Số 2 (2021)
Bài viết
-
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH QUEFTS TRONG ƯỚC ĐOÁN NĂNG SUẤT TIỀM NĂNG VÀ HIỆU QUẢ HẤP THU N, P, K CHO CÂY LÚA TRÊN ĐẤT PHÙ SA VÀ ĐẤT PHÈN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 5 PDF: 6Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả hấp thu (internal efficiencies - IE) của N, P, K cho cây lúa trồng trên đất phèn và phù sa ở ĐBSCL. Thí nghiệm được thực hiện vào vụ đông xuân (ĐX) 2016-2017 và vụ hè thu (HT) 2017 trên 2 nhóm đất phèn và phù sa ở ĐBSCL. Cơ sở dữ liệu đầu vào được sử dụng bao gồm: năng suất hạt (ẩm độ 14%), tổng sinh khối và hấp thu dưỡng chất N, P, K của lúa (n=600), mô hình QUEFTS (Quantitative Evaluation of the Fertility of Tropical Soils) được sử dụng cho ước đoán năng suất và IE từ các dữ liệu này. Kết quả ước đoán từ mô hình QUEFTS cho thấy, hiệu quả hấp thu dưỡng chất giữa N, P và K đạt cân bằng ở tỉ lệ và mức tối ưu (IE) là: 68 N - 357 P - 67 K (kg hạt/kg), trong khoảng cân bằng này năng suất hạt gia tăng một cách tuyến tính với lượng hấp thu N, P, K khi năng suất đạt khoảng 50-60% tiềm năng năng suất. Khi năng suất càng vượt xa khỏi 4 tấn thì hiệu quả hấp thu dưỡng chất N, P, K càng giảm. Ở vụ đông xuân năng suất lúa tiềm năng (Ymax) trên đất phù sa là 9,0 tấn/ha và trên đất phèn là 7,0 tấn/ha. Ở vụ hè thu Ymax của hai loại đất này đạt thấp hơn so với đông xuân. Tuy nhiên trong cùng vụ hè thu, sự chênh lệch về Ymax giữa đất phù sa (7,0 tấn/ha) so với đất phèn (6,5 tấn/ha) là không lớn.
-
KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA XẠ KHUẨN ĐỐI VỚI NẤM Colletotrichum SP. GÂY BỆNH THÁN THƯ HẠI TIÊU
Abstract : 5 PDF: 3Nghiên cứu được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm thuộc Bộ môn Bảo vệ thực vật, Trường Đại học Cần Thơ. Mục tiêu của nghiên cứu là nhằm tìm ra chủng xạ khuẩn có khả năng đối kháng với nấm Colletotrichum sp. gây bệnh thán thư trên cây tiêu. Khả năng đối kháng của 13 chủng xạ khuẩn đối với nấm Colletotrichum sp. được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm với 4 lần lặp lại. Kết quả cho thấy 6 chủng xạ khuẩn (CM7-AG, CT3-HG, HB2-BL, BM9-VL, LV1-ĐT và LV9-ĐT) thể hiện khả năng đối kháng cao với nấm gây bệnh thán thư trên cây tiêu với bán kính vòng vô khuẩn lần lượt là 0,95 cm; 0,95 cm; 0,88 cm; 0,88 cm; 0,87 cm và 0,87 cm và hiệu suất đối kháng lần lượt là 63,00%; 63,00%; 57,00%, 57,00%, 47,00% và 47,00% đến thời điểm 7 ngày sau khi bố trí thí nghiệm. Bên cạnh đó, khả năng ức chế bào tử nấm Colletotrichum sp. nảy mầm của 6 chủng (CM7-AG, CT3-HG, HB2-BL, BM9-VL, LV1-ĐT và LV9-ĐT) cũng được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm với 4 lần lặp lại. Kết quả cho thấy, 2 chủng CM7-AG và HB2-BL thể hiện khả năng ức chế sự nảy mầm của bào tử nấm Colletotrichum sp. cao nhất với tỷ lệ bào tử nấm nảy mầm thấp nhất lần lượt là 9,99% và 10,47% ở thời điểm 48 giờ sau xử lý. Ngoài ra, khả năng ức chế sự hình thành bào tử nấm Colletotrichum sp. của 6 chủng xạ khuẩn trên cũng được thực hiện với 4 lần lặp lại trong điều kiện phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy 2 chủng CM7-AG và HB2-BL có khả năng ức chế sự hình thành bào tử nấm cao nhất với log mật số bào tử nấm thấp nhất lần lượt là 2,52 đến thời điểm 9 ngày sau khi bố trí thí nghiệm.
-
TUYỂN CHỌN VI SINH VẬT VÙNG RỄ CÓ KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG NẤM Sclerotium rolfsii SACC., Fusarium oxysporum VÀ KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG THỰC VẬT
Abstract : 5 PDF: 5Ở nước ta, dưa leo là một loại rau màu có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao, vừa được sử dụng tươi sống vừa là nguyên liệu trong chế biến đồ hộp. Tuy nhiên, sâu bệnh hại đang là vấn đề ảnh hưởng lớn đến năng suất, đặc biệt các mầm bệnh có nguồn gốc từ đất đang ngày càng phổ biến trong môi trường biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, việc sử dụng phân bón, thuốc hóa học quản lý bệnh hại và chất điều hòa sinh trưởng đã không được quản lý tốt, vượt ngưỡng cho phép, để lại lưu lượng lớn và ảnh hưởng sức khỏe người tiêu dùng. Do đó, nghiên cứu đã được thực hiện nhằm tuyển chọn vi khuẩn vùng rễ có khả năng đối kháng mầm bệnh từ đất, khả năng kích thích sinh trưởng của các chủng vi khuẩn có lợi đối với hạt và cây dưa leo. Kết quả cho thấy ba chủng vi khuẩn Pseudomonas HGND-0101; HGND-0301 và HGND-0901 thể hiện trung bình hiệu quả đối kháng khoảng 21,16-37,43% đối với nấm Slerotium rolfsii Sacc., và 15,94-32,63% đối với nấm Fusarium oxysporum. Trong đó, hai chủng HGND-0101 và HGND-0901 thể hiện khả năng kích thích chiều dài rễ (khoảng 68,98-71,05 mm ở ngày 7), chiều cao thân mầm (khoảng 66,75-79,50 mm ở ngày 7) và số rễ phụ (14-16 mm ở ngày 7) của cây dưa leo con trong điều kiện phòng thí nghiệm, chiều cao cây (149,00-155,25 cm ở ngày 41) và số lá dưa leo (21-24 lá ở ngày 41) trong điều kiện nhà lưới. Chủng HGND-0301 chỉ giúp cây dưa leo tăng số lá (đạt 18 lá ở ngày 41) trong điều kiện nhà lưới.
-
NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ NẤM Phytophthora capsici GÂY HẠI HỒ TIÊU CỦA CAO CHIẾT VỎ QUẾ KẾT HỢP VỚI CHITOSAN
Abstract : 11 PDF: 12Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu đánh giá hiệu quả phòng trừ nấm Phytophthora capsici gây hại rễ cây hồ tiêu của chế phẩm sinh học mới - Bacte Cinsan, có thành phần gồm 16% cao chiết từ vỏ quế + 3% chitosan. Kết quả cho thấy, chế phẩm Bacte Cinsan có tác dụng hạn chế tỷ lệ cây bị vàng lá và chỉ số bị bệnh trên cây hồ tiêu. Chỉ số bệnh và tỷ lệ bệnh ở công thức 3 (4 lít/cây) và công thức 4 (6 lít/cây) giảm tương ứng là 68,5% và 61,2% có ý nghĩa so với công thức đối chứng sau 3 tháng xử lý. Tỷ lệ cây chết ở công thức xử lý Bacte Cinsan giảm có ý nghĩa so với công thức đối chứng. Bên cạnh đó công thức xử lý Bacte Cinsan đã tăng năng suất hồ tiêu lên 20,1 - 24,6% ở công thức 3 và 4 theo thứ tự so với đối chứng. Từ những kết quả trên có thể khuyến cáo sử dụng chế phẩm sinh học Bacte Cinsan với thành phần chính là cao chiết từ vỏ quế và chitosan để phòng trừ hiệu quả Phytophthora capsici gây hại trên cây hồ tiêu.
-
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ NUÔI CẤY IN VITRO ẢNH HƯỞNG TỚI QUÁ TRÌNH NẢY MẦM PHÔI DỪA SÁP
Abstract : 5 PDF: 4Dừa sáp là một giống dừa đột biến tự nhiên, có đặc tính khác với dừa thường là phôi dừa sáp không nảy mầm trong điều kiện bình thường mà chỉ nảy mầm trong môi trường in vitro. Nhằm nâng cao tỷ lệ nảy mầm phôi dừa sáp đã tiến hành 6 thí nghiệm nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm phôi dừa sáp. Kết quả nghiên cứu đã xác định, môi trường Y3 cải tiến (Y3 chuẩn bổ sung 0,2 ppm NAA và 2 ppm BAP) cho tỷ lệ nảy mầm tốt nhất đạt 88,9%, dừa sáp cho tỷ lệ nảy mầm tốt nhất từ 12,5 - 13 tháng tuổi, phôi dừa nuôi trong điều kiện tối hoàn toàn (0 lux) cho hiệu quả tốt hơn chiếu sáng. Môi trường Y3 cải tiến không bổ sung agar (môi trường lỏng) giúp phôi nảy mầm nhanh hơn bắt đầu từ tuần thứ 3 và đối với các phôi không nảy mầm sau 30 - 45 nuôi phôi trong môi trường Y3 cải tiến, khi tiếp tục áp dụng kỹ thuật cắt màng phôi giúp các phôi tiếp tục nảy mầm thêm 66,7%. Khuyến nghị ứng dụng kết quả nghiên cứu này vào trong sản xuất cây giống dừa Sáp cấy phôi tại Việt Nam.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC PHÂN BÓN VÀ MẬT ĐỘ TRỒNG ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦ SÂM BỐ CHÍNH (Abelmoschus sagittifolius (Kurz), Merr.)
Abstract : 6 PDF: 4Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng và mức phân bón đến sinh trưởng và năng suất củ sâm Bố Chính trồng tại huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk. Thí nghiệm được tiến hành trên đồng ruộng, bố trí theo kiểu chia ô lớn, ô nhỏ (split – plot) với 3 lần nhắc lại. Nhân tố ô chính là mức phân bón với 4 mức (cho 1 ha): 120 kg N + 60 kg P2O5 + 45 kg K2O (P1); 160 kg N + 80 kg P2O5 + 60 kg K2O (P2); 200 kg N + 100 kg P2O5 + 75 kg K2O (P3); 240 kg N + 120 kg P2O5 + 90 kg K2O (P4) trên nền 20 tấn phân bò khô hoai mục/ha. Nhân tố phụ là mật độ trồng với 4 mức: Khoảng cách 40 cm x 30 cm, mật độ 83.333 cây/ha (M1); khoảng cách 35 cm x 30 cm, mật độ 95.238 cây/ha (M2); khoảng cách 30 cm x 30 cm, mật độ 111.111 cây/ha (M3); khoảng cách 25 cm x 30 cm, mật độ 133.333 cây/ha (M4). Kết quả nghiên cứu cho thấy khi đồng thời tăng mức phân bón từ P1 đến P3 và tăng mật độ trồng M1 đến M4 thì chiều cao cây, đường kính tán, chỉ số diện tích lá, khối lượng chất khô, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất củ sâm Bố Chính cũng tăng lên. Tuy nhiên, khi tăng mức phân bón từ P3 lên P4 thì chiều cao cây, chỉ số diện tích lá cũng tăng nhưng sai khác không có ý nghĩa ở độ tin cậy 95%. Khi trồng ở mật độ M3 kết hợp với mức phân bón P3 cho năng suất thực thu cao nhất (11,27 tấn tươi/ha) và hàm lượng chất chiết trong dược liệu đạt 25,4%.
-
TỐI ƯU HÓA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ BẢO QUẢN QUẢ ỚT BẰNG KỸ THUẬT BAO GÓI KHÍ ĐIỀU BIẾN
Abstract : 12 PDF: 9Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định vật liệu bao gói phù hợp và tối ưu hóa hai yếu tố thực nghiệm gồm tỷ lệ diện tích bao bì/khối lượng quả (cm2/g) và độ dày bao bì (mm) có ảnh hưởng đến điều kiện cân bằng nồng độ khí oxy (%) và nồng độ khí cacbonic (%) trong môi trường vi khí hậu của bao bì bảo quản quả ớt. Kết quả thực nghiệm đã xác định được vật liệu bao bì LDPE có khả năng thẩm khí phù hợp cho bảo quản quả ớt. Kế hoạch thực nghiệm đa yếu tố gồm 9 thí nghiệm với khoảng khảo sát của 2 yếu tố thực nghiệm: tỷ lệ diện tích bao bì/khối lượng quả từ 2,0 - 2,5 cm2/g, độ dày bao bì LDPE từ 0,02 - 0,04 mm, quả ớt sau khi sơ chế, bao gói được tồn trữ ở nhiệt độ 4 ± 1oC và độ ẩm 90 - 95%. Kết quả tối ưu đã xác định được tỷ lệ diện tích bao bì/khối lượng quả ớt là 2,17 cm2/g và độ dày bao bì LDPE là 0,03 mm, tương ứng trạng thái cân bằng môi trường vi khí hậu ở nồng độ khí oxy 2,02%, nồng độ khí cacbonic 5,9%. Chất lượng mẫu ớt ở điều kiện tối ưu được đánh giá sau 30 ngày bảo quản với hàm lượng chất khô hòa tan tổng số 5,4oBrix, hàm lượng vitamin C 16,8 mg/100 g (giảm 33% so với nguyên liệu ban đầu), chất lượng cảm quan đạt mức tốt (18,4 điểm).
-
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH PHƯƠNG PHÁP SẤY VÀ CHẾ ĐỘ SẤY RỄ ĐINH LĂNG THÁI LÁT
Abstract : 17 PDF: 10Nghiên cứu đã tiến hành thực nghiệm sấy rễ đinh lăng thái lát. Sấy bơm nhiệt và sấy bơm nhiệt kết hợp hồng ngoại tại 3 mức nhiệt độ sấy 40, 45 và 50oC đã được thực hiện nhằm xác định phương pháp sấy hợp lý cho rễ đinh lăng thái lát. Tiêu chí đánh giá là tốc độ sấy, màu sắc, hàm lượng saponin của rễ đinh lăng sau khi sấy. Kết quả đã xác định được phương pháp sấy bơm nhiệt kết hợp hồng ngoại là phù hợp để sấy rễ đinh lăng thái lát với nhiệt độ sấy 45oC, vận tốc tác nhân sấy 0,8 ± 0,1 m/s. Tại chế độ sấy này, tiến hành sấy với các mức cường độ hồng ngoại khác nhau đã xác định cường độ hồng ngoại phù hợp là 600 W/m2, thời gian sấy 4 giờ, tốc độ giảm ẩm trung bình trong quá trình sấy là 17,55%/h, độ lệch màu là 25,89, hàm lượng saponin là 1,9%. Ẩm độ rễ đinh lăng thái lát sau khi sấy là 12%, chất lượng rễ đinh lăng sau khi sấy đáp ứng theo tiêu chuẩn TCVN I-4:2017.
-
NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT SẢN XUẤT CỦ GIỐNG TỪ CÂY IN VITRO KHOAI SỌ CỤ CANG (Colocasia esculenta (L) Schott) TẠI SƠN LA
Abstract : 12 PDF: 9Nghiên cứu xây dựng qui trình sản xuất củ giống khoai sọ Cụ Cang từ cây in vitro trên đồng ruộng bao gồm mật độ trồng và tổ hợp phân bón nhằm tăng năng suất kinh tế và tăng số củ con phục vụ công tác giống. Các thí nghiệm được tiến hành với 4 công thức mật độ (20.000 cây/ha, 25.000 cây/ha, 30.000 cây/ha và 40.000 cây/ha) và 4 công thức phân bón (nền cho 1 ha: 1,5 tấn phân HCVS + 1 tấn vôi bột + 60 kg P2O5 + 80 kg K2O; nền + 60 kg N; nền + 80 kg N; nền + 100 kg N). Kết quả nghiên cứu chỉ ra, ở mật độ trồng 30.000 cây/ha khoai sọ Cụ Cang cho năng suất và số củ con cao nhất đạt 15,98 tấn/ha và 18,6 củ con/khóm. Công thức bón phân (1,5 tấn phân HCVS Sông Gianh + 1 tấn vôi bột + 60 kgP2O5 + 80 kgK2O + 80N) cho năng suất cao nhất đạt 16,68 tấn/ha.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN ĐẾN TỐC ĐỘ SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ NÂU (Scatophagus argus Linnaeus, 1766) GIAI ĐOẠN GIỐNG TỪ NGÀY 21 ĐẾN 50 NGÀY TUỔI
Abstract : 13 PDF: 11Mục đích của nghiên cứu này là để đánh giá ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá nâu (Scatophagus argus Linnaeus, 1766) giai đoạn giống từ 21 đến 50 ngày tuổi. Thí nghiệm được tiến hành với ba nghiệm thức thức ăn gồm Copepoda, Artemia, thức ăn công nghiệp của Hãng INVE N5/8 (TACN) được bố trí lặp lại 3 lần bằng phương pháp bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn (CRD). Kết quả cho thấy, sinh trưởng của cá khi cho ăn bằng các loại thức ăn khác nhau thì khác nhau (p<0,05). Cụ thể, sinh trưởng và tốc độ sinh trưởng khối lượng của cá cao hơn khi cho ăn thức ăn sống (Copepoda và Artemia) so với nghiệm thức TACN (p<0,05). Tốc độ sinh trưởng khối lượng của cá ở các nghiệm thức Copepoda, Artemia, TACN theo ngày lần lượt là 0,028; 0,027; 0,024 g/ngày và tốc độ sinh trưởng đặc trưng lần lượt là 6,562; 6,486; 6,020%/ngày. Tương tự, tốc độ sinh trưởng chiều dài theo ngày ở 3 nghiệm thức thức ăn lần lượt là 0,053; 0,048; 0,044 cm/ngày và tốc độ sinh trưởng đặc trưng lần lượt là 2,977; 2,751; 2,285 %/ngày. Tuy nhiên, không thấy có sự sai khác có ý nghĩa thống kê về sinh trưởng và tốc độ sinh trưởng chiều dài của cá giữa các nghiệm thức Copepoda và Artemia; Artemia và TACN (p>0,05). Tỷ lệ sống của cá ở các nghiệm thức thức ăn từ giai đoạn 21 đến 50 ngày tuổi tương đối cao (>90%), không thấy có sự khác nhau giữa các nghiệm thức thức ăn (p>0,05).
-
ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA ỐC HƯƠNG (Babylonia areolata Link, 1807)
Abstract : 12 PDF: 13Bài báo trình bày kết quả thử nghiệm nuôi ốc hương bằng ba loại thức ăn. Nuôi ốc hương kích cỡ 0,3 g/con ở mật độ 1280 con/m2 trong bể 0,15 m3. Ba nghiệm thức gồm sử dụng thức ăn viên hiện có (VC), thức ăn viên mới phát triển (VM) và cá nục tươi (T). Thức ăn viên có 38,2-40,12% protein, 8,35-9,24% lipid và 9,92-10,18% độ ẩm. Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Sau 6 tháng nuôi ốc hương ở nghiệm thức T có tăng trọng Wg (g/con) cao nhất, tiếp đến là ở VM và thấp nhất là ở VC và sai khác là có ý nghĩa (p<0,05). Các thành phần bổ sung gồm vi tảo, dịch thủy phân đã góp phần nâng cao tăng trưởng của ốc hương. Tỉ lệ sống SR (%) ở nghiệm thức VM tương tự như VC và cao hơn so với ở T nhưng sai khác là không có ý nghĩa (p>0,05). Tăng sinh khối Pg (kg/bể) của ốc ở T tương tự như ở VM và cao hơn so với ở VC và sai khác là có ý nghĩa (p<0,05). Sản phẩm ốc hương ở ba nghiệm thức có màu sắc vỏ tương tự như nhau. Kết quả đạt được về Pg và màu sắc của ốc hương cho thấy khả năng sử dụng thức ăn viên để thay thế thức ăn tươi trong nuôi ốc hương thương phẩm.
-
KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ TÍCH LŨY SINH KHỐI CỦA BA LOÀI CỎ PARA, GHINE VÀ SETARIA LÀM THỨC ĂN GIA SÚC TRÊN ĐẤT NHIỄM PHÈN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 12 PDF: 9Nghiên cứu thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng và tích lũy sinh khối của một số loài cỏ gia súc trên đất nhiễm phèn. Thí nghiệm thực hiện trong điều kiện nhà lưới, theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức. Nghiên cứu thực hiện trên 3 loài cỏ Lông Para (Brachiaria mutica), cỏ Ghine (Panicum maximum) và cỏ sữa Setaria (Setaria sphacelata) trồng trong điều kiện đất phèn kết hợp bón NPK (40N - 40P2O5 - 20K2O kg/ha), CaCO3, CaCO3 + NPK và nghiệm thức đối chứng (không bón bổ sung phân và vôi). Kết quả cho thấy khi bón bổ sung CaCO3 và ngâm đất, giá trị pH trong đất được cải thiện từ 3,25 tăng lên 4,23-5,40, cao hơn so với nghiệm thức không bón CaCO3. Hiệu quả của bón NPK kết hợp với ngâm đất có bón CaCO3 góp phần tăng 30,7-53,7% sinh khối tươi của thân, tăng 14,0-25,1% sinh khối tươi của rễ, và 32,6-52,8% sinh khối khô thân ở cỏ Para và cỏ sữa Setaria. Tốc độ tăng trưởng tương đối RGR thân (11,3-24,2 mg/g/ngày) và rễ (24,7-42,2 mg/g/ngày) ghi nhận cao nhất ở loài cỏ sữa Setaria và thấp nhất ở cỏ Ghine. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy cỏ sữa Setaria và cỏ Para có tiềm năng trồng ở đất phèn sau khi cải tạo pH bằng giải pháp bón vôi.
-
NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT KEO UREA FORMALDEHYDE (UF-KC113) CHUYÊN DÙNG SẢN XUẤT VÁN MDF ĐẠT CHUẨN E1 CHÂU ÂU
Abstract : 5 PDF: 5Nghiên cứu tiến hành xây dựng quy trình công nghệ sản xuất keo urea formaldehyde (UF-KC113) chuyên dùng sản xuất ván MDF đạt chuẩn E1 châu Âu. Thông qua các bước xây dựng quy trình dạng sơ bộ, khảo nghiệm, từ đó đề xuất quy trình sản xuất hoàn thiện. Thông qua thử nghiệm tính chất của sản phẩm keo UF-KC113 và ván MDF làm căn cứ đánh giá chất lượng và hiệu quả của quy trình đề xuất. Sản phẩm keo UF-KC113 tạo ra từ quy trình có tính ổn định cao, chất lượng tốt, thân thiện với môi trường, hàm lượng formaldehyde tự do có chỉ số lần lượt là 1,14% và 1,21% ở cả hai bảng kết quả kiểm tra thông số kỹ thuật keo, hoàn toàn đáp ứng Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia QCVN 03-01: 2018/BNNPTNT về keo dán gỗ. Ván MDF sử dụng keo UF-KC113 có các tính chất cơ lý đạt Tiêu chuẩn TCVN 7753: 2007 quy định chất lượng cho ván sợi - ván MDF, cụ thể: độ ẩm ván có chỉ số 10,54%, khối lượng riêng ván là 695 kg/m3, trương nở chiều dày ván là 12,15%, độ bền kéo vuông góc 0,71 MPa; độ bền uốn tĩnh và mô đun đàn hồi uốn tĩnh lần lượt là 25,53 MPa và 2,68 GPa. Đặc biệt hàm lượng formaldehyde tự do trong ván ở mức 7,73 mg/100g đạt chuẩn E1 châu Âu quy định tại cả hai Tiêu chuẩn BS EN 13986: 2004 + A1: 2015 và TCVN 7753: 2007.
-
QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ TỔNG HỢP KEO UREA FORMALDEHYDE BIẾN TÍNH MELAMINE (MUF-E1. M13) CHO SẢN XUẤT VÁN DÁN CHỐNG ẨM VÀ THÂN THIỆN MÔI TRƯỜNG
Abstract : 6 PDF: 7Đã thực hiện việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình tổng hợp keo, bao gồm tỷ lệ nguyên liệu; số lần, lượng và thời điểm phối trộn urea và melamine trong nồi phản ứng; ảnh hưởng của thời gian, nhiệt độ và tốc độ khuấy của quá trình tổng hợp; ảnh hưởng độ pH đến chất lượng keo MUF cho ván dán ở các quy mô thí nghiệm từ nhỏ đến lớn: 2, 100, 1.000 kg/mẻ (2018 - 2019). Việc xây dựng, khảo nghiệm và hoàn thiện quy trình công nghệ tổng hợp keo được áp dụng vào quy mô sản xuất công nghiệp 3000 kg/mẻ. Các kết quả nghiên cứu cho phép tạo sản phẩm keo dán MUF – E1. M13, dùng cho sản xuất ván dán đạt cấp chất lượng dán dính cao trong điều kiện sử dụng ẩm ướt Class 2 theo EN 314 – 1 & 2; hàm lượng formaldehyde tự do 1,15 mg/100 g ván khô kiệt theo EN 717 – 3, (~ 0,07 ppm, ASTM D 6007), đạt tiêu chuẩn E1 của châu Âu (< 9 mg/100 g hoặc < 0,1 ppm). Ván dán có giá trị cường độ chịu lực cao ở mức độ bền uốn MOR đạt 77 Mpa, mô đun đàn hồi MOE đạt 9770 Mpa.
-
PHÂN KHU CHỨC NĂNG KHU BẢO TỒN DỰA VÀO ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI - SINH CẢNH PHÚ MỸ, HUYỆN GIANG THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
Abstract : 5 PDF: 6Nghiên cứu thực hiện nhằm qui hoạch chi tiết các phân khu chức năng của Khu Bảo tồn Loài – Sinh cảnh Phú Mỹ dựa trên hiện trạng tài nguyên và môi trường. Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát, đánh giá và xây dựng bản đồ đa dạng sinh học, bao gồm thực vật bậc cao, nhóm cá, nhóm chim, nhóm lưỡng cư – bò sát. Ngoài ra, nghiên cứu còn đánh giá độ dày tầng mặt và chất lượng đất tại khu vực nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 11 sinh cảnh, 126 loài chim, 30 loài cá, 13 loài lưỡng cư bò sát. Độ dày tầng đất tại khu bảo tồn dao động từ 0 - 150 cm. Đất tại khu vực nghiên cứu thuộc loại đất phèn nặng (pH < 4), giàu hữu cơ, độ mặn thấp, nghèo lân, kali trao đổi từ mức thấp đến trung bình và lân dễ tiêu ở mức rất thấp đến trung bình, hàm lượng đạm ở mức nghèo đến giàu đạm. Trên cơ sở khoa học và pháp lý, khu bảo tồn được qui hoạch thành ba khu chức năng bao gồm khu I (khu hành chính – dịch vụ) với tổng diện tích là 24 ha; khu II (khu phục hồi sinh thái) với tổng diện tích là 435 ha và khu III (khu bảo vệ nghiêm ngặt) với tổng diện tích là 611,28 ha. Riêng trong khu phục hồi sinh thái có thêm hai khu vực dành cho việc dưỡng bàng và hoạt động nghiên cứu khoa học liên quan đến đồng cỏ bàng.
-
ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN CỦA THẠCH SÙNG MÍ LICH-TEN-PHEN-ĐƠ Goniurosaurus lichtenfelderi (Moquard, 1897) TRONG ĐIỀU KIỆN NHÂN NUÔI TẠI TRẠM ĐA DẠNG SINH HỌC MÊ LINH
Abstract : 5 PDF: 5Thạch sùng mí lich-ten-phen-đơ (Goniurosaurus lichtenfelderi) được xếp ở bậc Sẽ nguy cấp (VU) trong Danh lục Đỏ IUCN và là loài động vật được bảo vệ thuộc Nhóm IIB của Nghị định 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ cũng như Phụ lục II CITES. Trong nghiên cứu này, hai cặp Thạch sùng mí lich-ten-phen-đơ được thu thập ở xã Hoàng Hoa Thám, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương trong tháng 3/2019. Các cá thể được nuôi và theo dõi tại Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh từ tháng 3 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020. Các cá thể cái Thạch sùng mí lich-ten-phen-đơ đã sinh sản từ tháng 5 đến tháng 7/2019. Mỗi cá thể cái đẻ 2 lần/năm, mỗi lần đẻ 2 trứng. Trong tổng số 8 trứng được ấp trong điều kiện nhân tạo tại Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh, 5 trứng (62,5%) được thụ tinh và nở thành con non. Về đặc điểm hình thái, trứng có hình ovan, màu trắng ngà; khối lượng trung bình 1,90±0,18 g (n=8), chiều dài trung bình 18,76±0,65 mm (n=8) và chiều rộng trung bình 13,98±0,52 mm (n=8). Nhiệt độ trung bình trong điều kiện ấp nhân tạo là 28,22±0,17oC, độ ẩm trung bình là 86,57±0,19%. Trứng nở sau khoảng 57 - 60 ngày (trung bình 58,5±1,5 ngày, n=5). Các cá thể non tăng trưởng liên tục trong thời gian 10 tháng sau khi nở, khối lượng tăng từ 1,15 - 1,80 g (trung bình 1,43±0,24 g) ở tháng đầu tiên lên 6,60 - 7,80 g (trung bình 7,23±0,49 g) ở tháng thứ mười; kích thước cơ thể (SVL) tăng từ 40,0 - 47,0 mm (trung bình 44,20±2,60 mm) ở tháng đầu tiên đến 65,7-70,1 mm (trung bình 68,40±1,65 mm) ở tháng thứ mười. Sau 6 tháng, con non có thể phân biệt rõ giới tính dựa vào đặc điểm hình thái của bộ phận sinh dục.
-
ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG CỦA CÁC DÒNG VÔ TÍNH KEO LÁ TRÀM (Acacia auriculiformis) TRONG KHẢO NGHIỆM MỞ RỘNG TẠI CAM LỘ, QUẢNG TRỊ
Abstract : 5 PDF: 5Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các giống Keo lá tràm khảo nghiệm tại vùng sinh thái khác so với nơi đã được công nhận. Nghiên cứu được tiến hành trên khảo nghiệm mở rộng các dòng vô tính Keo lá tràm tại Cam Lộ, Quảng Trị được trồng tháng 11 năm 2015 với 9 dòng Keo lá tràm và 1 lô hạt hỗn hợp vườn giống làm đối chứng. Sau 54 tháng tuổi, khảo nghiệm có tỷ lệ sống trung bình đạt 73,8%, sinh trưởng trung bình về đường kính ngang ngực đạt 10,5 cm, chiều cao vút ngọn đạt 11,5 m, thể tích đạt 61,3 dm3/cây và năng suất đạt 13,6 m3/ha/năm. Có sự sai khác rõ rệt về sinh trưởng giữa các dòng Keo lá tràm tham gia vào khảo nghiệm, các dòng Keo lá tràm Clt18, Clt98, Clt26, Clt7 có sinh trưởng nhanh và cũng có năng suất cao nhất trong khảo nghiệm; với năng suất trung bình đạt 18,3 m3/ha/năm, vượt 35% so với trung bình toàn khảo nghiệm và vượt 102% so với giống đối chứng là lô hạt hỗn hợp vườn giống Keo lá tràm. Cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để đề nghị công nhận mở rộng vùng trồng cho các giống này tại Cam Lộ, Quảng Trị và những nơi có điều kiện tương tự.
-
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÁT BÀ
Abstract : 4 PDF: 8Vườn Quốc gia (VQG) Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, tỉnh Hải Phòng được đánh giá có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao với nhiều loài động vật, thực vật quý hiếm và nhiều tiềm năng phát triển du lịch sinh thái (DLST). Tuy nhiên, khai thác du lịch ở đây mới chỉ dừng lại ở một số tuyến và điểm sẵn có chưa tận dụng được nhiều tiềm năng ĐDSH độc đáo của VQG Cát Bà. Các phương pháp đánh giá tài liệu thứ cấp, phương pháp phỏng vấn, phương pháp điều tra theo tuyến, ô tiêu chuẩn và công cụ SWOT được sử dụng trong nghiên cứu để thu thập số liệu hiện trạng ĐDSH, các tuyến DLST, nhằm đánh giá hiện trạng ĐDSH cũng như các khó khăn, thuận lợi cơ hội và thách thức phát triển DLST tại VQG Cát Bà, từ đó làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp phát triển bền vững DLST gắn với bảo tồn ĐDSH tại VQG. Kết quả của nghiên cứu xác định VQG Cát Bà có tiềm năng ĐDSH để phát triển DLST thể hiện qua số lượng các loài động vật, thực vật ghi nhận với 1.595 loài thực vật, 357 loài động vật và 9 kiểu thảm thực vật. Trong đó có nhiều loài quý hiếm như Voọc Cát Bà và Thạch sùng mí Cát Bà. Kết quả cũng đánh giá được những khó khăn cơ hội và thách thức để phát triển DLST và đề xuất được 6 giải pháp nhằm phát triển DLST gắn với bảo tồn ĐDSH tại VQG Cát Bà.
-
THIẾT KẾ VÀ TÍNH PHÍ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP: TRƯỜNG HỢP BẢO HIỂM CÂY LÚA Ở TỈNH HẬU GIANG
Abstract : 5 PDF: 5Thiết kế và tính phí sản phẩm bảo hiểm đòi hỏi yêu cầu cả về tính khoa học và sự phán đoán. Dựa trên cách tiếp cận lý thuyết độ tin cậy thực nghiệm Bayes, đã đề xuất một cách tiếp cận phù hợp để tính phí cho sản phẩm bảo hiểm cây lúa ở tỉnh Hậu Giang, sử dụng cả hai khía cạnh thời gian và không gian của dữ liệu để tăng hiệu quả của các ước tính thống kê. Kết quả đã tính được các chỉ tiêu cơ bản về phí trong hợp đồng bảo hiểm như: năng suất dự kiến trên 70 tạ/ha và ngưỡng năng suất từ 56,5 tạ/ha trở lên tùy theo từng xã; mức bồi thường tại 80% hoặc 90% và tỷ lệ phí bảo hiểm thương mại từ 1,6%-2,2% tùy theo từng huyện. Kết quả này góp phần vào việc thiết kế sản phẩm bảo hiểm cây trồng ngày càng đa dạng và hợp lý hơn.
-
HIỆN TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA CÁC MÔ HÌNH CANH TÁC CÀ PHÊ VÙNG CHUYÊN CANH TẠI HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM
Abstract : 4 PDF: 3Huyện Đăk Hà được biết đến là vùng chuyên canh cà phê vối (Coffea canephora hay Coffea robusta) lớn nhất của tỉnh Kon Tum. Kết quả điều tra, phỏng vấn 575 hộ dân canh tác cà phê tại 11 xã, thị trấn xác định được 4 mô hình canh tác chính: mô hình 1: cà phê trồng trên đất đỏ vàng, không cây che bóng, không theo tiêu chuẩn canh tác; mô hình 2: cà phê trồng trên đất xám, có cây che bóng, không theo tiêu chuẩn canh tác; mô hình 3: cà phê trồng trên đất xám, có cây che bóng, có theo tiêu chuẩn canh tác; mô hình 4: cà phê trồng trên đất xám, không cây che bóng, không theo tiêu chuẩn canh tác. 76,7% số hộ có diện tích đất ngày càng bị thoái hóa; 19,79% hộ canh tác chưa cung cấp đủ lượng nước cho cây; 70,26% hộ phun thuốc hóa học cho vườn cà phê bị sâu bệnh. Kết quả đánh giá, phân tích cho thấy thu nhập/người/tháng từ canh tác cà phê đạt từ 0,85-1,85 triệu đồng. Mô hình canh tác 2 đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất, mô hình 4 chưa mang lại hiệu quả kinh tế.








