Số 18 (2023)
Bài viết
-
ĐẶC ĐIỂM NÔNG HỌC VÀ ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA TẬP ĐOÀN DÒNG NGÔ NẾP TÍM TẠI VIỆT NAM
Abstract : 23 PDF: 12Nghiên cứu này tiến hành đánh giá đặc điểm nông học của tập đoàn dòng ngô nếp tím tại Việt Nam nhằm phân nhóm đa dạng di truyền và chọn lọc dòng ngô nếp tím ưu tú. Thí nghiệm đồng ruộng đánh giá tập đoàn 100 dòng ngô nếp tím được bố trí tuần tự, không nhắc lại trong vụ xuân và vụ đông năm 2021 tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Kết quả phân tích tương quan cho thấy, năng suất cá thể có tương quan thuận và rất chặt với số hàng hạt/bắp, khối lượng 100 hạt và chiều dài bắp; chỉ số độ ngọt có tương quan nghịch với khối lượng 100 hạt và độ dày vỏ hạt. Sự tương quan thuận và chặt này là cơ sở để áp dụng phương pháp chọn lọc đa tính trạng. Phân nhóm đa dạng di truyền dựa trên kiểu hình bằng phương pháp phân cụm Ward dựa trên khoảng cách Euclidean đã phân tập đoàn dòng ngô nếp tím thành 7 nhóm chính biểu thị độ đa dạng rất cao. Chọn lọc dựa trên chỉ số MGIDI với áp lực chọn lọc 30% trong hai vụ xuân và đông năm 2021 đã chọn được 24 dòng ngô nếp tím ưu tú gồm: N012, N011, N013, N032, N100, N075, N030, N024, N095, N034, N005, N043, N069, N068, N072, N016, N014 N008, N040, N074, N029, N017, N066, N023, N094, N036, N007 và 4 dòng thuần đối chứng gồm: TD, Q2151, D161, D181.
-
KẾT QUẢ KHẢO NGHIỆM CÁC GIỐNG NHO KHÔNG HẠT CÓ TRIỂN VỌNG TẠI TỈNH NINH THUẬN
Abstract : 15 PDF: 8Đa dạng sản phẩm từ cây nho, việc tuyển chọn các giống nho không hạt có triển vọng tại tỉnh Ninh Thuận phục vụ cho mục đích nho ăn tươi, nho sấy khô là cần thiết. Thí nghiệm khảo nghiệm cơ bản được thực hiện từ năm 2018 - 2019 và khảo nghiệm sản xuất thực hiện từ năm 2022 - 2023 tại thôn Nha Hố, xã Nhơn Sơn, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Thí nghiệm khảo nghiệm cơ bản được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD), nhắc lại 3 lần, gồm 5 giống nho không hạt: NH04-61, NH04-70, NH04-77, NH04-78, NH04-128 và giống đối chứng là Cardinal; khảo nghiệm sản xuất bố trí theo ô lớn, không lặp lại. Kết quả nghiên cứu đã chọn được giống NH04-61 và NH04-128 sinh trưởng phát triển tốt, thích nghi với điều kiện canh tác tại tỉnh Ninh Thuận; không hạt, có mùi vị đặc trưng, phù hợp dùng cho ăn tươi hoặc sấy khô và có hiệu quả kinh tế cao. Giống NH04-61 có thời gian sinh trưởng từ 97,0 - 106,3 ngày; khối lượng chùm từ 276,7 - 298,0 g/chùm, năng suất đạt 12,1 - 15,5 tấn/ha/vụ, tổng lượng chất rắn hòa tan (TSS) đạt 16,6 - 17,00Brix. Giống NH04-128 có thời gian sinh trưởng từ 96,0 -101,3 ngày; khối lượng chùm từ 257,5 - 273,1 g, năng suất đạt 11,9 - 15,3 tấn/ha/vụ; TSS đạt từ 16,7 - 17,30Brix.
-
NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH NHÂN IN VITRO CÂY HÀNH CỦ (Allium cepa var. aggregatum)
Abstract : 15 PDF: 7Áp dụng phương pháp nhân in vitro tạo cây hành giống phục vụ sản xuất là giải pháp tăng chất lượng cây giống. Ba giống hành Hải Dương gồm: Hành Trắng, hành Tím và hành Xanh được sử dụng làm vật liệu nghiên cứu hoàn thiện quy trình nhân in vitro tạo cây giống hoàn chỉnh. Thử nghiệm các chất khử trùng cho thấy, NaOCl 3% khử mẫu trong 20 phút cho tỷ lệ mẫu sạch đạt 93,33% và tỷ lệ mẫu chết thấp 8,33%. Môi trường nhân chồi MS + 30 g/l sucrose + 5 g/l agar + 1,5 mg/l kinetine + 0,5 mg/l NAA cho tỷ lệ nảy chồi và hệ số nhân chồi cao nhất, lần lượt là 87,6 -93,3% và 9,5 - 10,5 chồi/mẫu. Môi trường tạo cây hoàn chỉnh tốt nhất cho các giống hành là MS + 30 g/l sucrose + 5 g/l agar + 2,0 mg/l NAA + 1,0 mg/l IBA. Công thức này cho tỷ lệ ra rễ dao động 95,58 - 97,5%, số lá từ 3,4 - 3,53 lá/mẫu, chiều cao cây từ 18,3 - 18,5 cm, số rễ từ 5,33 - 5,63 rễ/mẫu. Cây con hoàn chỉnh trồng trên giá thể gồm 25% xơ dừa + 25% tro + 50% đất phù sa có tỷ lệ sống 100%, số lá dao động 3,37 - 3,5 lá và chiều cao cây 13,5 - 13,7 cm sau hai tuần ươm cây. Quy trình nhân in vitro cây hành có hệ số nhân cao và cây con có sức sống tốt là tiền đề cho nghiên cứu khả năng ứng dụng vào thực tiễn sản xuất.
-
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH NGŨ GIA BÌ HƯƠNG (Acanthopanax gracilistylus W. W. Smith), TẠI HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG
Abstract : 17 PDF: 7Ngũ gia bì hương (Acanthopanax gracilistylus W. W. Smith) là cây thuốc thuộc diện quý hiếm cần bảo tồn và phát triển ở Việt Nam. Nghiên cứu nhân giống vô tính Ngũ gia bì hương được thực hiện thông qua các thí nghiệm về ảnh hưởng của thời vụ giâm hom, tuổi cây mẹ, vị trí và đường kính hom giâm; xử lý chất kích thích sinh trưởng. Các thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nghiên đầy đủ 3 lần nhắc lại. Thời gian thực hiện 2021 - 2022. Kết quả đã chỉ ra, giâm hom trong điều kiện vụ xuân, tuổi cây mẹ từ 3 tuổi trở lên, sử dụng loại hom giâm bánh tẻ gần gốc có đường kính 0,6 - 0,9 cm; xử lý chất kích thích ra rễ IBA 1.000 ppm, đạt tỷ lệ ra rễ, bật chồi và tỷ lệ xuất vườn cao nhất đạt 62,73%. Sau 60 - 75 ngày cây giống đạt tiêu chuẩn xuất vườn, cây giống có 1 - 3 chồi, cao 10 - 15 cm và 5 - 10 lá xanh.
-
NHÂN GIỐNG IN VITRO VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA CÂY GIỐNG BÁCH BỘ (Stemona tuberosa Lour.) NUÔI CẤY MÔ TẠI VƯỜN ƯƠM
Abstract : 15 PDF: 8Bách bộ (Stemona tuberosa Lour.) là cây dược liệu quý đang cần bảo tồn và phát triển của tỉnh An Giang. Nghiên cứu “Nhân giống in vitro và đánh giá khả năng sinh trưởng của cây giống Bách bộ (Stemona tuberosa Lour.) nuôi cấy mô tại vườn ươm” được thực hiện nhằm phát triển và sử dụng cây giống nuôi cấy mô trong điều kiện thực tiễn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cây Bách bộ có khả năng tái sinh chồi tốt nhất trên môi trường MS + 3 mg/l BA với 4,83 chồi sau 8 tuần nuôi cấy. Môi trường thích hợp nhất cho việc tạo rễ chồi Bách bộ là môi trường MS/2 + 1 mg/l NAA với số rễ trung bình là 7,67 rễ. Đối với giá thể sử dụng cho việc thuần dưỡng cây Bách bộ, kết quả nghiên cứu cho thấy, cát là giá thể cho tỷ lệ sống cao (66,67%), cây phát triển tốt chiều cao, lá và chồi. Bước đầu trồng thử nghiệm cây Bách bộ nuôi cấy mô ngoài vườn ươm cho thấy, giá thể cát + tro trấu + phân bò (tỉ lệ 1: 1: 1) rất thích hợp để trồng cây Bách bộ, giúp cho cây sinh trưởng và phát triển mạnh.
-
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY CHÔM CHÔM TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH VÀ CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
Abstract : 19 PDF: 6Kết quả điều tra đánh giá thực trạng sản xuất chôm chôm tại huyện Châu Thành và Chợ Lách, tỉnh Bến Tre cho thấy, diện tích, sản lượng chôm chôm có xu hướng giảm từ năm 2017 đến năm 2022 với 4 giống chôm chôm là: Java, Rongrien, Nhãn và các giống khác. Trong đó, giống Java và Rongrien được trồng phổ biến, chiếm 80 - 90% diện tích. Trên cây chôm chôm thường có 13 loài sâu, bệnh hại, trong đó có sâu đục quả, rệp sáp, bệnh cháy lá và giả phấn trắng phát sinh gây hại nặng với mức độ xuất hiện (+++). Để phòng trừ, đã sử dụng 34 hoạt chất với 79 loại thuốc bảo vệ thực vật; nhóm thuốc trừ sâu nhiều nhất 38 loại (chiếm 48,1%); nhóm thuốc trừ bệnh có 30 loại (chiếm 37,97%); nhóm thuốc dẫn dụ côn trùng ít nhất 2 loại (chiếm 2,53%) với số lần xử lý 7 - 9 lần/năm (Châu Thành) và 10 - 11 lần/năm (Chợ Lách). Nguyên nhân lớn nhất giảm diện tích trồng chôm chôm là do sự xâm nhập mặn, chuyển đổi sang cây trồng khác. Để phát triển bền vững và phát huy tiềm năng, lợi thế cây chôm chôm tại Bến Tre, cần chủ động kế hoạch và duy trì diện tích trồng 4.500 - 5.000 ha, xử lý xâm nhập mặn, áp dụng biện pháp kỹ thuật thâm canh, phòng trừ sâu, bệnh hại, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, ứng dụng công nghệ chế biến và bảo quản sau thu hoạch, phối hợp với các cơ quan quản lý, hiệp hội doanh nghiệp thúc đẩy quảng bá và xuất khẩu chôm chôm.
-
NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH SẢN XUẤT CHẾ PHẨM VI SINH ĐỐI KHÁNG VI KHUẨN GÂY BỆNH THỐI MỀM TRÊN CÂY LAN HỒ ĐIỆP (Phalaenopsis)
Abstract : 17 PDF: 9Nghiên cứu này được thực hiện nối tiếp nghiên cứu về phân lập tuyển chọn chủng giống vi khuẩn có khả năng đối kháng với vi khuẩn gây bệnh thối mềm trên cây hoa lan Hồ điệp nhằm mục đích tạo ra được chế phẩm sinh học phục vụ cho việc sản xuất cây hoa lan Hồ điệp, góp phần tăng giá trị kinh tế và bảo vệ môi trường cũng như sức khỏe người lao động. Kết quả đã xác định được điều kiện nhân giống cấp 1 và cấp 2 cho các đối tượng nghiên cứu bao gồm: pH môi trường thích hợp là 7; tốc độ lắc 150 vòng/phút; thời gian 48 giờ, nhiệt độ 300C; tỷ lệ tiếp giống 3% và môi trường canh thang thường cho ĐK1, môi trường King B cho ĐK2. Điều kiện lên men sinh khối để sản xuất chế phẩm là môi trường nước chiết giá đỗ cho ĐK1, nước chiết khoai tây cho ĐK2, tốc độ cánh khuấy 150 vòng/phút, thời gian 48 giờ, ở nhiệt độ 300C, tỷ lệ tiếp giống 10%. Chế phẩm sinh học dùng để phòng, trừ bệnh thối mềm trên cây lan Hồ điệp được sản xuất từ hỗn hợp sinh khối hai chủng là 1:1 (theo thể tích) được bảo quản ở nhiệt độ phòng, nơi thoáng mát, sau 6 tháng mật độ vi sinh vật hữu ích đạt được từ 7,76 - 8,12 x 108 CFU/mL, mật độ vi sinh vật tạp ở mức 1,5 x 103 CFU/mL - 2,6 x 103 CFU/mL, đạt chất lượng theo tiêu chuẩn hiện hành.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ƯƠNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ DÌA (Siganus guttatus) GIAI ĐOẠN CÁ BỘT ĐẾN CÁ HƯƠNG
Abstract : 19 PDF: 8Nghiên cứu này nhằm xác định mật độ ương của cá dìa (Siganus guttatus) từ giai đoạn cá bột đến cá hương 30 ngày tuổi. Thí nghiệm được bố trí gồm 12 bể với 4 mật độ khác nhau, NT1: 5 con/L; NT2: 10 con/L, NT3: 15 con/L và NT4: 20 con/L. Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi ương cá dìa ở mật độ 5 và 10 con/L giúp cá tăng trưởng tốt về chiều dài (19,31 và 19,37 mm/con) tỷ lệ sống đạt 5,07 và 5,60%, cao hơn so với các mật độ 15 và 20 con/L có chiều dài chỉ đạt lần lượt là 18,59; 17,93 mm/con, tỷ lệ sống đạt 3,78 và 3,07%.
-
MỘT SỐ DẪN LIỆU VỀ ĐẶC ĐIỂM PHỔ ÂM THANH, PHÂN BỐ VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN LOÀI TRĨ SAO (Rheinardia ocellata) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN KON CHƯ RĂNG, TỈNH GIA LAI
Abstract : 12 PDF: 10Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Kon Chư Răng có diện tích 15.446 ha, là nơi cư trú của nhiều loài động vật nguy cấp, quý, hiếm trong đó có Trĩ sao (Rheinardia ocellata). Kết quả nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3/2021 đến tháng 6/2023 đã xác định Trĩ sao có 2 loại tiếng kêu, gồm tiếng kêu ngắn và tiếng kêu dài. Tiếng kêu ngắn có biên độ tần số âm thanh dao động từ 691,93 - 1.613 hz; kéo dài trung bình 1,51 giây. Tiếng kêu dài có trung bình có 6,21 âm; mỗi âm có biên độ tần số từ 774,35 - 1.213,33 hz; độ dài mỗi âm trung bình là 1,26 giây; khoảng thời gian nghỉ (độ dài quãng nghỉ) trung bình giữa âm các là 0,39 giây; độ dài tiếng kêu trung bình là 9,84 giây. Trĩ sao phân bố từ độ cao trên 700 m, tập trung ở độ cao từ 800 - 1.000 m so với mực nước biển, thuộc 10 tiểu khu của Khu BTTN Kon Chư Răng. Hiện nay, có 5 mối đe dọa đến Trĩ sao tại Khu BTTN Kon Chư Răng, trong đó săn bắt trái phép động vật hoang dã và du lịch sinh thái là hai mối đe dọa lớn nhất đến sự tồn tại và phát triển của loài. Trên cơ sở đó, 4 nhóm giải pháp chủ yếu được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và Trĩ sao nói riêng tại Khu BTTN Kon Chư Răng.
-
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG BÙN THẢI NHÀ MÁY NƯỚC CẤP ĐỂ CHẾ TẠO VẬT LIỆU HẤP PHỤ PHOSPHATE TRONG MÔI TRƯỜNG NƯỚC
Abstract : 15 PDF: 9Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá khả năng hấp phụ lân (PO43-) trong dung dịch của bùn thải nhà máy xử lý nước cấp. Bùn thải được thu thập tại nhà máy xử lý nước cấp Châu Đốc và được sấy ở 1050C tại phòng thí nghiệm trước khi nung trong thời gian 2 giờ ở nhiệt độ 3000C và 5500C trong điều kiện thường và 5500C trong môi trường khí nitơ. Các thí nghiệm lần lượt được tiến hành để xác định các yếu tố ảnh hưởng, gồm: Thời gian tiếp xúc, điều kiện nung, pH của dung dịch đến hiệu suất loại bỏ PO43-. Kết quả thí nghiệm cho thấy, quá trình hấp phụ đạt đến trạng thái bão hòa sau thời gian tiếp xúc khoảng 12 giờ. Bùn nung ở nhiệt độ 3000C có khả năng hấp phụ PO43- tốt hơn so với 2 điều kiện còn lại trong thí nghiệm. Tại giá trị pH=3,0, hiệu suất hấp phụ đạt cao nhất và giảm dần khi pH tăng. Kết quả phân tích động học hấp phụ của vật liệu nung 3000C để loại bỏ PO43- cho thấy, quá trình hấp phụ tuân theo mô hình động học biểu kiến bậc một với hệ số tương quan (R2 =0,969). Hấp phụ PO43- trên bùn nung 3000C tuân theo mô hình đẳng nhiệt Langmuir (R2=0,998). Kết quả nghiên cứu cho thấy, vật liệu hấp phụ chế tạo từ bùn thải của nhà máy cấp nước hấp phụ tốt để loại bỏ PO43- trong trong dung dịch.








