Số 15 (2023)
Bài viết
-
ỨNG DỤNG CHỈ SỐ CHỌN LỌC KIỂU HÌNH TRONG CHỌN GIỐNG LÚA NĂNG SUẤT CAO
Abstract : 24 PDF: 8Chọn tạo giống lúa cao sản là góp phần vào mục tiêu an ninh lương thực trên toàn thế giới. Năng suất (NS) và các tính trạng liên quan đến NS rất khó dự đoán và cần phải qua những bước phân tích và khảo nghiệm thực tế để đánh giá chính xác hơn. Nghiên cứu sử dụng SI trên 27 dòng lúa ưu tú được chia sẻ từ IRRI - ASEAN RiceNet. Kết quả cho thấy, tất cả dòng lúa có sự khác biệt lớn về mặt di truyền. Hbs2 được ghi nhận cho các tính trạng từ 23 - 93%. NS có mối tương quan thuận và ý nghĩa với tỷ lệ thụ phấn (TLTP). Phân nhóm hệ số di truyền chia thành 6 nhóm chính cho 8 tính trạng. Hệ số Path cho thấy, các tính trạng ảnh hưởng theo chiều hướng thuận và trực tiếp đến NS dao động từ 0,10 - 0,31. Phân tích SI tuyển chọn được 2 dòng lúa ưu tú có SI cao nhất 4,03 (SV1058) và 7,62 (SV1951), với NS trung bình 5,88 và 5,62 tấn/ha. Hai dòng này có thời gian sinh trưởng (TGST) thuộc nhóm A1 và chống chịu tương đối với sâu, bệnh hại chính trong điều kiện đánh giá thực tế trên đồng ruộng và có PACP chấp nhận được. Đây được xem nguồn vật liệu mới có thể dùng để làm vật liệu lai hoặc tiếp tục đánh giá thêm vụ kế tiếp và vùng sinh thái trước khi phóng thích.
-
NGHIÊN CỨU TÍNH KHÁNG BỆNH BẠC LÁ CỦA CÁC DÒNG LÚA TBR225 ĐỘT BIẾN PROMOTER OsSWEET14
Abstract : 25 PDF: 14Xanthomonas oryzae pv. oryzae (Xoo) gây ra bệnh bạc lá lúa thông qua tương tác đặc hiệu giữa các TAL effector (transcription activator-like effector) và trình tự EBE (effector binding element) nằm trên vùng promoter của các gen thuộc họ gen mã hóa protein vận chuyển đường SWEET (Sugars will eventually be exported transporter), trong đó có gen OsSWEET14. Sử dụng công cụ CRISPR/Cas9 để gây đột biến một số trình tự đặc hiệu trên promoter này có thể vô hiệu hóa tính độc của các TAL effector giúp cây trồng kháng được bệnh bạc lá lúa. Đây là hướng nghiên cứu đầy triển vọng để cải thiện tính kháng bạc lá phổ rộng của các giống lúa chủ lực của Việt Nam, đặc biệt là giống lúa nhạy cảm với bệnh bạc lá như TBR225. Trong nghiên cứu trước đây, đã tạo được một số dòng lúa TBR225 chỉnh sửa gen thế hệ T1 mang đột biến tại vị trí EBE AvrXa7/Tal5 trên promoter OsSWEET14. Trong nghiên cứu này, phân tích trên dòng lúa TBR225 chỉnh sửa gen ở thế hệ T2 đã chứng tỏ các đột biến trên promoter OsSWEET14 không làm thay đổi các chỉ tiêu nông học cơ bản của cây. Sáu dòng lúa TBR225 chỉnh sửa gen T2 không thay đổi mức độ biểu hiện gen đích OsSWEET14 khi được lây nhiễm với vi khuẩn Xoo và thể hiện tính kháng hoàn toàn với isolate VXO_11, kháng nhẹ hoặc không kháng với isolate VXO_80 và VXO_100. Kết quả thu được là tiền đề cho nghiên cứu phát triển giống lúa TBR225 kháng bạc lá trong tương lai.
-
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO VÀ KHẢO NGHIỆM GIỐNG DƯA LÊ VÀNG LAI HAPPY 8
Abstract : 19 PDF: 8Giống dưa lê vàng Happy 8 được chọn tạo từ tổ hợp lai (THL) P3-3-1/P17-11-7-6 có thời gian sinh trưởng 70 - 80 ngày, cho thu quả sớm sau trồng từ 60 - 65 ngày, sai quả đạt 4,7 - 6,5 quả/cây, khối lượng quả trung bình 470 - 526 g, năng suất cao trong cả vụ xuân hè và vụ thu đông trồng trong nhà màng đạt 30,8 - 34,2 tấn/ha. Quả hình trụ, màu vàng đậm sọc trắng đẹp, chất lượng quả ăn giòn, ngọt (tổng chất rắn hòa tan - TSS > 140Brix), có mùi thơm. Giống có khả năng chịu nóng và chịu bệnh tốt, đặc biệt là bệnh phấn trắng. Giống dưa lê vàng Happy 8 thể hiện sự ổn định tại các mùa vụ và các điểm khảo nghiệm vùng sinh thái.
-
PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN CÁC CHỦNG VI SINH VẬT ĐỐI KHÁNG VÀ PHÂN GIẢI TINH BỘT TỪ CÁC MẪU ĐẤT THU THẬP TẠI LÀO
Abstract : 20 PDF: 12Mục tiêu của nghiên cứu là bổ sung các vi sinh vật hữu ích cho bộ sưu tập vi sinh vật của Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào, phục vụ công tác nghiên cứu, sử dụng trong sản xuất nông nghiệp của hai nước. Bài báo trình bày kết quả phân lập và tuyển chọn các chủng vi khuẩn có khả năng đối kháng vi khuẩn Ralstonia solanacearum, nấm Fusarium oxysporum và phân giải tinh bột từ 150 mẫu đất thu thập tại tỉnh Sayaboury, Luangnamtha và Bokeo, CHDCND Lào. Kết quả đã lựa chọn được 17 chủng vi khuẩn có hoạt tính đối kháng, trong đó, 6 chủng ký hiệu SA21, SA35, BK50, LN06, LN07 và LN92 có hoạt tính cao nhất với đường kính vòng đối kháng đạt từ 14 - 19 mm đối với vi khuẩn R. solanacearum và từ 19 - 23 mm đối với nấm F. oxysporum. 6 chủng vi khuẩn này đồng thời có khả năng phân giải tinh bột với đường kính vòng phân giải đạt 22 - 26 mm. Các chủng vi khuẩn tuyển chọn có hiệu quả phòng trừ đạt 54,5-63,7% đối với bệnh do vi khuẩn R. solanacearum gây ra và 52,4 - 62% đối với bệnh do nấm F. oxysporum gây ra. Trong điều kiện sử dụng tổ hợp các vi sinh vật đối kháng tuyển chọn, hiệu quả phòng trừ đạt 81,8% đối với bệnh do vi khuẩn R. solanacearum và 71,4% đối với bệnh do nấm F. oxysporum gây ra. Các chủng vi khuẩn tuyển chọn được định danh là Bacillus amyloliquefaciens BK50; Bacillus subtilis LN06; Bacillus subtilis BK98; Bacillus siamensis LN07; Bacillus subtilis SA21, Pseudomonas fluorescens SA35 và được xác định thuộc nhóm vi khuẩn an toàn sinh học cấp độ 1, được phóng thích không hạn chế vào môi trường.
-
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CỦA VIRUS, VI KHUẨN GÂY SUY THOÁI VÙNG CAM TẠI HÀ GIANG
Abstract : 17 PDF: 12Để nghiên cứu đặc điểm của virus và vi khuẩn gây suy thoái vùng cam tại Hà Giang, đã tiến hành thu thập các mẫu rễ và lá cam tại 3 huyện trồng cam của tỉnh Hà Giang là Vị Xuyên, Quang Bình và Bắc Quang. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi kiểm tra bằng PCR và RT - PCR trên 42 mẫu có triệu chứng thu thập tại 3 huyện Bắc Quang, Vị Xuyên và Quang Bình, tỉnh Hà Giang đã xác định được 24 mẫu (51,7%) nhiễm Ca.Las và 6 mẫu (14,3%) nhiễm Citrus tristeza virus (CTV). Ca.Las là nguyên nhân quan trọng cản trở sản xuất cam tại Hà Giang; Ca.Las được phát hiện thấy trên tất cả các giống cây ăn quả có múi tại 3 huyện (Bắc Quang, Vị Xuyên và Quang Bình), gồm cam chín sớm CS1, cam chín muộn V2 và chanh ta nhiễm 100%; cam Xã Đoài nhiễm 66,7%, cam Sành nhiễm 50%, chỉ có giống quýt chum không bị nhiễm. Tại điểm thu mẫu thuộc huyện Quang Bình, mức độ nhiễm Ca.Las là 16,7%, thấp hơn nhiều so với các điểm thu mẫu thuộc 2 huyện còn lại (50 - 80%).
-
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH HIỆU LỰC PHÒNG TRỪ RUỒI ĐỤC QUẢ CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC TẠI TỈNH NINH THUẬN
Abstract : 22 PDF: 9Nội dung nghiên cứu được thực hiện trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng năm 2021 tại tỉnh Ninh Thuận. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 4 loại thuốc có hiệu lực phòng trừ ruồi đục quả táo gồm: Lufenuron (Match® 050 EC có hiệu lực 90,1%), tiếp đến là các công thức Abamectin (Abatimec 1.8 EC có hiệu lực 83,3%), Emamectin benzoate (Actimax 50 WG có hiệu lực 81,0%) và Chlorantraniliprole (DupontTMPrevathon 5 SC có hiệu lực 80,6%) sau 14 ngày xử lý. Do đó, trong sản xuất nếu vườn táo bị ruồi đục quả gây hại với tỷ lệ khoảng 5% thì tiến hành sử dụng một trong các loại thuốc có hoạt chất Lufenuron, Abamectin, Emamectin benzoate và Chlorantraniliprole để phòng trừ. Chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nằm trong danh mục thuốc được phép sử dụng tại Việt Nam và được đăng ký sử dụng trên cây táo của Bộ Nông nghiệp và PTNT.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA 3 AXIT AMIN HISTIDINE, CYSTEINE, METHIONINE LÊN HÀM LƯỢNG ERGOTHIONEINE SINH TỔNG HỢP BỞI NẤM MỐC ASPERGILLUS ORYZAE TRÊN MÔI TRƯỜNG PHỤ PHẨM TINH BỘT GẠO
Abstract : 22 PDF: 11Aspergillus oryzae là loài vi sinh vật khá quen thuộc với con người, đặc biệt, chúng tiết ra hợp chất ergothioneine (ESH), với khả năng chống oxy hóa, kháng viêm, chống lại tác động của tia UV, tia phóng xạ và có vai trò trong nhiều bệnh lí. Sử dụng phương pháp bề mặt đáp ứng (RSM) để bố trí thí nghiệm nhằm xác định ảnh hưởng của nồng độ các chất cảm ứng bổ sung vào môi trường nuôi cấy sinh tổng hợp. Nghiên cứu được thực hiện trên môi trường phụ phẩm tinh bột gạo, nhằm nâng cao hàm lượng ergothioneine được sinh tổng hợp bởi Aspergillus oryzae yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh tổng hợp được khảo sát gồm: Tỷ lệ ba axit amin cảm ứng là histidine, cysteine, methionine với hàm lượng dao động từ 0 - 120 mg/20 g mẫu. Kết quả cho thấy, khi bổ sung 3 axit amin histidine, cysteine, methionine với tỷ lệ tương ứng là 120; 54,38 và 83,04 mg tạo hàm lượng ESH tối ưu 446,03 mg/100 g chất khô sau khi sinh tổng hợp bằng A. oryzae.
-
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH NGUỒN CÁC BON PHÙ HỢP LÀM NGUYÊN LIỆU ĐỂ NÂNG CAO TỶ LỆ CHUYỂN HÓA BIOFLOC TRONG AO NUÔI TÔM THẺ SIÊU THÂM CANH
Abstract : 21 PDF: 8Để giảm hệ số chuyển hóa thức ăn và giảm thiểu lượng chất thải, nguồn các bon tối ưu nhưng sẵn có và rẻ tiền cần được nghiên cứu để ứng dụng tạo sinh khối biofloc. Thí nghiệm xác định nguồn các bon phù hợp làm nguyên liệu gồm 2 nghiệm thức: NT1 dùng glycerol; NT2 dùng mật rỉ đường. Đối tượng nghiên cứu: tôm thẻ chân trắng, kích cỡ giống thả 1-1,2 g/con, diện tích ao thí nghiệm 1.250 m2, mật độ 200 con/m2, thời gian 60 ngày. Kết quả, kích cỡ tôm thu hoạch ở nghiệm thức 2 (22,17 g/con) cao hơn nghiệm thức 1 (21,83 g/con) sự khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05). Tỷ lệ sống tôm nuôi đạt trên 92%, FCR < 1 và sự khác biệt giữa 2 nguồn nguyên liệu cung cấp các bon là không có ý nghĩa (p>0,05). Năng suất và sản lượng ở nghiệm thức 2 cao hơn nghiệm thức 1 nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05). Do đó, khuyến cáo có thể sử dụng glycerol hoặc mật rỉ đường để bổ sung cho ao nuôi nhằm gây biofloc, liều lượng tùy thuộc vào lượng thức ăn cho tôm ăn. Tuy nhiên, mật rỉ đường là nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương nhưng cần kiểm tra chất lượng mật rỉ đường (hàm lượng các bon >35%, không chứa tạp chất, không sử dụng hóa chất để tẩy màu trong quá trình sản xuất) trước khi sử dụng.
-
ỨNG DỤNG VIỄN THÁM VÀ GIS NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG ĐƯỜNG BỜ BIỂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
Abstract : 16 PDF: 11Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá biến động đường bờ biển từ năm 2000 đến năm 2020 tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu ảnh viễn thám Landsat 7, Landsat 8 và Sentinel 2B, đồng thời sử dụng phương pháp tạo ảnh tỷ số cùng với sự hỗ trợ của các chức năng phân tích không gian trong Hệ thống thông tin địa lý (GIS). Kết quả cho thấy, biến động đường bờ biển thành phố Nha Trang đang diễn ra cục bộ, diện tích bồi tụ tập trung lớn tại một số khu vực nhất định là do yếu tố nhân sinh. Phần lớn đường bờ biển còn lại hiện tượng xói lở có diễn ra nhưng không lớn, chủ yếu ở cấp độ trung bình, song song và đan xen với bồi tụ, tỷ lệ xói lở và bồi tụ gần xấp xỉ nhau và trải dọc theo đường bờ. Tuy nhiên, từ năm 2000 đến năm 2020 diện tích xói lở không ngừng tăng lên, diễn biến phức tạp. Đây là vấn đề đáng lưu tâm cho các nhà hoạch định chính sách.
-
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM HOÀN THIỆN MÔ HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ, KHAI THÁC CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC SẠCH NÔNG THÔN THEO ĐỊA BÀN
Abstract : 22 PDF: 8Quản lý, khai thác bền vững các công trình cấp nước sạch nông thôn (CTCNSNT) là một trong những giải pháp quan trọng nhằm đảm bảo mục tiêu cấp nước và hiệu quả đầu tư công trình góp phần đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống người dân, tránh lãng phí và góp phần xây dựng nông thôn mới bền vững. Đến nay, tại các vùng nông thôn nước ta cơ bản đã hình thành một số loại mô hình tổ chức quản lý, khai thác CTCNSNT như: Đơn vị sự nghiệp, UBND xã, hợp tác xã, cộng đồng, doanh nghiệp/tư nhân. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế - xã hội mỗi địa bàn nông thôn khác nhau nên có sự phát triển các mô hình đặc thù, việc xác định và lựa chọn được mô hình tổ chức quản lý, vận hành CTCNSNT phù hợp điều kiện vùng miền, địa bàn là một trong những yếu tố quyết định đến hiệu quả công trình. Để phát triển cấp nước sạch nông thôn trong giai đoạn tới cần đánh giá và hoàn thiện các mô hình về giá nước sạch, giảm thiểu thất thoát, thất thu nước sạch thông qua quản lý đấu nối gắn với các chế tài xử lý vi phạm, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, tiếp thị mở rộng đấu nối sử dụng nước và lộ trình chuyển đổi, tái cấu trúc tổ chức mô hình theo xu hướng phát triển của xã hội,...
-
ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG VÀ MỨC ĐỘ RỦI RO DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG MIỀN NÚI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Abstract : 24 PDF: 11Nghiên cứu này đánh giá tác động và tính dễ bị tổn thương và mức độ rủi ro do biến đổi khí hậu (BĐKH) ở một số địa phương miền núi của tỉnh Thừa Thiên Huế. Tính dễ bị tổn thương được định lượng theo hướng dẫn của Thông tư số 01/2022/TT-BTNMT, của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Nghiên cứu được thực hiện tại 5 xã thuộc 2 huyện miền núi của tỉnh Thừa Thiên Huế. Dữ liệu được thu thập từ cuộc khảo sát, phỏng vấn, tham vấn và hệ thống giám sát và đánh giá (GSĐG) thích ứng BĐKH của tỉnh. Dữ liệu được chuẩn hóa và tính toán các chỉ số tổn thương và khả năng thích ứng. Các trọng số của từng nhóm chỉ số cấp 2 được xác định bằng phương pháp phân tích thứ bậc (AHP). Kết quả nghiên cứu cho thấy, các địa phương miền núi có mức rủi ro và hiểm hoạ từ BĐKH là rất cao, trong khi chỉ số tổn thương nằm ở mức trung bình. Tuy nhiên, chỉ số khả năng thích ứng tương đối tốt. Phát hiện này có thể hỗ trợ xây dựng chính sách nâng cao khả năng thích ứng và đối phó với tác động tiêu cực của địa phương miền núi tỉnh Thừa Thiên Huế.








