Số 4 (2023)
Bài viết
-
XÁC ĐỊNH KHOẢNG CÁCH CẤY VÀ CÔNG THỨC BÓN PHÂN PHÙ HỢP CHO GIỐNG LÚA MÀU SR20 TẠI VÙNG ĐÔNG NAM BỘ
Abstract : 15 PDF: 9Xác định khoảng cách cấy máy và công thức bón phân phù hợp hướng canh tác bền vững cho giống lúa màu cải tiến SR20 tại vùng Đông Nam bộ là mục tiêu của nghiên cứu đặt ra. Theo đó, thí nghiệm về khoảng cách cấy máy và công thức phân bón được bố trí đồng thời tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai trong vụ hè thu năm 2021 và đông xuân năm 2021 - 2022. Thực hiện thí nghiệm trên đất 2 vụ lúa, thiết kế kiểu một yếu tố, khối đầy đủ ngẫu nhiên với bốn lần nhắc lại. Kết quả cho thấy: (i) Khoảng cách cấy phù hợp trong vụ hè thu là 30 x 16 cm, hoặc 25 x 18 cm và trong vụ đông xuân là 25 x 16 cm. (ii) Phân hữu cơ vi sinh (HCVS) chưa thể hiện rõ tác động đến năng suất lúa trong vụ hè thu nhưng có hiệu quả trong vụ đông xuân trên đất ngập nước ≥ 2 tháng. Trong vụ hè thu, công thức thay thế 30% phân khoáng bằng 400 kg HCVS tiệm cận năng suất lúa cách bón phân khoáng theo khuyến cáo (đối chứng) nhưng giảm về hiệu quả kinh tế (thời điểm năm 2021). Trong vụ đông xuân, việc thay thế 30 - 70% phân khoáng bằng 400 kg HCVS vẫn đạt năng suất lúa và hiệu quả kinh tế tương đương đối chứng, trong đó công thức thay thế 50 - 70% phân khoáng đạt các thông số kinh tế tốt nhất. Thay thế 100% phân khoáng bằng 800 - 1.000 kg HCVS trong vụ đông xuân vẫn đạt năng suất lúa và hiệu quả kinh tế chấp nhận được, mức giảm lợi nhuận so với đối chứng có thể được bù đắp bằng giá bán lúa tương thích với kỹ thuật áp dụng. Phân khoáng chậm tan, bón 1 lần/vụ, tiện lợi và giảm ô nhiễm, nhưng chưa đạt yêu cầu về hiệu quả kinh tế do giá phân còn cao.
-
ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG DI TRUYỀN TRONG TẬP ĐOÀN KHOAI MÔN-SỌ MIỀN BẮC BẰNG CHỈ THỊ RAPD
Abstract : 22 PDF: 12Đa dạng di truyền trong các tập đoàn gen cây trồng là rất quan trọng với khoa học bảo tồn nguồn gen. Trong nghiên cứu này, 253 mẫu nguồn gen khoai môn sọ miền Bắc đang được bảo tồn chuyển chỗ tại Trung tâm Tài nguyên thực vật đã được đánh giá sự đa dạng ở mức phân tử bằng 10 chỉ thị RAPD. Tính đa dạng di truyền cao trong tập đoàn gen đã được phát hiện với 100% locus RAPD đa hình, trung bình có 5,8 alen/locus. Giá trị PIC trung bình đạt 6,8, hệ số đa dạng gen Nei và hệ số đa dạng Shannon trung bình lần lượt là 0,2963 và 0,4469. Hệ số tương đồng di truyền trong tập đoàn nằm trong khoảng 0,38 đến 0,95. Tất cả 253 nguồn gen được phân thành 5 nhóm ở mức tương đồng 0,64. Một số nguồn gen có mức độ tương đồng rất cao (0,95) phản ánh mối quan hệ di truyền rất gần gũi. Trong khi một số khác có sự khác biệt di truyền lớn (hệ số tương đồng rất thấp (0,38) so với các nguồn gen còn lại. Kết quả phân nhóm nguồn gen trong nghiên cứu sẽ là những thông tin có ý nghĩa cho chương trình chọn tạo giống. Phát hiện hai nguồn gen mang alen đặc trưng có thể nhận dạng bằng chỉ thị OPN-11 và OPO-19 cho thấy tiếp cận RAPD có tiềm năng đáng kể trong việc nhận dạng, phân tích quan hệ và phân biệt các giống khoai môn-sọ khác nhau.
-
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG KẾT HỢP, ƯU THẾ LAI CỦA MỘT SỐ DÒNG NGÔ NẾP TRIỂN VỌNG TẠI QUẢNG NGÃI VÀ HÀ NỘI
Abstract : 20 PDF: 9Đánh giá khả năng kết hợp, năng suất của 16 dòng ngô nếp thuần (S6) trong 3 vụ (hè thu 2021, đông 2021 và đông xuân 2021 - 2022) tại Hà Nội và Quảng Ngãi. Kết quả đã tuyển chọn được 6 dòng ngô nếp thuần có khả năng kết hợp cao (khả năng kết hợp chung và giá trị phương sai khả năng kết hợp riêng) gồm: N19, N59, N62, N70, N80B, D111 và xác định được 7 tổ hợp lai có triển vọng, năng suất bắp tươi vượt giống đối chứng MX6 từ 12,3 - 30,8% gồm: N80B x N31 (118,4 tạ/ha); N62 x N7C (113,3 tạ/ha); N80B x N7C (112,3 tạ/ha); D111 x N7C (109,2 tạ/ha); N62 x N31 (108,3 tạ/ha); N19 x N7C (106,8 tạ/ha); N59 x N7C (101,7 tạ/ha).
-
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ VÀ KÍCH THƯỚC HẠT PHÂN BÓN ĐA LƯỢNG SẢN XUẤT TỪ VẬT LIỆU SILICA - BIOCHAR RƠM RẠ KẾT HỢP VỚI DIATOMIT, BENTONIT LÀM MÀNG BỌC TINH THỂ ĐẾN TỐC ĐỘ GIẢI PHÓNG NPK
Abstract : 14 PDF: 9Sử dụng Silica - Biochar phân tách từ rơm rạ kết hợp với diatomit và bentonit làm màng tinh thể tuỳ biến giúp kiểm soát tốt hơn quá trình nhả dinh dưỡng của phân là phương pháp chính sử dụng trong nghiên cứu này. Phân CRF1 và CRF2 được sản xuất bằng phương pháp này có tổng hàm lượng Nts + P2O5hh + K2Ohh tương ứng là 27,02%, 22,05% đạt tiêu chuẩn QCVN 01-189: 2019/BNNPTNT và ISO 18644: 2016. Kích thước hạt phân càng nhỏ thì tốc độ giải phóng NPK càng nhanh. Với hạt có kích thước ~ 4 mm thì tốc độ giải phóng NPK < 75% nằm trong khoảng thời gian từ 14 - 28 ngày với CFR1 và 7 ngày với CRF2. Với hạt có kích thước ~ 10 mm thì tốc độ giải phóng NPK < 75% sau 56 ngày với CRF1 và sau 14 ngày với CRF2. Nhiệt độ ảnh hưởng lớn đến tốc độ giải phóng NPK của phân CRF1 và CRF2. Với phân CRF1 thì tại ngày đầu tiên, tốc độ giải phóng NPK ở 40oC nhanh hơn 29,4 lần so với ở khoảng nhiệt độ 20oC. Phân CRF2 có tốc độ nhả NPK nhanh hơn phân CRF1.
-
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG HỮU TÍNH NƯA CHÂN VỊT (Tacca palmata Blume) TẠI KIÊN LƯƠNG - KIÊN GIANG
Abstract : 20 PDF: 9Nghiên cứu nhân giống hữu tính Nưa chân vịt (Tacca palmata Blume) trong vườn ươm tại Kiên Giang cho thấy: Quả Nưa chân vịt sau khi chín hoàn toàn, tách lấy hạt rửa sạch hong se hạt rồi gieo ngay. Hạt được xử lý bằng dung dịch GA3 500 ppm trong 60 phút cho tỷ lệ mọc mầm cao nhất đạt 80,0% và thời gian mọc mầm tập trung nhất sau 129 ngày và kết thúc sau 143 ngày. Thành phần ruột bầu gồm giá thể hỗn hợp đất: mùn: phân vi sinh (tỷ lệ 3: 1: 1) cho tỷ lệ mọc mầm là 80,0%. Thời vụ nhân giống Nưa chân vịt phù hợp nhất là thời vụ tháng 11 cho tỷ lệ mọc mầm 80,0%. Cây sinh trưởng trong vườn ươm khoảng 240 ngày có tỷ lệ sống sau trồng đạt cao nhất (84,0%).
-
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC DỊCH CHIẾT HỮU CƠ ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH CHỒI VÀ RỄ IN VITRO CỦA LAN KIM TUYẾN (Anoectochilus setaceus Blume)
Abstract : 22 PDF: 13Lan kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume) thuộc họ Orchidaceae. Ở Việt Nam, có 12 loài Lan kim tuyến đã được phát hiện và chủ yếu được sử dụng làm dược liệu. Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát ảnh hưởng của các dịch chiết hữu cơ gồm nước dừa, dịch chuối chín, dịch khoai tây, nước ép cà chua, dịch bắp tươi và môi trường MS đến hình thành chồi và rễ từ mẫu chồi Lan kim tuyến. Kết quả cho thấy, cả năm nhóm dịch trích hữu cơ bổ sung vào môi trường đều có tác dụng làm gia tăng số chồi và rễ. Môi trường MS có bổ sung dịch cà chua 200CC (200 ml/l) cho sự nhân nhanh chồi tốt nhất (41,917 chồi/mẫu) và lá (30,5 lá/cụm chồi). Môi trường MS bổ sung dịch khoai tây 250KT (250 ml/l) tốt nhất cho sự hình thành rễ (8,50 rễ/cây) và mô trường MS bổ sung nước dừa 100ND (100 ml/l) tốt nhất cho sự phát triển chiều dài rễ (1,306 cm).
-
NGHIÊN CỨU BỆNH NẤM DA TRÊN MÈO VÀ ĐÁNH GIÁ YẾU TỐ NGUY CƠ TẠI BỆNH VIỆN CHÓ, MÈO BẢO MINH CHÂU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Abstract : 24 PDF: 12Nghiên cứu được tiến hành để khảo sát tình hình bệnh nấm da trên mèo và đánh giá yếu tố nguy cơ tại Bệnh viện chó, mèo Bảo Minh Châu được thực hiện từ 15/01/2022 đến 15/4/2022. Với mục tiêu xác định tỷ lệ bệnh nấm da được đưa đến khám và điều trị và đánh giá yếu tố nguy cơ (OR) bệnh nấm da tại bệnh viện này. Kết quả nghiên cứu trên tổng số 312 con mèo được đưa đến khám và điều trị, đã xác định được 75 mèo bị bệnh da, trong đó có 28 mèo bị nấm da (có chú ý theo nhóm giống, giới tính, lứa tuổi, loại hình lông và phương thức nuôi) thông qua biện pháp hỏi khám, thực hiện các biện pháp lâm sàng và cận lâm sàng. Tỷ lệ mèo bị nấm da chiếm 8,97% mèo khảo sát và chiếm 37,33% trên tổng số mèo mắc bệnh da. Trong đó, nấm da mèo không phụ thuộc vào nhóm giống và giới tính (P>0,05). Mèo < 1 năm tuổi có tỷ lệ nhiễm 53,85%, cao hơn mèo > 1 năm tuổi là 26,92%. Nhóm mèo lông dài có tỷ lệ nhiễm nấm 55,55%, cao hơn nhóm mèo lông ngắn là 20,51%. Mèo nuôi thả có tỷ lệ nhiễm nấm 61,54%, cao hơn mèo lông ngắn là 24,49%. Theo kết quả đánh giá yếu tố nguy cơ thì mèo < 1 năm tuổi có tỷ lệ mắc cao hơn mèo > 1 năm tuổi là 4,83 lần (P<0,05). Nhóm mèo lông dài có tỷ lệ nhiễm cao hơn gấp 4,84 lần mèo lông ngắn (P<0,05). Nhóm mèo nuôi thả có tỷ lệ nhiễm nấm cao gấp 4,93 lần mèo nuôi nhốt.
-
NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH TÁCH LOẠI LIGNIN GỖ MỠ CHO SẢN XUẤT CÁC VẬT LIỆU COMPOSITE TỔNG HỢP GỐC GỖ
Abstract : 17 PDF: 11Bài báo trình bày quy luật tương tác của gỗ Mỡ dạng tấm với các tác nhân sunfat và hydrogen peroxit trong axit axetic với mục tiêu tách loại và biến tính tẩy trắng lignin mà vẫn giữ nguyên được cấu trúc dạng tấm phẳng của gỗ. Theo đó, quá trình biến tính tẩy trắng gồm hai công đoạn: xử lý tách loại lignin bằng tác nhân sunfat với tỷ lệ thể tích NaOH: Na2S: 3: 1, ở nhiệt độ sôi của hỗn hợp, thời gian xử lý 3 giờ. Công đoạn xử lý bằng hỗn hợp H2O2: CH3COOH với tỷ lệ thể tích là 2: 1 ở nhiệt độ sôi, trong vòng 2 giờ. Mẫu gỗ Mỡ sau đó được tẩy trắng hoàn toàn, hiệu suất gỗ thu được là 83,6%, hàm lượng lignin bị tách loại 38,2%, cấu trúc gỗ thông thoáng hơn, lộ rõ các bó xơ sợi, bề mặt được giải phóng tạo điều kiện cho quá trình tiếp xúc các hóa chất khác. Cấu trúc gỗ Mỡ thu được sau biến tính tẩy trắng mềm dẻo có khả năng uốn cong, thích hợp làm vật liệu composite tổng hợp gốc gỗ.
-
TỐI ƯU HÓA QUÁ TRÌNH TINH SẠCH POLYPHENOL TỔNG ĐƯỢC TRÍCH LY TỪ HẠT BƠ (Persea americana Mill) BẰNG DUNG MÔI ETHYL ACETAT
Abstract : 15 PDF: 8Nghiên cứu này tập trung xác định điều kiện tối ưu để tinh sạch hợp chất polyphenol tổng được trích ly từ hạt bơ Persea americana Mill bằng dung môi ethyl acetat. Điều kiện của quá trình tinh sạch được tối ưu hóa bằng phương pháp bề mặt đáp ứng (Response surface methodology) với mô hình quay bậc 2 có tâm (Central composite design - CCD) nhằm thu được sản phẩm polyphenol tổng và khả năng bắt gốc tự do DDPH của dịch chiết cao nhất. Các yếu tố khác được cố định dựa trên kết quả của các khảo sát trước đó. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ dịch lọc/ethyl acetat là 1/1 (ml/ml) và thời gian 60 phút là thích hợp để tinh sạch; sản phẩm polyphenol tổng thu được là 220,5 g/kg chất khô; khả năng bắt gốc tự do DPPH của sản phẩm là 57,691%; sản phẩm có độ tinh khiết là 86,4264%.
-
TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
Abstract : 13 PDF: 9Nghiên cứu nhằm xác định tác động của một số yếu tố quản lý sử dụng đất (QLSDĐ) đến hình thành và phát triển sản xuất trang trại tại huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp điều tra, so sánh và phân tích số liệu thứ cấp, phương pháp phỏng vấn 28 cán bộ quản lý và 224 chủ các trang trại trên địa bàn điều tra. Nghiên cứu sử dụng thang đo 5 mức của Likert để đánh giá quá trình hình thành và phát triển sản xuất trang trại, sử dụng T-test để kiểm tra sự khác biệt trong một số chỉ tiêu giữa các đối tượng điều tra, sử dụng hệ số tương quan r (xếp hạng Spearman Ranking) để xác định mức tác động. Quá trình hình thành, phát triển sản xuất trang trại với 5 tiêu chí lựa chọn được chủ các trang trại và cán bộ quản lý đánh giá ở mức độ cao, không có sự khác biệt giữa hai đối tượng. Các yếu tố QLSDĐ như: Hạn mức diện tích giao đất; thời hạn giao đất; chuyển nhượng quyền sử dụng đất; thuê, thuê lại quyền sử dụng đất có tác động ở mức độ cao đến số lượng, quy mô trang trại; cơ giới hóa sản xuất trang trại; loại hình/kiểu sử dụng đất trong trang trại và quyền thế chấp vay vốn đầu tư sản xuất trong trang trại.
-
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH SINH KẾ CỘNG ĐỒNG GẮN VỚI DU LỊCH SINH THÁI TẠI VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA - KẺ BÀNG
Abstract : 14 PDF: 8Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả khi triển khai thực hiện mô hình phát triển sinh kế cộng đồng gắn với du lịch sinh thái tại vùng đệm Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng thông qua việc sử dụng một số phương pháp nghiên cứu: Phân tích thống kê mô tả; thang đo Likert 5 cấp độ; phân tích SWOT. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình đạt hiệu quả về kinh tế - xã hội, đa dạng sinh học và môi trường (giá trị trung bình tổng thể là 3,55). Trong đó, nhóm tiêu chí về đa dạng sinh học được đánh giá cao nhất (giá trị trung bình dao động từ 3,63 - 4,38, tức là mức đồng ý đến rất đồng ý), tiếp đến là nhóm tiêu chí về môi trường (trung bình: 3,18 - 3,43), cuối cùng là nhóm tiêu chí về kinh tế - xã hội (trung bình: 2,99 - 3,56). Tuy nhiên, trong quá trình triển khai mô hình vẫn còn gặp một số khó khăn, thách thức như: Dịch bệnh, hiện tượng thời tiết cực đoan có xu hướng tăng… Do đó, một số giải pháp đã được đề xuất nhằm phát triển mô hình trong giai đoạn tiếp theo.








