Số 12 (2025)

					Xem Số 12 (2025)
Đã Xuất bản: 30-06-2025

Bài viết

  • KẾT QUẢ CHỌN LỌC PHỤC TRÁNG GIỐNG LÚA NẾP CÁI HOA VÀNG ĐẶC SẢN TỈNH THANH HÓA

    Abstract : 406 PDF: 0
    Tống Văn Giang, Nguyễn Bá Thông, Lê Thị Xuân Hà, Trần Thị Ân
    3-14

    Giống lúa nếp Cái hoa vàng là giống đặc sản của tỉnh Thanh Hóa, có thời gian sinh trưởng từ 153 - 155 ngày. Hạt gạo lật có màu trắng đục, thơm, cơm dẻo, được người tiêu dùng ưa chuộng. Năng suất trung bình có thể đạt 49 - 51 tạ/ha. Quá trình chọn lọc phục tráng thực hiện tại tỉnh Thanh Hoá từ vụ mùa năm 2022 đến vụ mùa năm 2024 theo TCVN 12181:2018. Kết quả chọn lọc phục tráng cho thấy, vụ thứ nhất (vụ mùa năm 2022) chọn được 181 dòng G0; vụ thứ 2 (vụ mùa năm 2023) chọn được 50 dòng G1 và vụ thứ 3 (vụ mùa năm 2024) chọn được 12 dòng G. Các dòng được chọn ở vụ G2 có độ đồng đều cao, thời gian sinh trưởng 154 ngày, chiều cao thân trung bình đạt 139,9 cm, chiều dài trục bông chính trung bình đạt 24,0 cm, số bông/khóm trung bình đạt 5,8 bông, tổng số hạt chắc/bông trung bình đạt 128,6 hạt; khối lượng nghìn hạt trung bình 26,9 g; năng suất hạt trung bình 0,49 kg/m2. Màu sắc hạt gạo lật trắng đục, có mùi thơm. Các dòng này hoàn toàn phù hợp với các tính trạng đặc trưng theo bảng mô tả và đã hỗn dòng đạt khối lượng 1.050 kg, được Trung tâm Kiểm nghiệm và Chứng nhận chất lượng Nông, Lâm, Thủy sản Thanh Hóa cấp phiếu kết quả thử nghiệm mã số 38.SNC.M24.001 xác nhận hạt giống đạt cấp siêu nguyên chủng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/4axcwb44
  • HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH CANH TÁC GIỐNGĐẬU ĐEN XANH LÒNG ĐƯỢC PHỤC TRÁNG TẠI HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

    Abstract : 328 PDF: 0
    Vũ Đăng Cang
    15-22

    Nguồn gen đậu đen xanh lòng Tuyên Quang là giống địa phương đã được thu thập và đang lưu giữ tại Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia. Từ năm 2016 - 2018, Trung tâm Tài nguyên thực vật đã phục tráng thành công giống đậu này. Đây là giống bản địa đã được trồng tại địa phương từ lâu đời. Giống có chất lượng tốt, khả năng chống chịu sâu, bệnh khá, đặc biệt là chịu hạn, được người dân địa phương ưa chuộng. Kết quả xây dựng mô hình cho thấy, giống đậu đen xanh lòng trong mô hình cho năng suất đạt 1.823 kg/ha, cao hơn so với giống đậu đen xanh lòng không tham gia mô hình là 1.630 kg/ha. Về hiệu quả kinh tế, các hộ tham gia mô hình có hiệu quả kinh tế cao hơn các hộ không tham gia, lãi thuần của các hộ tham gia mô hình đạt 68,350 triệu đồng/ha, so với 61,086 triệu/ha của các hộ không tham gia mô hình. Tỷ suất lợi nhuận biên MBCR các hộ tham gia mô hình so với các hộ không tham gia mô hình tại địa phương là 2,68.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tvdkq034
  • ẢNH HƯỞNG CỦA ẨM ĐỘ VÀ ĐIỀU KIỆN CHE SÁNGĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY CON GIỐNG SẮN KHÁNG BỆNH KHẢM LÁ (HN5) NHÂN NHANH TRONG NHÀ MÀNG TUNNEL TẠI TỈNH ĐẮK LẮK

    Abstract : 376 PDF: 0
    Nguyễn Văn Minh
    23-30

    Nâng cao số lượng và chất lượng cây con giống sắn, đặc biệt là giống sắn kháng bệnh khảm lá đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng nhanh của người trồng sắn trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của ẩm độ và điều kiện che sáng đến khả năng sinh trưởng của cây con giống sắn kháng bệnh khảm lá HN5 được nhân nhanh từ hom trong nhà màng Tunnel. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ nảy mầm ở tất cả các công thức ẩm độ và điều kiện che sáng khác nhau khá cao, đạt từ 95,13  đến 98,46%. Tuy nhiên, ẩm độ và ánh sáng có ảnh hưởng đáng kể đến sự sinh trưởng của cây con từ giai đoạn mọc đến giai đoạn cắt cây con trong nhà màng để ươm vào bầu hoặc khay 35 ngày sau trồng. Số liệu cho thấy, trong các công thức thí nghiệm, công thức độ ẩm không khí trong nhà màng từ 71 - 75%, kết hợp với che lưới 2 tuần trên nhà màng là điều kiện phù hợp nhất cho quá trình sinh trưởng của cây con giống sắn HN5, với chiều cao cây con tốt nhất là 44,66 cm, số lá trên cây con đạt 18,00 lá, đường kính thân cây con đạt 4,96 mm và tỉ lệ cây con nhiễm sâu, bệnh hại rất thấp (0,60%). Kết quả của nghiên cho thấy, việc duy trì được độ ẩm và chế độ che sáng phù hợp sẽ giúp nâng cao được chất lượng cây con giống sắn kháng bệnh khảm lá HN5 được nhân nhanh trong điều kiện nhà màng Tunnel.

    DOI: https://doi.org/10.71254/vqg2eg61
  • HIỆU QUẢ KHÁNG NẤM Botrytis cinerea CỦA CHIẾT XUẤT NHA ĐAM LÊN MEN VỚI Lactiplantibacillus plantarum YU2404 VÀLimosilactobacillus fermentum YU2405

    Abstract : 427 PDF: 0
    Lê Thị Loan, Nguyễn Văn Tự, Nguyễn Thị Tâm, Nguyễn Thị Ngọc Nhi, Võ Hoài Hiếu
    31-38

    Chiết xuất nha đam lên men bởi vi khuẩn lactic cho thấy, hiệu quả kháng nấm Botrytis cinerea, tác nhân gây bệnh thối quả dâu tây sau thu hoạch. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chiết xuất nha đam lên men bởi hai chủng vi khuẩn Limosilactobacillus fermentum YU2404 và Lactiplantibacillus plantarum YU2405, đặc biệt khi kết hợp đồng thời có khả năng ức chế nấm vượt trội. Cụ thể, chiết xuất lên men đồng thời hai chủng Lb. plantarum YU2404 và 5% (v/v) Lb. fermentum YU2405 (TN3) đạt tỷ lệ ức chế bào tử nấm là 81,00 ± 1,23%, ức chế hệ sợi nấm là 59,26 ± 5,61% và hiệu quả kiểm soát bệnh thối quả do B. cinerea đạt 82,10 ± 1,71%. Ngoài ra, khi bổ sung nguồn dinh dưỡng bao gồm: OP2 (glucose và skimed milk) và OP3 (đường ăn tinh luyện và sữa bột tách béo thương mại) vào chiết xuất lên men đồng thời hai chủng, hiệu quả ức chế hệ sợi nấm đạt lần lượt 70,83 ± 3,67% và 69,44 ± 5,56%, trong khi ức chế bào tử nảy mầm đạt 81,67 ± 2,52% và 81,17 ± 2,25%. Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả kinh tế trong ứng dụng thực tiễn, chiết xuất nha đam lên men đồng thời với hai chủng L. fermentum YU2404 và L. plantarum YU2405, được bổ sung 5% (w/v) đường ăn tinh luyện và 5% (w/v) sữa bột tách béo thương mại. Các nghiên cứu chuyên sâu hơn cần được thực hiện để mở ra cơ hội ứng dụng chiết xuất nha đam lên men OP3.

    DOI: https://doi.org/10.71254/fsk9y694
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MÀNG BAOXANTHAN GUM ĐẾN SỰ THAY ĐỔI MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG CỦA QUẢ ĐU ĐỦ (Carica papaya L.) SAU THU HOẠCH

    Abstract : 639 PDF: 0
    Nguyễn Minh Trọng, Nguyễn Lê Yến Nhi, Quách Văn Cao Thi, Nguyễn Trung Trực
    39-50

    Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tác động của màng bao từ xanthan gum (XG) lên một số chỉ tiêu chất lượng của quả đu đủ (Carica papaya L.) trong quá trình bảo quản sau thu hoạch. Nghiên cứu đã thực hiện khảo sát màng bao XG ở các nồng độ 0,5%; 0,75%; 1,0% (w/v) cùng các phụ gia ổn định cấu trúc màng gồm: Tween 80, CaCl2 và glycerol. Kết quả cho thấy, ở nồng độ 0,5% XG giúp làm giảm sự tăng nhanh về màu sắc của vỏ quả, duy trì độ cứng của quả, giảm hao hụt khối lượng, duy trì hàm lượng axit tổng số và làm chậm sự gia tăng hàm lượng tổng chất khô hoà tan, giúp kéo dài thời gian bảo quản của đu đủ lên thêm 3 ngày so với mẫu đối chứng ở điều kiện nhiệt độ phòng. Bên cạnh đó, hàm lượng phenolic cao hơn 1,7 lần và hàm lượng vitamin C cao hơn 1,5 lần so với mẫu đối chứng. Đồng thời, màng bao chứa 0,5% XG cho hiệu quả tốt trong việc làm giảm 33,33% tỉ lệ nhiễm bệnh và mức độ tổn thương do bệnh thấp hơn 1,6 lần so với mẫu đối chứng sau 9 ngày bảo quản. Nghiên cứu này cho thấy tiềm năng của màng bao XG trong việc duy trì chất lượng của trái đu đủ sau thu hoạch.

    DOI: https://doi.org/10.71254/9ge1ny98
  • ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG VÀ PHÂN CỤM SINH THÁI PHÂN BỐ CỦA CÁ CHÌNH HOA (Anguilla marmorata) Ở THÀNH PHỐ HUẾ

    Abstract : 497 PDF: 0
    Kiều Thị Huyền, Trần Nguyên Ngọc, Trương Văn Đàn, Nguyễn Quang Linh
    51-63

    Cá Chình hoa (Anguilla marmorata) là một trong hai loài cá Chình được phát hiện tại thành phố Huế. Cá Chình hoa phân bố rộng trên các hệ sinh thái sông, suối, đầm phá ở thành phố Huế. Quá trình thích nghi ở các giai đoạn khác nhau của vòng đời, các yếu tố môi trường, sinh cảnh đã ảnh hưởng tới cấu trúc quần thể cá Chình tại thành phố Huế. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái lên sự lựa chọn môi trường sống của cá Chình hoa ở các thủy vực khác nhau tại thành phố Huế. Các đặc điểm môi trường ở các thủy vực trên địa bàn thành phố Huế đã được khảo sát. Phân tích thành phần chính (PCA) và phân tích cụm thứ bậc (HCA) cho thấy, có sự đa dạng trong quá trình thích nghi của cá Chình hoa ở các kích cỡ khác nhau với các điều kiện sinh thái khác biệt tại các vùng nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu đã thể hiện được sự đa dạng về đặc điểm môi trường và phân bố của cá Chình hoa ở thành phố Huế. Nghiên cứu đã phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường sống và tập tính sinh học của cá Chình hoa ở các giai đoạn sinh trưởng thông qua đặc điểm của các cụm sinh thái phân bố của loài. Các kết quả từ nghiên cứu này góp phần cung cấp các cơ sở dữ liệu khoa học liên quan đến đặc điểm sinh học của cá Chình hoa tại thành phố Huế.

    DOI: https://doi.org/10.71254/1qjx8z50
  • XÂY DỰNG BẢN ĐỒ SẠT LỞ BỜ SÔNG, KÊNH RẠCH NỘI ĐỒNG TỈNH AN GIANG - PHƯƠNG PHÁP CÓ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG

    Abstract : 484 PDF: 0
    Cù Ngọc Thắng, Trần Văn Tỷ, Nguyễn Thanh Bình
    64-72

    Nghiên cứu này tập trung xây dựng bản đồ sạt lở có sự tham gia của cộng đồng trên hệ thống sông, kênh rạch nội đồng tỉnh An Giang. Phương pháp tiếp cận mới kết hợp dữ liệu thứ cấp từ báo cáo, tài liệu và ảnh viễn thám, cùng ý kiến từ cán bộ quản lý và cộng đồng thông qua hội thảo, khảo sát thực địa và kiểm chứng thông tin. Kết quả nghiên cứu đã xây dựng thành công bản đồ các vị trí sạt lở trên hệ thống sông, kênh cấp III, IV của tỉnh An Giang với dữ liệu được cập nhật đến tháng 2 năm 2024. Bản đồ sạt lở đã xác định 279 vị trí sạt lở, được phân loại thành ba mức độ: Ít, trung bình và nghiêm trọng. Các điểm sạt lở nghiêm trọng chiếm 31,2%, tập trung tại các huyện: Chợ Mới, Châu Thành và Tịnh Biên. Kết quả nghiên cứu đã cung cấp thông tin chi tiết về hiện trạng sạt lở tại tỉnh An Giang, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về nguy cơ sạt lở và các biện pháp ứng phó. Phương pháp lập bản đồ có sự tham gia sẽ hỗ trợ hiệu quả trong công tác quản lý rủi ro, quy hoạch hạ tầng và những vấn đề khác.

    DOI: https://doi.org/10.71254/h1qj4b31
  • CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ NĂNG SUẤT TÔM TRONG HỆ THỐNG CANH TÁC TÔM - LÚA BẰNG BIỆN PHÁP TRỒNG CÂY NĂN TƯỢNG (Scirpus littoralis) VÀ CỎ NƯỚC MẶN (Paspalum vaginatum)

    Abstract : 473 PDF: 0
    Châu Thị Anh Thy, Lê Văn Dũng, Trần Huỳnh Khanh, Võ Thị Gương
    73-79

    Hệ thống canh tác tôm - lúa phát triển rộng trên vùng đất nhiễm mặn theo mùa ở vùng U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Tuy đạt lợi nhuận cao, nhưng hệ thống canh tác này còn gặp khó khăn, năng suất tôm, lúa thấp và nhiều ruộng lúa bị chết sau thời gian canh tác ngắn. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá biện pháp cải thiện môi trường nước và năng suất tôm trong hệ thống canh tác tôm - lúa qua việc sử dụng hai cây cỏ thủy sinh bản địa trên đất nhiễm mặn tại vùng U Minh Thượng là Năn tượng (Scirpus littoralis) và Cỏ nước mặn (Paspalum vaginatum) được trồng trong ruộng của hệ thống canh tác tôm - lúa không canh tác được vụ lúa, nhiễm mặn cao, nông dân nuôi tôm quanh năm. Kết quả cho thấy, trên vuông nuôi tôm, trồng cây Năn tượng và Cỏ nước mặn giúp cải thiện một số đặc tính môi trường nước, phù hợp với sự phát triển của tôm sú so với mô hình không trồng cây thủy sinh, thể hiện qua pH = 7,7, độ mặn dao động từ 7,2 - 14,6‰, độ kiềm 100 - 142 mg/L, hàm lượng oxy hòa tan trong nước đạt 4,0 - 5,4 mg/L và đạm ammonium dao động từ 1,33 - 1,63 mg/L. Với sự cải thiện này, tôm sú sinh trưởng và phát triển tốt hơn trong nghiệm thức có trồng thực vật thủy sinh, năng suất tôm tăng 14 - 21% (P < 0,05). Kết quả này cung cấp cơ sở cho việc khuyến cáo biện pháp cải thiện môi trường nước trong nuôi tôm có thể giúp hệ thống canh tác tôm - lúa đạt hiệu quả cao và bền vững hơn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/kh0gce97
  • KẾT CẤU VÀ ĐA DẠNG LOÀI CÂY GỖ CỦA RỪNG PHÒNG HỘ TẠI KHU VỰC NÚI CẤM THUỘC TỈNH AN GIANG

    Abstract : 494 PDF: 0
    Nguyễn Thị Tuyết Hoa, Trần Thị Hồng Ngọc, Lê Diễm Kiều
    80-87

    Bài báo này giới thiệu kết cấu loài cây gỗ và đa dạng loài cây gỗ của rừng phòng hộ Núi Cấm thuộc tỉnh An Giang. Số liệu nghiên cứu là 20 ô tiêu chuẩn với kích thước 1.000 m2 (50 x 20 m). Kết cấu và đa dạng loài cây gỗ được đánh giá theo chỉ số IVI%, S, dMargalef, H’, J', 1-λ’, β-Whittaker và hồ sơ đa dạng của Rényi. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận được 37 loài cây gỗ của 21 họ thuộc ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta); trong đó có 5 - 6 loài với chỉ số IVI > 5%. Nhóm loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế phân bố ở cả rừng tự nhiên và rừng trồng là Sao đen (Hopea odorata Roxb.), Dầu rái (Dipterocarpus alatus Roxb. & G. Don), Keo lá tràm (Acacia auriculiformis Benth.) và Xoài (Mangifera indica L.). Rừng phòng hộ Núi Cấm có mức độ đa dạng loài cây gỗ thấp. Các chỉ số đa dạng của rừng tự nhiên cao hơn so với rừng trồng. Phân bố của các loài cây gỗ ở rừng tự nhiên đồng đều hơn so với rừng trồng. Trữ lượng gỗ của rừng tự nhiên thấp hơn so với rừng trồng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/eqhr9687
  • ỨNG DỤNG NỀN TẢNG ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY HỖ TRỢ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ PHÂN HẠNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CHO LOÀI XÁ XỊ Ở TÂY NGUYÊN, VIỆT NAM

    Abstract : 490 PDF: 0
    Phạm Mai Phương, Nguyễn Thị Thu Nga, Nguyễn Quốc Khánh, Nguyễn Duy Liêm, Vũ Đình Duy
    88-100

    Xá xị (Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn.), một loài thực vật gỗ quý hiếm thuộc họ Long não (Lauraceae), đang có nguy cơ tuyệt chủng tại Việt Nam do suy giảm sinh cảnh và tác động ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu (BĐKH). Nghiên cứu này nhằm xây dựng bản đồ phân hạng mức độ phù hợp sinh thái cho loài Xá xị tại khu vực Tây Nguyên ứng dụng thuật toán MaxEnt trên nền tảng điện toán đám mây Google Earth Engine, kết hợp dữ liệu phân bố địa lý của loài và các biến khí hậu sinh thái. Sáu kịch bản khí hậu tương lai trong giai đoạn 2080 - 2100 đã được sử dụng để dự báo sự biến động không gian sống tiềm năng của loài. Kết quả cho thấy, dưới tác động của BĐKH, các vùng có mức độ phù hợp sinh thái cao hiện nay tập trung chủ yếu tại các tỉnh: Lâm Đồng và Đắk Nông, mặc dù một số vùng phù hợp cao cho loài trong tương lai dự báo có nguy cơ thu hẹp và giảm cấp độ so với hiện tại. Những kết quả này cung cấp bằng chứng khoa học quan trọng, góp phần hỗ trợ công tác quy hoạch bảo tồn, phục hồi sinh cảnh và định hướng phát triển loài Xá xị bền vững tại vùng Tây Nguyên.

    DOI: https://doi.org/10.71254/85btwn89