ứng, từ đó giúp hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách trong việc ra quyết định liên quan đến các chiến lược thích ứng và  ứng phó với biến đổi khí hậu. Nghiên cứu này tiếp cận đánh giá theo cấp độ hộ gia đình sử dụng phối hợp nhiều phương pháp như nghiên cứu tài liệu, phân tích thứ bậc mờ (fuzzy AHP), khảo sát 250 hộ gia đình hoạt động sản xuất nông nghiệp sống tại vùng ven biển huyện Tiền Hải và Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Kết quả đã xây dựng được 14 chỉ số với trọng số tương ứng. Trong đó nguồn lực tài chính và con người đóng vai trò quan trọng. Đồng thời sử dụng bộ chỉ số để đánh giá cho hộ gia đình, kết quả cho thấy có sự khác biệt về khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu giữa các hộ gia đình trong cùng một vùng khí hậu, nguyên nhân là do sự khác nhau về đặc điểm kinh tế của hộ gia đình và đặc biệt là khả năng tiếp cận các nguồn lực sinh kế. Từ kết quả nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp quản lý và chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu để thúc đẩy dân chủ và công bằng xã hội với nỗ lực tăng khả năng thích ứng tổng thể đối với biến đổi khí hậu. Trong đó xác định đa dạng hóa sinh kế và nâng cao thu nhập là hai chỉ số quan trọng cần được ưu tiên.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ydy34w31
  • ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG LỚP PHỦ VÀ SINH KHỐI RỪNG NGẬP MẶN SỬ DỤNG ẢNH VỆ TINH QUANG HỌC VÀ RADAR: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN CẦN GIỜ, TP. HỒ CHÍ MINH

    Abstract : 10 PDF: 12
    Nguyễn Viết Lương, Tô Trọng Tú, Trình Xuân Hồng, Phan Thị Kim Thanh, Lê Mai Sơn, Lê Quang Toan, Lưu Thế Anh, Trần Văn Thụy, Hán Phương Loan, Nguyễn Thanh Tuấn, Đào Văn Hải
    149-158

    Trong nghiên cứu này đã sử dụng dữ liệu từ vệ tinh quang học (Landsat 8 OLI) và radar (ALOS-2 PALSAR-2) cho đánh giá hiện trạng lớp phủ và sinh khối rừng ngập mặn tại Khu Dự trữ Sinh quyển Cần Giờ. Trong đó, ảnh vệ tinh Landsat được sử dụng cho phân loại hiện trạng lớp phủ rừng với độ chính xác đạt 88%, kết quả phân loại cho thấy: tổng diện tích tự nhiên là 75.048,76 ha, trong đó gồm có: diện tích rừng giàu có 34.209,50 ha (45,58%), rừng trung bình có 7.467,95 ha (9,95%), rừng nghèo có 4.344,28 ha (5,79%), diện tích đất khác có 934,83 ha (1,25%) và diện tích mặt nước là 28.092,20 ha (chiếm 37,43%). Sử dụng kết hợp ảnh vệ tinh radar (ALOS-2 PALSAR-2) và quang học (Landsat 8) đã cho thấy sự cải tiến trong xây dựng mô hình với R2>0,84 và thành lập bản đồ sinh khối rừng ngập mặn với độ chính xác hơn 84%, kết quả cho thấy: rừng giàu sinh khối 33.236,50 ha (44,29%), rừng sinh khối trung bình là 7.453,51 ha (9,93%), rừng nghèo sinh khối là 5.365,60 ha (7,15%) và các đối tượng khác 28.993,15 ha (38,63%). Phương pháp và kết quả từ nghiên cứu này sẽ là công cụ hữu ích cho công tác quản lý, bảo tồn và phát triển một cách bền vững tại khu vực nghiên cứu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/8qet7w79
  • ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG LỚP PHỦ SỬ DỤNG ẢNH VIỄN THÁM LANDSAT KHU VỰC THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH TỪ NĂM 2001 - 2018

    Abstract : 15 PDF: 15
    Lương Đức Thiện, Nguyễn Văn Tú
    159-166

    Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá biến động lớp phủ thị xã Duyên Hải qua các năm 2001, 2014 và 2018 từ dữ liệu ảnh vệ tinh Landsat 7 và Landsat 8. Phương pháp giải đoán ảnh thành lập bản đồ hiện trạng và biến động lớp phủ đã xác định 5 lớp phủ chính tại thị xã Duyên Hải. Các lớp phủ tại thị xã Duyên Hải có sự biến động mạnh mẽ, sự chuyển dịch các hình thức sử dụng đất phản ánh khá rõ nét hiện trạng phát triển và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của thị xã Duyên Hải, trong đó diện tích nuôi trồng thủy sản có sự biến chuyển lớn nhất qua các năm. Kết quả đánh giá độ chính xác giải đoán bản đồ hiện trạng các năm cho thấy độ chính xác khá cao với chỉ số Kappa các năm 2018, 2014, 2001 lần lượt là 0,86; 0,80; 0,83. Trong giai đoạn từ năm 2001 - 2014 diện tích nuôi trồng thủy sản chuyên canh giảm và diện tích rừng tăng lên trong các mô hình nuôi kết hợp thủy sản - rừng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/h5e72r50