ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG PHÂN VÔ CƠ KẾT HỢP VỚI PHÂN HỮU CƠ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT KIỆU (Allium chinense) TẠI HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
DOI:
https://doi.org/10.71254/z3jn5t55Abstract
The study was carried out in Tam Nong district, Dong Thap province to evaluate the effects of chemical fertilizers combined with organic fertilizers on growth and yield of Chinese onion. The experiment was set up by split - plot design technique with 4 replicates. In which, the main plots include 3 chemical fertilizer formulas: 108 N + 160 P2O5 + 220 K2O (100% of the fertilizer used by farmers); 80 kg N + 120 kg P2O5 + 165 kg K2O (75% of the fertilizer used by farmers); 54 N + 80 P2O5 + 110 K2O (50% of the fertilizer farmers are using), and the subplots include 2 kinds of organic fertilizer: Organic mineral fertilizers used by farmers - 500 kg/ha; Biochar -1,000 kg/ha; control (none adding organic fertilizer). The experimental results showed that there was no interaction between chemical fertilizer formulas with organic fertilizers on growth and yield of Chinese onion. However, there were differences of treatments for each individual factor in the experiment. In the chemical fertilizer formula, the treatment with 80 + 120 + 165 resulted the yield equivalent to treatment of 108 + 160 + 220 (39.4 and 39.5 tons/ha, respectively, and significantly higher than the 54 + 80 + 110 (31.3 tons/ha). For the organic fertilizer type factor, the use of Biochar resulted in a higher actual yield (44.1 tons/ha) than using Organic mineral fertilizers used by farmers (37.6 tons/ha). The using of organic fertilizer increased the actual yield of Chinese onion which is 1.17 - 1.28 times higher than that of no organic fertilizer.
Keywords:
Chinese onion, organic fertilizer, chemical fertilizers, yield.Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp nhằm xác định liều lượng phân hóa học và loại phân hữu cơ đến sinh trưởng và năng suất kiệu. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu lô phụ với với 4 lần lặp. Trong đó, nhân tố chính gồm 3 tổ hợp phân hóa học với lượng bón trên ha: (i) 108 kg N + 160 kg P2O5 + 220 kg K2O (100% bón theo nông dân); (ii) 80 kg N + 120 kg P2O5 + 165 kg K2O (75% lượng phân bón nông dân sử dụng); (iii) 54 kg N + 80 P2O5 + 110 K2O (50% lượng phân bón nông dân đang sử dụng), nhân tố phụ gồm các loại phân hữu cơ: (i) Phân hữu cơ khoáng theo nông dân - 500 kg/ha; (ii) Phân hữu cơ Biochar: 1.000 kg/ha; (iii) Không bón phân hữu cơ. Kết quả cho thấy, không có tương tác của công thức phân vô cơ và loại phân hữu cơ đến các chỉ tiêu về sinh trưởng và năng suất kiệu. Tuy nhiên, có khác biệt của các nghiệm thức ở từng nhân tố đơn lẻ trong thí nghiệm. Ở công thức phân vô cơ, nghiệm thức bón 80 + 120 + 165 NPK/ha cho kết quả khối lượng bụi kiệu, khối lượng củ/bụi và năng suất kiệu - tương đương nghiệm thức bón 108 + 160 + 220 NPK/ha (39,4 và 39,5 tấn/ha, tương ứng), cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức bón 54 + 80 + 110 NPK (31,3 tấn/ha). Đối với nhân tố loại phân hữu cơ, việc sử dụng Biochar cho kết quả năng suất kiệu thực tế (44,1 tấn/ha) cao hơn so với sử dụng phân hữu cơ khoáng theo nông dân (37,6 tấn/ha), việc sử dụng phân hữu cơ làm tăng năng suất kiệu, cao gấp 1,17 - 1,28 lần so với việc không bón hữu cơ.








