Số 8 (2023)

					Xem Số 8 (2023)
Đã Xuất bản: 29-04-2023

Bài viết

  • KHẢ NĂNG CHỊU MẶN TỪ GIAI ĐOẠN TĂNG TRƯỞNG ĐẾN THU HOẠCH CỦA BA GIỐNG LÚA MÙA ĐỐC PHỤNG, CAM MẴN, MỘT BỤI LÙN THU THẬP TẠI HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

    Abstract : 10 PDF: 10
    Quan Thị Ái Liên, Lê Việt Dũng, Phạm Vũ Khương Duy
    3-12

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu chọn được giống lúa mùa có khả năng chịu mặn giai đoạn tăng trưởng đến thu hoạch ≥ 4‰. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu lô phụ với 3 lần lặp lại. Lô chính là độ mặn gồm 3 nồng độ 0‰, 4‰ và 6‰. Lô phụ gồm 5 giống lúa: Một Bụi Lùn, Cam Mẵn, Đốc Phụng, Pokkali (chuẩn kháng), IR28 (chuẩn nhiễm). Ghi nhận các chỉ tiêu nông học thành phần năng suất và năng suất của nghiệm thức đối chứng không xử lý mặn và hai nghiệm thức xử lý mặn. Kết quả ghi nhận cả 3 giống lúa Đốc Phụng, Cam Mẵn và Một Bụi Lùn có khả năng chịu mặn ở nồng độ 4‰ và 6‰ ở giai đoạn tăng trưởng đến thu hoạch cho năng suất không giảm quá 50% so với đối chứng 0‰. Giống Cam Mẵn ở nồng độ 0‰ đạt năng suất là 32,8 g/bụi, ở nồng độ 4‰ là 24,9 g/bụi và ở nồng độ 6‰ đạt 20,1 g/bụi. Giống Đốc Phụng đạt 23,2 g/bụi ở nồng độ 0‰, ở nồng độ 4‰ là 22,8 g/bụi và ở nồng độ 6‰ là 20 g/bụi. Giống Một Bụi Lùn ở nồng độ 0‰ năng suất đạt 17 g/bụi, ở nồng độ 4‰ là 15,7 g/bụi và ở nồng độ 6‰ là 13,3 g/bụi.

    DOI: https://doi.org/10.71254/mw78wf40
  • BIẾN DỊ DI TRUYỀN VỀ SINH TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG THÂN CÂY THÔNG CARIBÊ (Pinus caribaea Morelet) TRONG CÁC KHẢO NGHIỆM HẬU THẾ TẠI BA VÌ, HÀ NỘI VÀ ĐẠI LẢI, VĨNH PHÚC

    Abstract : 17 PDF: 11
    Trần Đức Vượng, Nguyễn Đức Kiên, Hà Huy Thịnh, Dương Hồng Quân, Cấn Thị Lan
    13-22

    Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá được mức độ biến dị và khả năng di truyền của các tính trạng sinh trưởng và chất lượng thân cây ở Thông caribê. Nghiên cứu được tiến hành trên 2 khảo nghiệm hậu thế tại Ba Vì, Hà Nội và Đại Lải, Vĩnh Phúc. Kết quả cho thấy, có sự phân hóa rõ rệt về sinh trưởng và chất lượng thân cây giữa các nguồn hạt giống và gia đình ở cả 2 khảo nghiệm hậu thế. Nhóm 10 gia đình ưu việt về thể tích thân cây ở cả 2 khảo nghiệm hậu thế vượt  từ 45,7 - 62,7% so với trung bình toàn khảo nghiệm và vượt từ 311,5 - 349,5% so với nhóm 10 gia đình sinh trưởng kém nhất. Thể tích thân cây của 10 gia đình ưu trội đạt 40,1 dm3/cây tại Đại Lải, Vĩnh Phúc và 54,1 dm3/cây tại Ba Vì, Hà Nội. Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp của các tính trạng sinh trưởng ở cả 2 khảo nghiệm hậu thế đều ở mức thấp tới trung bình (0,00 - 0,46) và tăng nhẹ theo cấp tuổi. Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp của các tính trạng độ thẳng thân và độ nhỏ cành đều ở mức thấp, nhưng hệ số biến động di truyền lũy tích  của các tính trạng này lại khá cao (CVa > 5%). Tương quan di truyền giữa 2 lập địa Ba Vì, Hà Nội và Đại Lải, Vĩnh Phúc là chặt đối với các chỉ tiêu sinh trưởng chứng tỏ mức độ tương tác kiểu gen - hoàn cảnh là yếu. Các kết quả này cho thấy, khả năng cải thiện giống Thông caribê ở Việt Nam thông qua chọn lọc cây trội trong các rừng trồng là hoàn toàn khả thi.

    DOI: https://doi.org/10.71254/xscdb024
  • ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG PHÂN VÔ CƠ KẾT HỢP VỚI PHÂN HỮU CƠ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT KIỆU (Allium chinense) TẠI HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

    Abstract : 10 PDF: 9
    Võ Thị Bích Thủy, Võ Thành Minh Quân, Nguyễn Thị Minh Châu, Trần Thị Ba
    23-30

    Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp nhằm xác định liều lượng phân hóa học và loại phân hữu cơ đến sinh trưởng và năng suất kiệu. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu lô phụ với với 4 lần lặp. Trong đó, nhân tố  chính gồm 3 tổ hợp  phân hóa học với lượng bón trên ha: (i) 108 kg N + 160 kg P2O5 + 220 kg K2O (100% bón theo nông dân); (ii) 80 kg N + 120 kg P2O5 + 165 kg K2O (75% lượng phân bón nông dân sử dụng); (iii) 54 kg N + 80 P2O5 + 110 K2O (50% lượng phân bón nông dân đang sử dụng), nhân tố phụ gồm các loại phân hữu cơ: (i) Phân hữu cơ khoáng theo nông dân - 500 kg/ha; (ii) Phân hữu cơ Biochar: 1.000 kg/ha; (iii) Không bón phân hữu cơ. Kết quả cho thấy, không có tương tác của công thức phân vô cơ và loại phân hữu cơ đến các chỉ tiêu về sinh trưởng và năng suất kiệu. Tuy nhiên, có khác biệt của các nghiệm thức ở từng nhân tố đơn lẻ trong thí nghiệm. Ở công thức phân vô cơ, nghiệm thức bón 80 + 120 + 165 NPK/ha cho kết quả khối lượng bụi kiệu, khối lượng củ/bụi và năng suất kiệu - tương đương nghiệm thức bón 108 + 160  + 220 NPK/ha (39,4 và 39,5 tấn/ha, tương ứng), cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức bón 54 + 80 + 110 NPK (31,3 tấn/ha). Đối với nhân tố loại phân hữu cơ, việc sử dụng Biochar cho kết quả năng suất kiệu thực tế (44,1 tấn/ha) cao hơn so với sử dụng phân hữu cơ khoáng theo nông dân (37,6 tấn/ha), việc sử dụng phân hữu cơ làm tăng năng suất kiệu, cao gấp 1,17 - 1,28 lần so với việc không bón hữu cơ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/z3jn5t55
  • ẢNH HƯỞNG CỦA HỖN HỢP RUỘT BẦU VÀ PHÂN BÓN ĐẾN CHẤT LƯỢNG CÂY GIỐNG QUẾ TRONG GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM

    Abstract : 12 PDF: 8
    Nguyễn Tài Luyện, Nguyễn Đắc Triển, Nguyễn Thị Xuân Viên, Ngô Thế Long
    31-40

    Quế (Cinnamomum cassia) là loài cây đa tác dụng, thuộc danh mục cây trồng lâm nghiệp chính ở một số vùng sinh thái ở Việt Nam. Trong những năm gần đây, nhu cầu trồng quế ở các tỉnh: Lào Cai, Yên Bái và Phú Thọ rất lớn và yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng cây giống ngày càng cao, do vậy việc nghiên cứu thành phần hỗn hợp ruột bầu và phân bón thúc cho cây con quế trong giai đoạn vườn ươm là rất cần thiết. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thành phần hỗn hợp ruột bầu gồm 60% vỏ keo + 30% trấu + 10% phân chuồng là tốt nhất, sau 12 tháng tuổi nuôi dưỡng trong vườn ươm, tỷ lệ sống đạt 95,10%, đường kính gốc đạt 3,41 mm, chiều cao đạt 33,40 cm, mỗi cây có 12,87 lá, tỷ lệ số cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn là 73,10%. Ngoài ra, sử dụng phân bón thúc NPK (13: 13: 13 + TE) cho kết quả tốt nhất, sau 12 tháng trong vườn ươm, tỷ lệ sống đạt 92,33%, đường kính gốc đạt 3,42 mm, chiều cao đạt 35,53 cm, mỗi cây có 14,34 lá, tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn là 81,67%. Có thể tận dụng các chất hữu cơ phế liệu làm hỗn hợp ruột bầu vừa giảm khối lượng bầu khi vận chuyển đi trồng, vừa tận dụng các phế liệu sẵn có ở địa phương, vừa nâng cao chất lượng cây giống phục vụ trồng rừng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/400bdb66
  • TỐI ƯU HÓA PHẢN ỨNG THỦY PHÂN SỤN KHỚP CHÂN GÀ VỚI XÚC TÁC ENZYME PROTAMEX NHẰM THU DỊCH AXIT AMIN

    Abstract : 20 PDF: 13
    Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Thị Kim Chi, Bùi Viết Cường, Bùi Xuân Đông
    41-50

    Nghiên cứu được tiến hành với mục đích tối ưu hóa phản ứng thủy phân sụn khớp chân gà với xúc tác enzyme Protamex nhằm thu dịch axit amin. Các yếu tố ảnh hưởng đến phản ứng thủy phân sụn khớp chân gà được lựa chọn để tối ưu: Nhiệt độ phản ứng (°C), pH môi trường phản ứng, tỉ lệ enzyme (%, dựa trên cơ chất), thời gian phản ứng (phút) và tỉ lệ thể tích môi trường phản ứng: cơ chất (mL: g). Phương trình hồi quy: H = – 27,6 + 0,81X1 – 3,74X2 + 48,0X3 + 0,303X4 + 0,134X5 + 0,22X1X2 - 2,13X1X3 - 0,0365X1X4 - 0,00865X1X5 - 0,88X2X3 + 0,0084X2X4 + 0,0076X2X5 - 1,406X3X4 + 0,207X3X5 + 0,00902X4X5 + 0,0241X21 - 0,481X22 + 68,1X23 + 0,01363X24 + 0,00043X25, trong đó, H: Hiệu suất thu nhận nitơ axit amin (%), X1: Nhiệt độ phản ứng (°C), X2: pH môi trường phản ứng, X3: Tỉ lệ enzyme (%, dựa trên cơ chất), X4: Thời gian phản ứng (phút), X5: Tỉ lệ thể tích môi trường phản ứng: cơ chất (mL: g). Nghiệm tối ưu: X1 = 28,1079°C; X2 = 3,92793; X3 = 0,282159%; X4 = 63,7841 (phút); X5 = 137,568 (mL: g) với hiệu suất thu nhận nitơ axit amin đạt giá trị cực đại Hmax = 87,7969% và kì vọng d = 1. Nghiệm tối ưu của phương trình hồi quy được kiểm tra bằng thực nghiệm với Hmax = 86,28 ± 1,59%. Nghiên cứu đã từng bước góp phần nâng cao khả năng ứng dụng của phản ứng thủy phân sụn khớp chân gà nhằm thu dịch axit amin với xúc tác enzyme Protamex.

    DOI: https://doi.org/10.71254/xynycq23
  • NGHIÊN CỨU NUÔI TRÙN CHỈ (Tubifex tubifex Muller, 1774) TRÊN NỀN ĐÁY KHÁC NHAU VÀ SỬ DỤNG TRÙN CHỈ ĐỂ ƯƠNG GIỐNG CÁ CHẠCH LẤU (Mastacembelus favus Hora,1923)

    Abstract : 177 PDF: 11
    Phan Phương Loan
    51-58

    Nghiên cứu nuôi trùn chỉ (Tubifex tubifex) trên các dạng nền đáy khác nhau đã ghi nhận, trong điều kiện môi trường (nhiệt độ, DO và pH) tương tự nhau thì sự tăng trưởng, tỷ lệ sống của trùn chỉ ở nghiệm thức đối chứng (sử dụng nền đáy là bùn đáy ao) cao nhất và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05) với các nghiệm thức còn lại. Sự tăng trưởng về khối lượng và chiều dài của cá chạch lấu ở 3 nghiệm thức thức ăn có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Sự khác biệt này được ghi nhận, sau 60 ngày ương giống cá chạch lấu, tăng trưởng về khối lượng và chiều dài nhanh nhất khi sử dụng thức ăn là trùn chỉ 100%; tiếp đến là cho cá ăn kết hợp 50% trùn chỉ + 50% thức ăn công nghiệp 40% protein, cá chạch lấu tăng trưởng chậm hơn khi sử dụng kết hợp 50% cá tạp xay nhuyễn + 50% thức ăn công nghiệp 40% protein. Tỷ lệ sống của cá chạch lấu trong quá trình ương giống không bị ảnh hưởng bởi các loại thức ăn dùng trong thí nghiệm. Kết quả nghiên cứu cũng ghi nhận được, trùn chỉ là thức ăn được ưa thích nhất của cá chạch lấu giống.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ahx04h13
  • ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG SINH TRƯỞNG CỦA NĂM LOÀI HOA KIỂNG TRỒNG THỦY CANH TRONG NƯỚC THẢI ĐÔ THỊ

    Abstract : 19 PDF: 16
    Võ Thị Phương Thảo, Lâm Nguyễn Ngọc Như, Nguyễn Thị Diễm My, Trần Thị Huỳnh Thơ, Lâm Chí Khang, Trương Công Phát, Đào Hoàng Nam, Ngô Thụy Diễm Trang
    59-68

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm tuyển chọn loài cây phù hợp trồng trên bè nổi xử lý nước thải. Năm loài hoa kiểng (Chuối hoa, Chuối mỏ két, Chiều tím, Bách Thủy tiên và Thủy trúc) trồng thủy canh trong nước thải đô thị ở 3 nồng độ 50% nước thải + 50% nước máy; nồng độ 75% nước thải + 25% nước máy và nồng độ 100% nước thải (hay 50% NT + 50% NM; 75% NT + 25% NM; 100% NT) và được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại. Cây được trồng trong thùng nhựa chứa 35 L nước thải đô thị được thu tại kênh Búng Xáng, thành phố Cần Thơ. Mỗi loài cây được trồng với mật độ 3 cây/thùng (tương đương 27 cây/m2). Nước thải được thay mới hoàn toàn mỗi tuần một lần. Các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao cây, chiều dài rễ, số lá và số chồi/số nhánh được ghi nhận mỗi tuần. Năm loài cây đều tăng trưởng và phát triển tốt theo thời gian ở cả 3 nồng độ nước thải, trong đó, cây tạo sinh khối tốt nhất ở nồng độ 75 và 100% NT. Sinh khối tươi thân và rễ của cây Chuối hoa đều đạt cao nhất, tiếp đến là Bách thủy tiên và Thủy trúc. Kết quả ghi nhận năm loài cây nghiên cứu sinh trưởng và phát triển tốt trong nước thải đô thị, do đó, có thể ứng dụng các loài cây này trong các mô hình xử lý nước thải đô thị bằng bè nổi thực vật quy mô thực tế.

    DOI: https://doi.org/10.71254/wm4tvx21
  • TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN RỪNG TRỒNG KEO GỖ LỚN QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH TẠI HUYỆN A LƯỚI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

    Abstract : 17 PDF: 9
    Vũ Thị Thùy Trang, Nguyễn Duy Phong, Hoàng Phước Thôi, Lê Thị Thu Hà, Lê Thị Phương Thảo, Trần Nam Thắng
    69-78

    Chuyển hóa rừng sản xuất gỗ nhỏ ngắn ngày sang phát triển rừng keo gỗ lớn đang là hướng đi của nhiều địa phương trong đó có huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra các tiềm năng chính để phát triển trồng rừng keo gỗ lớn bao gồm: (1) yếu tố về tự nhiên (diện tích, độ dốc, khoảng cách tiếp cận); (2) yếu tố về con người (trình độ học vấn, kỹ thuật trồng rừng, lợi ích trồng rừng, hiểu biết thị trường, các kênh cung cấp thông tin cho người dân); (3) yếu tố về tài chính (thu nhập của hộ gia đình, các loại thu nhập chính của hộ). Trên cơ sở phân tích các tiềm năng, nghiên cứu đề ra một số giải pháp chính nhằm hỗ trợ phát triển trồng rừng keo gỗ lớn bao gồm: Quy hoạch vùng trồng keo gỗ lớn phù hợp với điều kiện tự nhiên, tăng cường hoạt động khuyến lâm, hỗ trợ tìm nguồn vốn sản xuất, đa dạng loại hình sinh kế đặc biệt từ nghề truyền thống của địa phương, hỗ trợ thị trường.

    DOI: https://doi.org/10.71254/45ed2333
  • TRI THỨC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI H’MÔNG TRONG BẢO TỒN VÀ SỬ DỤNG NGUỒN GEN CÂY KHOAI SỌ NƯƠNG TẠI HUYỆN TRẠM TẤU, TỈNH YÊN BÁI

    Abstract : 22 PDF: 10
    Hoàng Thị Nga, Lê Văn Tú, Nguyễn Thị Ngọc Huệ, Nguyễn Quang Tin, Nguyễn Quang Tân, Nguyễn Mai Phương, Nguyễn Thị Thúy Hằng, Hoàng Thị Lan Hương
    79-88

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá vai trò tri thức truyền thống của người H’Mông trong việc sử dụng và lưu giữ tại chỗ nguồn gen cây khoai sọ nương phục vụ đời sống và phát triển kinh tế hộ tại huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái. Phương pháp điều tra, khảo sát với bộ câu hỏi trắc nghiệm và thu thập các tài liệu liên quan; phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA); phương pháp thống kê, xử lý số liệu và phân tích hệ thống đã được áp dụng. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận được cơ bản tri thức truyền thống của người H’Mông tại huyện Trạm Tấu trong việc sử dụng, lưu giữ nguồn gen cây khoai sọ nương đặc sản và thương mại hóa sản phẩm. Đó là, những tri thức truyền thống trong lưu giữ khoai sọ nương bao gồm tổng thể từ nhận biết về giống, chuẩn bị giống, làm đất, trồng, chăm sóc, bón phân, kiểm soát sâu, bệnh hại đến thu hoạch và chế biến sản phẩm. Người dân địa phương sử dụng khoai sọ nương trong đời sống hàng ngày làm lương thực với nhiều phương thức chế biến rất đa dạng, như luộc, nấu canh, hầm, cắt lát phơi khô, sử dụng củ làm giống cho vụ sau. Tri thức truyền thống của người H’Mông đã góp phần bảo tồn và phát triển nguồn gen cây khoai sọ đặc sản của vùng cao Yên Bái. Kết quả nghiên cứu cũng xác định được một số tồn tại cần được giải quyết bằng khoa học công nghệ để cây khoai sọ nương bản địa có thể phát triển bền vững tại huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái.

    DOI: https://doi.org/10.71254/w2783h40
  • XÂY DỰNG BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỦA CÁC CHIẾN LƯỢC THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU DỰA VÀO HỆ SINH THÁI (EbA) TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP CHO HỆ ĐẦM PHÁ TAM GIANG – CẦU HAI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

    Abstract : 26 PDF: 8
    Lê Thị Hồng Phương, Nguyễn Trần Tiểu Phụng, Lê Thị Hoa Sen, Trần Thị Ánh Nguyệt, Trần Anh Tuấn
    89-100

    Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái (EbA) là chủ đề nghiên cứu thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học thế giới. Tuy nhiên, việc đánh giá kết quả các EbA nhằm xem xét tính khả thi và tiềm năng cho việc nhân rộng và phát triển các EbA vẫn đang là một câu hỏi lớn cho lĩnh vực nông nghiệp tại hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. Vì vậy, nghiên cứu này nhằm xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kết quả của EbA trong lĩnh vực nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, bộ chỉ số đánh giá kết quả EbA được xây dựng trên 3 khía cạnh là dựa trên hệ sinh thái; lợi ích thích ứng và an ninh sinh kế. 5 kết quả đánh giá EbA bao gồm: Xã hội, kinh tế, môi trường, kỹ thuật và chính sách với 27 chỉ số được đề xuất sử dụng trong quá trình đánh giá các EbA, từ đó có cơ sở xem xét lựa chọn ưu tiên để tiếp tục phát triển nhân rộng các EbA đó. Nghiên cứu thực hiện kiểm định bộ chỉ số cũng đã thực hiện với 6 EbA tại xã Lộc Bình, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, trong đó trồng rừng ngập mặn, phát triển rừng keo và đa dạng hóa cây trồng là các EbA rất tiềm năng; nuôi tôm xen ghép và du lịch cộng đồng là các EbA tiềm năng và nuôi cá lồng nước lợ bằng bè là ít tiềm năng. Để bộ chỉ số được sử dụng phổ biến, các nghiên cứu tiếp theo cần xem xét tổng thể hơn trong việc kiểm định bộ chỉ số đánh giá thông qua việc hiểu rõ đặc điểm và chức năng của các hệ sinh thái, tri thức bản địa, các yếu tố nội sinh và ngoại sinh của hệ sinh thái để có một số điều chỉnh mức độ đánh giá phù hợp hơn với các loại EbA khác nhau.

    DOI: https://doi.org/10.71254/wpngxh39