No. 14 (2025)

					View No. 14 (2025)
Published: 30-07-2025

Articles

  • RESULTS OF PURIFICATION OF CHAM DAO RICE VARIETY FOR PRODUCTIONIN MUONG LA DISTRICT, SON LA PROVINCE

    Abstract : 459 PDF: 0
    Nguyen Ngoc Quat, Hoang Thi Lan Huong, Hoang Thi Nga, Tran Thi Thu Hoai
    3-11

    Nghiên cứu phục tráng giống lúa gạo màu địa phương Chằm Dạo (Oryza sativa L.),  phục vụ sản xuất tại huyện Mường La, tỉnh Sơn La được thực hiện từ năm 2020 đến năm 2022 theo TCVN 12181:2018. Năm 2020, đánh giá và chọn lọc vật liệu khởi đầu G0 đã chọn được 122 cá thể có các tính trạng đặc trưng của giống Chằm Dạo. Năm 2021, 122 cá thể này được trồng riêng rẽ thành 122 dòng khác nhau để đánh giá, chọn lọc ở thế hệ G1 và đã chọn được 46 dòng. Năm 2022, lấy 30 dòng được chọn ở thế hệ G1 để tiếp tục đánh giá ở thế hệ G2, kết quả chọn được 11 dòng G2 giống lúa Chằm Dạo đạt yêu cầu, hỗn lại với khối lượng 400 kg hạt siêu nguyên chủng đạt QCVN 01-54:2011/BNNPTNT.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tad6ew25
  • SURVEYING THE INFLUENCE OF GAMMA IRRADIATION ON THE GROWTHAND PRODUCTIVITY OF GRAY OYSTER MUSHROOMS (Pleurotus sajor-caju)IN THE FIRST GENERATION

    Abstract : 509 PDF: 0
    Vo Thi Thuy Hue, Nguyen Minh Quang,¬ Tran Van Tam, Nguyen Thi Thuy Trang, Phan Huu Tin
    12-20

    Nghiên cứu được tiến hành để xác định ảnh hưởng của các liều chiếu xạ gamma đến sinh trưởng, phát triển nấm bào ngư xám (Pleurotus sajor-caju). Sợi nấm được xử lý ở các liều chiếu xạ khác nhau (0 kGy, 0,25 kGy, 0,5 kGy, 0,75 kGy, 1 kGy). Sau khi chiếu xạ, mẫu nấm được khảo sát trên các môi trường dinh dưỡng cấp một, cấp hai và cơ chất nuôi trồng. Kết quả ghi nhận, đối với môi trường dinh dưỡng cấp một, ở cả hai môi trường PGA và PGAY, nghiệm thức đối chứng (liều chiếu xạ 0 kGy) cho tốc độ lan tơ nhanh nhất. Trong các nghiệm thức chiếu xạ, sinh trưởng của sợi nấm tốt nhất ở mức liều chiếu xạ 0,25 kGy đối với môi trường PGA và PGAY. Khi tăng liều chiếu xạ lên thì tốc độ lan tơ và chất lượng sợi tơ nấm giảm dần. Trên môi trường nhân giống cấp hai, ở liều 0,25 kGy cho kết quả hệ sợi nấm sinh trưởng tốt nhất trong tất cả các nghiệm thức, ở những liều cao như 0,75 kGy và 1 kGy thì hệ sợi nấm lan chậm và mỏng. Trên môi trường cơ chất nuôi trồng, tốc độ lan tơ nấm ở các nghiệm thức không có sự khác biết có ý nghĩa thống kê. Nghiệm thức chiếu xạ 0,25 kGy cho thời gian thu hoạch nhanh nhất (trung bình 69,6 ngày) và hiệu suất sinh học cao nhất (11,56 %). Kết quả nghiên cứu cho thấy, phương pháp chiếu xạ đã có ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của nấm bào ngư xám trên các môi trường nhân giống khác nhau, có thể làm tăng hoặc giảm năng suất và chất lượng của nấm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/0bfce623
  • RESEARCH ON SEED PROPAGATION OF Dioscorea collettii Hook.f.

    Abstract : 385 PDF: 0
    Nguyen Hai Van, Nguyen Thi Thuy, Nguyen Xuan Truong, Nguyen Ba Hung, Tran Thi Lien
    21-32

    Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định biện pháp xử lý hạt giống, thời vụ gieo hạt, biện pháp gieo hạt tới tỷ lệ nảy mầm và ảnh hưởng của tuổi, kích thước cây giống tới tỷ lệ sống và sinh trưởng của cây giống Nần nghệ tại xã Sì Lở Lầu, tỉnh Lai Châu. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên đầy đủ, 3 lần lặp lại. Biện pháp xử lý hạt giống được thực hiện với 2 thí nghiệm: Xử lý hạt với nước 54oC gồm 5 công thức: Không xử lý (Đối chứng); ngâm hạt trong 3 giờ, 6 giờ, 9 giờ, 12 giờ và dung dịch GA3 500 ppm gồm 4 công thức: Không xử lý (Đối chứng); ngâm hạt trong 1 giờ, 3 giờ, 6 giờ. Thí nghiệm thời vụ gồm 4 công thức: Gieo hạt vào 15/1; 15/2; 15/3; 15/4. Thí nghiệm biện pháp gieo hạt gồm 4 công thức: Gieo hạt trực tiếp trên nền giá thể ngoài đồng ruộng; trong vườn có mái che; hạt gieo xong được phủ một lớp giá thể dày 0,5 - 1 cm ở ngoài đồng ruộng và trong vườn có mái che. Thí nghiệm tuổi, kích thước cây giống gồm 5 công thức: Cây 60 ngày tuổi; cây 90 ngày tuổi; cây 120 ngày tuổi; cây 150 ngày tuổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, biện pháp xử lý hạt tốt nhất bằng nước ấm 54oC trong 9 giờ, vớt ra để ráo, tiếp tục ngâm hạt vào dung dịch GA3 nồng độ 500 ppm trong thời gian 3 giờ cho tỷ lệ nảy mầm đạt 84%. Thời vụ thích hợp nhất khi gieo hạt vào 15/3 cho tỷ lệ nảy mầm đạt 86%. Hạt gieo xong được phủ một lớp giá thể dày 0,5 - 1 cm, trong vườn ươm có mái che, khi đó tỷ lệ nảy mầm đạt 91%. Cây giống đạt 90 ngày tuổi là thích hợp nhất cho tỷ lệ sống đạt 67,7%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ahp1aq43
  • USING MULTIPLEX RT - PCR FOR DETECTION OF Cymbidium mosaic virus (CymMV) AND Odontoglossum ringspot virus (ORSV) IN Cymbidium ORCHIDS

    Abstract : 553 PDF: 0
    Pham Duc Toan, Ho Tran Thi Bao Tran, Bui Cach Tuyen
    33-40

    Chi lan Kiếm (Cymbidium) thuộc họ Orchidaceae là nhóm lan có giá trị kinh tế cao và luôn nằm trong nhóm hoa lan được ưa chuộng trên thị trường. Hiện nay, các bệnh do virus gây ra đang là thách thức lớn đối với các nước sản xuất và xuất khẩu hoa lan. Cymbidium mosaic virus (CymMV) và Odontoglossum ringspot virus (ORSV) là 2 loài virus gây hại phổ biến cho cây hoa lan, trong đó có Chi lan Kiếm. Mục đích của nghiên cứu này nhằm phát hiện nhanh và chính xác đồng thời CymMV và ORSV trên Chi lan Kiếm dựa vào kỹ thuật Multiplex RT - PCR. Kết quả cho thấy, có 44/48 mẫu nhiễm virus, tỉ lệ 91,6%. Trong đó, số mẫu nhiễm CymMV là 43/48 mẫu, chiếm tỉ lệ nhiễm 89,5%, chỉ duy nhất 1 mẫu nhiễm ORSV, chiếm tỉ lệ 0,2%, tương tự chỉ có 1 mẫu nhiễm kép ORSV và CymMV, tỉ lệ 0,2%, có 4/48 (tỉ lệ 0,83%) mẫu không phát hiện sự hiện diện nhiễm ORSV, CymMV. Kết quả cho thấy, Chi lan Kiếm nhiễm CymMV có biểu hiện các đốm đen tròn, vệt hoại tử đen, trong khi đó mẫu Chi lan Kiếm nhiễm ORSV thì có triệu chứng sọc màu vàng nhạt, đốm vòng trên lá. Kết quả đạt được của nghiên cứu này là thông tin hữu ích cung cấp thêm các thông tin về virus trên cây hoa lan.

    DOI: https://doi.org/10.71254/2a0e1670
  • STUDIES ON SUITABLE NPK FERTILIZER DOSAGE FOR DA XANH POMELO (Citrus grandis L.) GROWING IN BEN TRE PROVINCE

    Abstract : 423 PDF: 0
    Ngo Thi Dung, Nguyen Thi Ngoc Truc, Cao Viet Ha, Vu Thi Xuan
    41-48

    Nghiên cứu này nhằm xác định lượng phân bón thích hợp cho cây bưởi da xanh trong giai đoạn kinh doanh tại tỉnh Bến Tre (cũ). Thí nghiệm với 10 công thức được tiến hành trong 2 năm trên vườn bưởi da xanh 7 năm tuổi. Hiệu quả của phân bón được xác định dựa trên cơ sở tính toán năng suất, chất lượng bưởi và hiệu quả kinh tế. Công thức cho năng suất và chất lượng bưởi cao nhất là CT7 (370 g N + 445 g P2O5 + 370 g K2O + 40 kg phân bò ủ hoai mục/cây/năm. Năng suất thực thu ở CT7 đạt 82,79 kg/cây (năm 2020) và 59,60 kg/cây (năm 2021). CT7 cũng cho chất lượng quả tốt nhất với hàm lượng chất khô phần ăn được đạt 10,54% và 9,97%. Độ Brix trong CT7 cao hơn so với công thức đối chứng có ý nghĩa thống kê và đạt 10,65 - 11,08%. Trong hai năm 2020 và 2021, CT7 đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất, lãi thu được là 161,65 triệu đồng/ha/năm (2020) và 49,94 triệu đồng/ha/năm (2021).

    DOI: https://doi.org/10.71254/7j1b8j79
  • THE EFFECT OF RATIO OF NPK FERTILIZERS DURING THE FRUIT DEVELOPMENT STAGE ON THE YIELD AND PHYSIOLOGICAL DISORDER SYMPTOMS OF FLESH OF MUSANG KING DURIAN (Durio zibethinus Murr.) ON THE OFF-SEASON IN TAN BINH COMMUNE, CAN THO CITY

    Abstract : 769 PDF: 0
    Nguyen Huynh Duong, Huynh Thi Thanh Ngan, Tran Van Hau
    49-59

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định hiệu quả của tỷ lệ phân NPK trong giai đoạn phát triển trái đến hiện tượng rối loạn sinh lý (RLSL) sầu riêng Musang King (MK) 7 năm tuổi tại xã Tân Bình, thành phố Cần Thơ trong vụ nghịch từ tháng 2 - 8/2024. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 6 nghiệm thức, 5 lần lặp lại, mỗi đơn vị thí nghiệm tương ứng với 1 cây. Thí nghiệm có 6 nghiệm thức là tỷ lệ phân NPK bón ở 3 thời điểm: 30, 45, 60 ngày sau khi đậu trái (NSKĐT), mỗi lần bón 1.000 g/cây. Kết quả cho thấy, tỷ lệ phân NPK bón trong giai đoạn phát triển trái có ảnh hưởng đến thành phần khối lượng trái, năng suất trái, chất lượng trái và hiện tượng RLSL sầu riêng MK. Bón phân NPK tỷ lệ đạm cao (3: 1: 1 và 2: 1: 1) vào thời điểm 30, 45 NSKĐT và tăng tỷ lệ kali (2: 1: 3) vào thời điểm 60 NSKĐT giúp tăng năng suất nhưng làm tăng tỷ lệ RLSL (23,6 - 29,6%). Ngược lại, bón phân NPK có tỷ lệ đạm cao (2: 1: 1) thời điểm 30 NSKĐT, sau đó tăng tỷ lệ kali (2: 1: 3 và 1: 1: 3) vào thời điểm 45 và 60 NSKĐT vừa có hiệu quả nâng cao năng suất, chất lượng trái đồng thời giảm hiện tượng RLSL ở sầu riêng MK. Có thể bón phân NPK cho sầu riêng MK 7 năm tuổi theo tỷ lệ 2: 1: 1 thời điểm 30 NSKĐT) tỷ lệ 2: 1: 3 thời điểm 45 NSKĐT và tỷ lệ 1: 1: 3 thời điểm 60 NSKĐT với liều lượng 1 kg/cây/lần bón để đạt năng suất, chất lượng và giảm hiện tượng RLSL trong vụ nghịch.

    DOI: https://doi.org/10.71254/nn5cqx48
  • EFFECT OF INFRARED DRYING TEMPERATURE AND STORAGE TIME ON THE QUALITY ATTRIBUTES OF JELLY MADE FROM RED-FLESHED DRAGON FRUIT (Hylocereus polyrhizus)

    Abstract : 343 PDF: 0
    Nguyen Trung Truc, Nguyen Le Yen Nhi
    60-69

    Thanh long ruột đỏ là một trong những loại nông sản được sử dụng khá phổ biến, đặc biệt là tạo màu tự nhiên cho thực phẩm. Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát ảnh hưởng của phương pháp sấy hồng ngoại đến chất lượng của jelly thanh long ruột đỏ. Chất lượng của jelly thanh long ruột đỏ thay đổi bởi nhiệt độ sấy (50, 55, 60oC) và thời gian bảo quản (0, 7, 14, 21, 28 ngày) với các chỉ tiêu được theo dõi bao gồm: Hoạt độ nước (Aw), hàm lượng betacyanin, hàm lượng vitamin C, tổng hàm lượng phenolic (TPC) và màu sắc của jelly. Kết quả cho thấy, khi jelly thanh long ruột đỏ được sấy bức xạ hồng ngoại ở nhiệt độ 55oC và bảo quản 21 ngày thì chất lượng được duy trì ổn định với hoạt độ nước Aw = 0,57, hàm lượng betacyanin 281,97 mg/kg, hàm lượng vitamin C 587,79 mg/kg, TPC 1.223,63 mg GAE/kg và giá trị màu sắc với L* 19,80, a* 49,09 và ΔE 15,68 so với mẫu jelly thanh long ruột đỏ sau khi sấy. Kết quả cho thấy, sấy hồng ngoại có tiềm năng ứng dụng cho sản phẩm jelly sấy nhằm duy trì chất lượng của sản phẩm trong quá trình tồn trữ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/v6e8kn53
  • PRODUCTION OF NANOCHITIN FROM WHITELEG SHRIMP SHELLS VIA ACID HYDROLYSIS COMBINED WITH ULTRASONICATION FOR SALT REDUCTION APPLICATIONS IN FOOD

    Abstract : 423 PDF: 0
    Nguyen Thi Cha, Ho Phu Ha, Nguyen Tien Thanh, Do Thi Yen
    70-79

    Chitin từ vỏ tôm thẻ chân trắng là phụ phẩm thủy sản khó tan, nên ít được ứng dụng. Nanochitin là một đoạn mạch của chitin có kích thước nhỏ, phân bố tốt, vì vậy sử dụng nanochitin là hướng nghiên cứu hứa hẹn nhiều ứng dụng. Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát và thử nghiệm các điều kiện thuỷ phân kết hợp với xử lý siêu âm, nhằm tạo ra sản phẩm có tiềm năng ứng dụng trong việc giảm hàm lượng muối khi chế biến thực phẩm. Nghiên cứu đã lựa chọn được phương án như sau: Chitin từ tôm thẻ chân trắng đươc thuỷ phân bằng dung dịch axit HCl 3,5 N ở nhiệt độ 90oC, tỷ lệ dung dịch axit/chitin 25/1, thời gian 150 phút. Sản phẩm sau thủy phân được làm sạch axit rồi siêu âm theo chế độ: Cường độ 86%, thời gian 36 phút, tỷ lệ dung môi/cơ chất là 68/1. Sau siêu âm, thu hồi nanochitin bằng phương pháp đông khô. Nanochitin thu được có kích thước trung bình 420 nm; độ hòa tan 67,62%, thế zeta 20,7 mV. Kết quả thế zeta của nanochitin giảm khi bổ sung dung dịch NaCl 0,03% đã chứng minh nanochitin có tương tác với ion Cl-. Sự tương tác này tạo ra khả năng tăng cảm nhận vị mặn cho dung dịch NaCl. Phương pháp đánh giá cảm quan cho thấy: Khi bổ sung nanochitin nồng độ 100 μg/ml đã làm tăng vị mặn cho dung dịch NaCl 0,65% ở mức khác nhau có nghĩa α = 5%. Kết quả này đã khẳng định tiềm năng ứng dụng nanochitin để giảm muối trong chế biến thực phẩm. Đồng thời mở ra hướng đóng góp quan trọng cho việc giảm muối trong khẩu phần ăn, giúp ngăn ngừa nguy cơ bệnh tim mạch cho người tiêu dùng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zp6qyg57
  • DEVELOMENT OF FISHERIES MATERIALS PRODUCTION AREAS IN MEKONG DELTA - CURRENT SITUATION AND SOLUTION

    Abstract : 474 PDF: 0
    Phung Giang Hai, Hoang Minh Huy, Vu Thi Thu Giang, Nguyen Thi My
    80-88

    Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) có diện tích và sản lượng tập trung lớn nhất Việt Nam. Kết quả sản xuất NTTS của vùng luôn đóng góp lớn cho kết quả chung của ngành thuỷ sản trong suốt thời gian qua. Mặc dù vậy, gần đây ngành NTTS, đặc biệt là tôm và cá tra là hai mặt hàng chủ lực của vùng ĐBSCL đã bắt đầu bộc lộ một số hạn chế về phương thức tổ chức sản xuất. Việc tổ chức sản xuất rời rạc, tự phát, quy mô nhỏ đang là một trong những nguyên nhân chính hạn chế hiệu quả của ngành này. Vùng nguyên liệu thuỷ sản là một giải pháp thay thế rất phù hợp trong bối cảnh hiện nay, tuy nhiên việc tổ chức lại hoạt động sản xuất NTTS truyền thống thành vùng nguyên liệu đang đối mặt với không ít thách thức. Nghiên cứu này nhằm hướng tới đề xuất một số giải pháp để hình thành các liên kết và sau đó dần hình thành vùng nguyên liệu thuỷ sản ở ĐBSCL.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tnm0ay03
  • SOLUTIONS FOR IMPLEMENTING THE ANNUAL LAND USE PLAN: A STUDY IN UONG BI CITY, QUANG NINH PROVINCE

    Abstract : 482 PDF: 0
    Do Thi Tam, Vu Thi Xuan, Bui Diem Quynh, Nguyen Quang Thi, Truong Do Thuy Linh, Nguyễn Thi Hong Hạnh
    89-100

    Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả và đề xuất giải pháp thực hiện hiệu quả kế hoạch sử dụng đất (KHSDĐ) hằng năm tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Các phương pháp sử dụng là: Thu thập số liệu, đánh giá theo thang đo Likert, đánh giá theo thời gian và theo chỉ tiêu sử dụng đất. Trong giai đoạn 2021 - 2024, KHSDĐ thường phê duyệt chậm hơn so với quy định pháp lý. Có 61,17% chỉ tiêu sử dụng đất (SDĐ) thực hiện ở mức rất tốt ([d] < 10%); 14,56% chỉ tiêu thực hiện ở mức tốt ([d] = 10 - < 20%); 11,65% chỉ tiêu thực hiện ở mức trung bình [d] = 20 - <30%; 2,91% chỉ tiêu thực hiện ở mức kém ([d] = 30 - < 40%) và 9,71% chỉ tiêu thực hiện ở mức rất kém [d] > 40%). Tổng số dự án theo KHSDĐ được phê duyệt là 493; trong đó, tỉ lệ dự án thực hiện xong chỉ chiếm 12, 37%; tỉ lệ dự án chuyển sang năm sau lên đến 70,59%; tỉ lệ dự án bị hủy bỏ chiếm 17,04%. Cán bộ, công chức đánh giá 4/10 tiêu chí ở mức rất tốt, 6/10 tiêu chí ở mức tốt. Để thực hiện hiệu quả KHSDĐ, cần thực hiện các nhóm giải pháp sau: Tăng cường công khai, minh bạch thông tin; nâng cao năng lực quản lý và điều hành thực hiện KHSDĐ; tăng cường phối hợp liên ngành và liên cấp; thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng; đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho KHSDĐ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/95y0qj02