Số 13 (2023)
Bài viết
-
PHÂN TÍCH SỰ DI TRUYỀN TÍNH TRẠNG NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CỦA CÁC DÒNG NGÔ NẾP TÍM TỰ PHỐI
Abstract : 14 PDF: 11Nghiên cứu tiến hành phân tích sự di truyền tính trạng năng suất, chất lượng của các dòng ngô nếp tím tự phối nhằm chọn lọc các dòng có khả năng kết hợp chung (GCA) cao về năng suất và chất lượng. Thí nghiệm đồng ruộng đánh giá đặc điểm nông học của 108 tổ hợp lai (THL) ngô nếp tím từ phép lai đỉnh (giữa 27 dòng nếp tím và 4 cây thử) với 2 giống đối chứng được tiến hành trong vụ xuân năm 2022 tại thành phố Hà Nội. Kết quả cho thấy, năng suất bắp tươi của các THL dao động từ 30,32 - 135,48 tạ/ha, trong đó có 20/108 THL có năng suất bắp tươi cao hơn đối chứng Fancy111 có ý nghĩa thống kê. Hiệu ứng trội xuất hiện ở tất cả các tính trạng phân tích. Hiệu ứng cộng cao ở tính trạng hàm lượng anthocyanin cho thấy cần có cả dòng bố và mẹ để đạt màu tím đậm nhất. Mười dòng ngô nếp tím triển vọng có GCA cao về cả tính trạng năng suất và chất lượng được xác định bao gồm: N005, N011, N014, N017, N023, N024, N032, N069, N094 và N095.
-
KẾT QUẢ CHỌN TẠO VÀ KHẢO NGHIỆM GIỐNG HOA CÚC C10 CHO CÁC TỈNH PHÍA NAM
Abstract : 22 PDF: 14Giống hoa cúc C10 được chọn tạo từ tổ hợp lai (THL) Thọ Vàng x C07.18. Giống được khảo nghiệm diện hẹp vụ thu đông năm 2020, 2021 và vụ xuân hè năm 2022 và diện rộng vụ thu đông năm 2021 và vụ xuân hè năm 2022 tại thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng), thành phố Mỹ Tho (Tiền Giang) và huyện Tuy Phước (Bình Định). Kết quả khảo nghiệm cho thấy, giống C10 rất có triển vọng, cho hoa đẹp, thích nghi tốt với điều kiện sinh thái của địa phương. Giống có khả năng chống chịu tốt với bệnh rỉ sắt và bệnh vi rút TSWV (do tomato spotted wilt virus gây ra). Giống cúc C10 có kiểu cành hoa giống với kiểu hoa thược dược, hoa màu vàng và kích cỡ hoa trung bình. Trong điều kiện quang kỳ 16 giờ, kéo dài 30 ngày, giống C10 phát triển thân rất khỏe, đạt chiều cao 90 - 100 cm. Giống C10 đã được người trồng đánh giá cao về năng suất, chất lượng qua các mô hình trình diễn tại các nông hộ sản xuất ở các vùng sinh thái.
-
ĐÁNH GIÁ TÍNH THÍCH ỨNG VÀ TUYỂN CHỌN CÂY ĐẦU DÒNG PHỤC VỤ CÔNG TÁC KHAI THÁC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN GEN MẬN ĐỎ TẠI HUYỆN HOÀNG SU PHÌ, TỈNH HÀ GIANG
Abstract : 20 PDF: 7Mận Đỏ được trồng nhiều tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang có thời gian thu hoạch muộn hơn so với mận Tam Hoa (đầu tháng 6 đến giữa tháng 7 hàng năm), chất lượng tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân địa phương. Những năm gần đây, diện tích mận Đỏ đang có xu hướng phát triển. Tuy nhiên, do việc nhân giống bằng phương pháp chặt rễ từ nhiều cây mẹ khác nhau nên chất lượng giống không đồng đều. Ngoài ra, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật ở địa phương còn rất hạn chế, vì vậy, năng suất mận Đỏ đang suy giảm và có nguy cơ thoái hóa giống nếu không có các biện pháp bảo tồn và phát triển một cách hợp lý. Để góp phần khai thác và phát triển được nguồn gen bản địa mận Đỏ, từ năm 2019 - 2021, công tác đánh giá tính thích ứng và điều tra, tuyển chọn cây đầu dòng mận Đỏ đã được thực hiện tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Kết quả cho thấy: Cây mận Đỏ sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khí hậu, đất đai tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (ở độ cao từ 900 - 1.600 m so với mặt biển, độ lạnh tích lũy từ 82,2 - 226,6 CU). Năng suất đạt từ 80,0 - 94,4 tạ/ha, chất lượng khá cao; 10 cây đầu dòng mận Đỏ được tuyển chọn tại huyện Hoàng Su Phì có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, năng suất trung bình từ 61,3 - 75,3 kg/cây, hàm lượng chất khô đạt 11,60 - 12,27%, tổng chất rắn hòa tan từ 11,0 - 12,10Bx. Đây là nguồn vật liệu phục vụ cho cho công tác nhân giống, góp phần khai thác hiệu quả và phát triển nguồn gen quý này một cách bền vững.
-
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG CÂY TRỌNG LÂU VIỆT NAM (Paris vietnamensis (Takht) H. Li ) BẰNG CHỒI MẦM TẠI THỊ XÃ SA PA, TỈNH LÀO CAI
Abstract : 19 PDF: 8Nghiên cứu nhằm xác định các kỹ thuật phù hợp nhất trong vườn ươm cho việc nhân giống Trọng lâu Việt Nam bằng chồi mầm. Các thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD) với 3 lần nhắc lại trong vườn ươm tại thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Kết quả cho thấy, tại thời điểm xuất vườn, sử dụng 2 - 3 mầm/hom củ là thích hợp nhất cho chiều cao cây dao động 33,1 - 35,2 cm/cây, đường kính thân dao động 5,7- 6,0 mm/cây, chiều dài lá dao động từ 11,7- 12,5 cm/lá và chiều rộng lá dao động 6,3 - 6,8 cm/lá. Công thức (CT) xử lý GA3 60 ppm và IBA 60 ppm làm tăng chiều cao cây đạt 45,6 cm, đường kính thân đạt 6,4 mm và có ít nhất là 5,0 rễ/cây. Độ che sáng là 70% là tối ưu nhất, chiều cao cây, đường kính thân, chiều dài lá, chiều rộng lá và số rễ lần lượt đạt 47,6 cm/cây, 2,3 mm/cây, 13,8 cm/lá, 6,8 cm/lá và 5,6 rễ/cây.
-
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA CÀ DẠI QUẢ ĐỎ (Solanum capsicoides) TẠI HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Abstract : 21 PDF: 11Cà dại quả đỏ (Solanum capsicoides) thuộc họ Cà (Solanaceae) vừa có công dụng làm cảnh vừa là cây thuốc trong y học cổ truyền. Nghiên cứu này góp phần hoàn thiện dữ liệu khoa học về đặc điểm thực vật học của Cà dại quả đỏ cho danh lục các loài thực vật ở Việt Nam, làm cơ sở nhận biết cho người thu mẫu. Kết quả nghiên cứu cũng cung cấp dữ liệu về đặc điểm sinh trưởng và năng suất của Cà dại quả đỏ trong vụ xuân hè và thu đông tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Trong 2 thời vụ trồng thì Cà dại quả đỏ sinh trưởng mạnh hơn ở tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng (chiều cao cây 44,09 cm, đường kính thân 0,74 cm, số cành cấp 1 đạt 7,87 cành/cây, số lá trên thân chính 30,6 lá/cây, kích thước lá 11,19 x 11,52 cm) trong vụ xuân hè và cho năng suất cá thể cao hơn 1,3 - 1,5 lần so với vụ thu đông.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA MÀNG BAO SODIUM ALGINATE-CARBOXYMETHYL CELLULOSE ĐẾN SỰ THAY ĐỔI CHỈ TIÊU SINH LÝ VÀ HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA CỦA XOÀI CÁT HÒA LỘC SAU THU HOẠCH
Abstract : 15 PDF: 8Quả xoài được trồng cho mục đích thương mại ở nhiều quốc gia (trong đó có Việt Nam) do có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao như vitamin, chất xơ và các hợp chất có hoạt tính chống oxy hóa. Tuy nhiên, quá trình chín sau thu hoạch thúc đẩy nhanh sự hư hỏng, làm giảm chất lượng, hạn chế thời gian tồn trữ và ảnh hưởng đến giá trị kinh tế của quả xoài. Để duy trì chất lượng và kéo dài thời gian tồn trữ của quả xoài sau thu hoạch, nghiên cứu khảo sát ảnh hưởng của màng bao ăn được dựa trên sodium alginate-carboxymethyl cellulose (SA-CMC) đến sự thay đổi chỉ tiêu sinh lý và hoạt tính chống oxy hóa của xoài Cát Hòa Lộc sau thu hoạch đã được thực hiện ở điều kiện nhiệt độ 250C. Kết quả cho thấy, màng bao 2,0% SA - 0,25% CMC có hiệu quả làm chậm sự thay đổi sinh lý của xoài Cát Hòa Lộc trong suốt quá trình tồn trữ khi so với nghiệm thức đối chứng như giảm tốc độ hô hấp (157,21 mg CO2 kg-1h-1), giảm sự thay đổi màu sắc 11,04 lần và giảm sự gia tăng của hàm lượng chất khô hòa tan (14,5%) ở ngày 9, duy trì độ cứng cao hơn 5,1 lần và hàm lượng axit tổng số cao hơn 2,26 lần ở ngày thứ 6. Ngoài ra, màng bao 2,0% SA - 0,25% CMC đã duy trì được hoạt tính chống oxy hóa và hàm lượng của chlorophyll (81,07 mg kg-1), vitamin C (273,06 mg kg-1) và phenolics (478,12 mg kg-1) cao hơn nghiệm thức đối chứng trong suốt quá trình tồn trữ. Do vậy, màng bao 2,0% SA - 0,25% CMC có tiềm năng trong việc duy trì chất lượng, hoạt tính chống oxy hóa và kéo dài thời gian tồn trữ của xoài Cát Hòa Lộc sau thu hoạch.
-
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG NATRI ALGINATE BAO GÓI CHOCOLATE SAUCE TRONG CHẾ BIẾN VÀ TRANG TRÍ MÓN ĂN
Abstract : 22 PDF: 11Natri alginate là một sản phẩm từ tảo biển, có khả năng tạo gel khi tương tác với ion canxi. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tạo viên bao gói chocolate sauce và ứng dụng vào trong chế biến, trang trí món Chocolate Coffee Mousse Cake. Qua các thí nghiệm, viên chocolate sauce được chế biến với tỉ lệ chocolate syrup và chocolate chip 80 : 20, tỉ lệ hàm lượng natri alginate 1,25%, tỉ lệ dung môi canxi clorua 1,5% cho kết quả tốt nhất. Viên chocolate sauce có thể sử dụng kỹ thuật tạo viên từ xi lanh hoặc từ muỗng đo lường, tùy thuộc vào kích cỡ mong muốn của viên. Các viên chocolate sauce được sử dụng trong chế biến và trang trí món Chocolate Coffee Mousse Cake, kết quả nhận 48 lựa chọn ưa thích trong số 70 người thử.
-
SỰ PHÁT TRIỂN ỐNG TIÊU HÓA CỦA CÁ DÀY (Channa lucius) GIAI ĐOẠN CÁ BỘT ĐẾN 30 NGÀY TUỔI
Abstract : 16 PDF: 6Sự phát triển về hình thái và cấu trúc mô ống tiêu hóa của cá dày được theo dõi từ khi mới nở đến giai đoạn 30 ngày tuổi. Mẫu được thu mỗi ngày 40 cá thể vào ngày thứ 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 15, 20, 25, 30 sau khi nở. Dùng 10 mẫu cá để quan sát trực tiếp dưới kính hiển vi ghi nhận sự biến đổi hình thái ống tiêu hóa và 30 mẫu cá được cố định bằng dung dịch Bouin dùng nghiên cứu cấu trúc mô ống tiêu hóa. Tiêu bản cấu trúc mô ống tiêu hóa được thực hiện theo phương pháp cắt mỏng (5 µm) mẫu đúc vùi trong paraffin. Kết quả cho thấy, cá bột bắt đầu mở miệng vào ngày thứ 2 sau khi nở và đến đến ngày thứ 4 cá mới ăn thức ăn ngoài với cỡ miệng trung bình là 0,62+0,09 mm và chiều dài ruột tương đối Li/Lt là 0,47±0,01. Tại thời điểm này, ống tiêu hóa phân hóa thành 4 phần gồm xoang miệng, thực quản, dạ dày và ruột. Về cấu trúc mô học, vùng dạ dày được hình thành vào ngày tuổi thứ 4 và hoàn chỉnh chức năng ống tiêu hóa vào ngày tuổi thứ 20 với sự xuất hiện tuyến dạ dày.
-
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ PHÂN BỐ CÁC LOÀI CHIM TRONG BỘ GÀ TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN EA SÔ, TỈNH ĐẮK LẮK
Abstract : 22 PDF: 8Bộ Gà là một trong những bộ chim có nhiều loài nguy cấp, quý hiếm và có giá trị kinh tế, khoa học cao. Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Ea Sô được coi là một vùng chim quan trọng, đặc biệt là các loài chim trong bộ Gà. Tuy nhiên, các dữ liệu về tình trạng và phân bố của các loài chim quý hiếm còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu này được thực hiện trong năm 2022 nhằm cung cấp thông tin cập nhật về các loài chim trong bộ Gà tại Khu BTTN Ea Sô. Từ 27 điểm ghi âm, đã ghi nhận sự xuất hiện của 4 loài chim thuộc bộ Gà tại Khu BTTN Ea Sô, bao gồm: Gà rừng (Gallus gallus), Đa đa (Francolinus pintadeanus), Công (Pavo muticus) và Gà so ngực gụ (Arborophila chloropus). Đặc biệt, loài Công được ghi nhận ở 3 vị trí trong Khu BTTN Ea Sô. Qua điều tra thực địa và thông tin từ phỏng vấn người dân, có 5 mối đe dọa chính ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến các loài chim thuộc bộ Gà tại Khu BTTN Ea Sô được sắp xếp theo cấp độ ảnh hưởng từ cao tới thấp gồm: Săn bắt trái phép; khai thác gỗ trái phép; thu hái lâm sản ngoài gỗ; xâm lấn rừng làm nương rẫy và chăn thả gia súc. Để nâng cao hiệu quả bảo tồn các loài gà quý hiếm tại Khu BTTN Ea Sô, cần đồng thời triển khai các giải pháp, như xây dựng các chương trình giám sát đến nâng cao năng lực và giáo dục bảo tồn.
-
PHÂN CẤP XÓI MÒN TIỀM NĂNG ĐẤT PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Abstract : 19 PDF: 10Nghiên cứu nhằm mục đích phân cấp và thành lập bản đồ xói mòn tiềm năng đất dưới sự hỗ trợ của hệ thống thông tin địa lí (GIS) phục vụ định hướng sử dụng đất bền vững trong phát triển nông, lâm nghiệp ở huyện Hoài Ân, một huyện Trung du miền núi của tỉnh Bình Định. Nghiên cứu sử dụng phương trình mất đất phổ dụng (USLE) có sự vận dụng và cải tiến công thức tính lượng đất mất của I. A. Kornev với công thức tính toán đại lượng xói mòn tiềm năng: Y= K * S0,75 * L0,5 * R1,5. Khu vực nghiên cứu được chia thành 4 cấp xói mòn tiềm năng đất (thấp, trung bình, cao và rất cao). Kết quả nghiên cứu xác định được huyện Hoài Ân có mức độ xói mòn tiềm năng thấp, chiếm 51,35%, cấp xói mòn từ trung bình đến rất cao chiếm 48,65%. Đây là cơ sở khoa học cho định hướng phân cấp phòng hộ đầu nguồn trong sử dụng hợp lý tài nguyên đất ở huyện Hoài Ân với diện tích đất rừng phòng hộ xác định là 30.306,0 ha (tăng 249,2 ha so với định hướng quy hoạch), trong đó diện tích rừng phòng hộ rất xung yếu (PHRXY) là 5.116,2 ha (chiếm 16,9% diện tích đất phòng hộ), phòng hộ xung yếu (PHXY) là 25.190,46 ha. Đồng thời, nghiên cứu cũng đề xuất được các định hướng phát triển bền vững nông, lâm nghiệp trên địa bàn cũng như chỉ ra rằng việc kết hợp các nguồn dữ liệu có sẵn, sử dụng công thức cải tiến trong tính toán đại lượng tiềm năng xói mòn và GIS là một lựa chọn khả thi để tính toán xói mòn tiềm năng đất ở khu vực nghiên cứu.








