Số 8 (2025)
Bài viết
-
NGHIÊN CỨU VÀ BÌNH TUYỂN CÂY ĐẦU DÒNG GIỐNG ĐÀO TIÊN PẮC Á TẠI TỈNH BẮC KẠN
Abstract : 274 PDF: 0Đào Tiên Pắc Á là giống đào bản địa tại huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Cây sinh trưởng khoẻ, hoa kích thước lớn, 5 cánh đơn, màu hồng đậm, nở đầu tháng 3 dương lịch. Quả chín cuối tháng 7, kích thước khá lớn, mẫu mã và chất lượng khá. Qua bình tuyển 3 năm (2021 - 2023), đã tuyển chọn và công nhận được 15 cây đầu dòng. Các cây đầu dòng có tuổi từ 15 - 17 năm, được trồng từ hạt, ra hoa quả ổn định, năng suất quả trung bình 39,8 - 49,7 kg/cây/năm, khối lượng quả 103,1 - 109,5 g/quả. Quả có dạng hình trứng, đỉnh quả nhô ra; vỏ quả có đám hồng đỏ có lớp lông mịn. Tỷ lệ ăn được trên 75%, thịt quả giòn và chắc, vị quả ngọt thanh, ít chát, có mùi thơm đặc trưng, độ Brix từ 11,02 - 12,20%, hàm lượng đường tổng số 8,68 - 9,11%, vitamin C từ 13,37 - 16,59 mg/100 g, axit tổng số 0,61 - 0,64%, tanin 0,27 - 0,30%.
-
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÁC DÒNG MƯỚP ĐẮNG RỪNG (Momordica charantia L.) TẠI HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
Abstract : 424 PDF: 0Mướp đắng rừng (Momordica charantia L.) là một cây dược liệu quan trọng, được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền và hiện đại. Nghiên cứu đã tiến hành đánh giá 56 dòng mướp đắng rừng về các đặc điểm nông sinh học, năng suất và mối quan hệ giữa các tính trạng. Thí nghiệm được thực hiện theo thiết kế khối ngẫu nhiên đầy đủ với hai lần nhắc lại. Kết quả năm 2023 chọn được 10 dòng ưu tú (MĐ1, MĐ3, MĐ6, MĐ21, MĐ23, MĐ25, MĐ26, MĐ41, MĐ51 và MĐ54) có số quả trên cây dao động từ 224,5 - 304 quả, năng suất thực thu dao động từ 2,21 - 2,61 tấn/ha. Như vậy, 10 dòng mướp đắng rừng có tiềm năng năng suất cao cần tiếp tục được đánh giá để làm nguồn nguyên liệu phục vụ cho công tác chọn tạo giống và sản xuất dược liệu mướp đắng rừng.
-
THÀNH PHẦN BỆNH HẠI VÀ DIỄN BIẾN BỆNH PHẤN TRẮNG (Erysiphe cichoracearum), BỆNH GIẢ SƯƠNG MAI (Pseudoperonospora cubensis) TRÊN CÂY DƯA LƯỚI TRỒNG TRONG NHÀ MÀNG TẠI MỘT SỐ TỈNH PHÍA NAM
Abstract : 560 PDF: 0Điều tra, xác định thành phần bệnh hại dưa lưới và diễn biến bệnh phấn trắng (Erysiphe cichoracearum) cùng bệnh giả sương mai (Pseudoperonospora cubensis) được thực hiện trong năm 2022 tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Tây Ninh, Bình Thuận. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tại tỉnh Tây Ninh, thành phần bệnh hại trên cây dưa lưới gồm 8 loại bệnh, trong khi tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Thuận có 7 loại bệnh gây hại. Trong đó, đã xác định được 1 tác nhân do vi khuẩn gây bệnh đốm cháy lá, 8 tác nhân do nấm. Bệnh phấn trắng và bệnh giả sương mai là những bệnh gây hại phổ biến tại các vùng điều tra. Bệnh phấn trắng xuất hiện vào giai đoạn cây hình thành quả, khoảng 30 ngày sau trồng và gây hại tương đối nặng ở thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Thuận. Tỷ lệ bệnh và chỉ số bệnh phấn trắng trên dưa lưới tại thành phố Hồ Chí Minh lần lượt đạt 43 và 18,65%. Bệnh giả sương mai xuất hiện sớm hơn, vào giai đoạn 20 ngày sau trồng, phát triển nhanh và gây hại nặng vào giai đoạn cuối vụ tại tỉnh Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh. Tỷ lệ bệnh giả sương mai trên dưa lưới tại thành phố Hồ Chí Minh là 54% và tại tỉnh Tây Ninh là 51%. Chỉ số bệnh tương ứng tại hai vùng này là 23 và 18,78%.
-
NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT BÓN PHÂN VÀ MẬT ĐỘ TRỒNG ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT ĐẬU ĐEN XANH LÒNG (Vigna unguiculata subsp. Cylindrica (L.) verdc)
Abstract : 307 PDF: 0Hai biện pháp kỹ thuật gồm: Lượng phân bón và mật độ trồng được tiến hành nghiên cứu để xác định được sự tích hợp tốt nhất của 2 biện pháp này cho sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế trong sản xuất đậu đen xanh lòng. Thí nghiệm gồm 2 nhân tố, 5 mức bón phân hữu cơ gồm: 0 (đối chứng), 4, 8, 12, 16 tấn/ha trên nền 30 kg N + 40 kg P2O5 + 40 kg K2O/ha + 300 kg vôi bột và 3 mật độ trồng: 16, 12, 8 cây/m2, được bố trí theo kiểu ô lớn, ô nhỏ (split – plot) với 3 lần nhắc lại trên đất nâu đỏ. Các chỉ tiêu theo dõi được thực hiện theo bộ phiếu thu thập, mô tả đánh giá của Trung tâm Tài nguyên thực vật. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 2 biện pháp kỹ thuật: Lượng phân bón và mật độ trồng có ảnh hưởng đến sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế của cây đậu đen xanh lòng. Năng suất và hiệu quả kinh tế đạt cao nhất tại mức bón phân hữu cơ là 4 tấn/ha và mật độ trồng là 16 cây/m2 (công thức P1M1). Với mức bón và mật độ này, năng suất thực thu đạt 15,17 tạ/ha/vụ, lợi nhuận đạt 28.075.000 đồng/ha/vụ và chỉ số VCR là 12,12. Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất sử dụng mức bón phân hữu cơ là 4 tấn/ha và mật độ trồng là 16 cây/m2 cho cây đậu đen xanh lòng trên đất nâu đỏ trong vụ hè thu tại tỉnh Quảng Trị.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ BÓN GỐC KẾT HỢP VỚI PHÂN HỮU CƠ BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CÂY ĐẬU BẮP
Abstract : 383 PDF: 0Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của phân hữu cơ bón gốc kết hợp với phân hữu cơ bón lá đến sinh trưởng và năng suất đậu bắp tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Thí nghiệm gồm hai nhân tố được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) với 3 lần nhắc lại. Nhân tố phân hữu cơ bón gốc gồm ba loại: Phân Quế Lâm (G1), phân gà (G2) và phân trùn quế (G3). Nhân tố phân hữu cơ bón lá gồm hai loại: Phân đạm cá (L1) và phân rong biển (L2). Kết quả nghiên cứu cho thấy, sử dụng phân hữu cơ bón gốc Quế Lâm và trùn quế đều làm tăng các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh lý và năng suất đậu bắp so với phân gà. Phân bón lá rong biển cũng cho các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh lý và năng suất đậu bắp cao hơn so với phân bón lá đạm cá. Sử dụng phân hữu cơ bón gốc Quế Lâm hay trùn quế kết hợp với phân bón lá rong biển cho năng suất đậu bắp cao nhất.
-
PHÂN LẬP MỘT SỐ FLAVONOID TỪ LOÀI VẨY ỐC (Ficus pumila L.) Ở VIỆT NAM, BÀO CHẾ VÀ ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH KHÁNG VIÊM, CHỐNG OXY HOÁ IN VITRO CỦA VIÊN HOÀN MỀM TỪ DƯỢC LIỆU VẨY ỐC, THỔ PHỤC LINH, THẠCH THIỀM THỬ
Abstract : 396 PDF: 0Trong nghiên cứu này, 3 hợp chất flavonoid 3′,4′,5,7-tetrahydroxyflavone, 3,4′,5,7-tetrahydroxyflavone; 3,3′,4′,5,7-pentahydroxyflavone được tìm thấy trong dịch trích ly của loài Vẩy ốc (Ficus pumila L.). Đây là những hợp chất có khả năng chống ung thư, chống oxy hóa, chống viêm và kháng vi rút. Trên cơ sở đó, viên hoàn mềm thảo dược được bào chế từ dịch trích ly ethanol - nước của loài Vẩy ốc kết hợp với Thổ phục linh (Smilax glabra Roxb) và Thạch thiềm thử (Stephania dielsiana Y. C. Wu) nhằm tăng cường hỗ trợ điều trị bệnh đau nhức xương khớp. Viên hoàn mềm có hoạt tính ức chế sinh NO trên tế bào RAW 264.7 với giá trị IC50 = 31,18 ± 2,86 µg/mL và khả năng ức chế gốc tự do DPPH với nồng độ IC50 = 168,016 µg/mL.
-
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG LÊN MEN BẰNG NẤM MEN CỐ ĐỊNH TRÊN GIÁ THỂ ALGINATE TRONG QUY TRÌNH SẤY BỘT QUẢ THẦN KỲ (Synsepalum dulcificum)
Abstract : 350 PDF: 0Quả thần kỳ với thành phần miraculin làm thay đổi cảm giác về vị sau khi nếm thử quả. Nghiên cứu nhằm khảo sát khả năng chế biến bột quả thần kỳ giữ được đặc tính đặc biệt trên và có thể sử dụng tiện lợi bằng cách bổ sung vào thực phẩm khác. Trong quả thần kỳ có chứa một lượng đường gây cản trở quá trình tạo bột khi sấy, nên cần được loại bớt một phần trước khi sấy. Lên men là phương pháp đơn giản, tiết kiệm, có thể đáp ứng yêu cầu loại một phần đường và vẫn duy trì được hoạt tính của miraculin. Quá trình lên men dịch quả sử dụng nấm men cố định trên giá thể alginate với tỷ lệ hạt men 0,5; 1,0; 1,5% (so với dịch quả lên men), trong các khoảng thời gian 30, 60, 90 phút, ở nhiệt độ môi trường. Dịch quả sau lên men được sấy thăng hoa thành bột quả. Hiệu suất thu hồi, hiệu suất loại đường, khả năng tạo bột và quan trọng nhất là hoạt tính miraculin thông qua sự thay đổi ngưỡng cảm nhận đối với các vị cơ bản khi sử dụng bột quả thần kỳ được xác định. Bột quả từ quy trình xử lý lên men hiệu quả nhất được sử dụng kết hợp với sản phẩm nước cam ép nguyên chất với các tỷ lệ: 0; 0,25; 0,5; 0,75; 1% và đánh giá sự cải thiện khả năng chấp nhận của người tiêu dùng đối với sản phẩm. Kết quả cho thấy, sử dụng 1,5% hạt men cố định và lên men dịch quả trong 30 phút cho sản phẩm bột quả thần kỳ có chất lượng cao, hoạt tính miraculin được duy trì thông qua kết quả làm giảm ngưỡng cảm đối với vị ngọt, tăng ngưỡng cảm với vị chua và đắng; hầu như không ảnh hưởng đến ngưỡng cảm với vị mặn. Bổ sung 0,5 - 0,75% bột quả thần kỳ cải thiện đáng kể khả năng chấp nhận của người tiêu dùng đối với sản phẩm nước cam ép nguyên chất lên đến 90%.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ VÀ AMMONIA ĐẾN TĂNG TRƯỞNG, TỈ LỆ SỐNG, TẦN SỐ HÔ HẤP VÀ TỈ LỆ DỊ HÌNH CỦA CÁ HỒNG MỸ (Sciaenops ocellatus) GIAI ĐOẠN GIỐNG
Abstract : 350 PDF: 0Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng riêng lẻ và kết hợp của nhiệt độ (27 - 28°C, 30°C, 32°C) và nồng độ ammonia không ion hóa (NH3: 0; 0,02; 0,03; 0,19; 0,23; 0,31 ppm) đến các chỉ tiêu chất lượng của cá hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus) giai đoạn giống. Cá được theo dõi về tỷ lệ sống, tăng trưởng (chiều dài, khối lượng, SGR), tần số hô hấp, dị hình xương và khả năng phục hồi sau thí nghiệm. Kết quả cho thấy, tỷ lệ sống giảm từ 90,0 ± 11,55% (27 - 28°C, 0 ppm) xuống 50,0 ± 11,55% (32°C, 0,31 ppm). Chiều dài kết thúc giảm từ 43,00 ± 3,00 mm còn 36,00 ± 0,01 mm (giảm 16,3%), khối lượng giảm từ 0,82 ± 0,02 g còn 0,47 ± 0,01 g (giảm 42,7%). Tần số hô hấp tăng từ 109,00 ± 1,73 lên 157,33 ± 5,13 lần/phút, tương ứng tăng 44,32%. SGR theo khối lượng giảm từ 4,82 ± 0,18%/ngày xuống 0,24 ± 0,19%/ngày (giảm 95,0%). Không ghi nhận dị hình xương rõ rệt ở tất cả các nghiệm thức. Tuy nhiên, ở các tổ hợp có nhiệt độ ≥ 30°C và NH3 ≥ 0,19 ppm, cá không sống sót đến hết giai đoạn phục hồi. Nghiên cứu xác định điều kiện tối ưu cho ương giống là 27 - 30°C và NH3 < 0,03 ppm. Kết quả cung cấp cơ sở khoa học để điều chỉnh quy trình kỹ thuật và quản lý môi trường, nâng cao chất lượng cá giống trong điều kiện biến đổi khí hậu.
-
NGHIÊN CỨU CẤP KHÍ BẰNG ỐNG VENTURI VÀO BỂ BÙN HOẠT TÍNH THEO MẺ ĐỂ XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT
Abstract : 420 PDF: 0Mục đích của nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng cung cấp oxy của ống venturi kết hợp bộ trộn cho các vi sinh vật (VSV) trong quá trình xử lý sinh học hiếu khí dạng sinh trưởng lơ lửng để loại bỏ TSS, chất hữu cơ và dinh dưỡng trong nước thải sinh hoạt. Mô hình thí nghiệm gồm 2 bể sử dụng thùng phuy nhựa HDPE có thể tích làm việc là 60 L và được vận hành theo mẻ với thời gian lưu nước là 5,5 giờ. Thí nghiệm được tiến hành song song với 2 dạng cấp khí gồm: Ống venturi kết hợp với bộ trộn và sục khí qua thanh sủi bọt vào mỗi bể. Thí nghiệm đầu được tiến hành để đánh giá hiệu quả hoà tan oxy vào trong nước. Sau đó, hai kiểu cấp khí được áp dụng để cung cấp oxy cho hai mô hình bể bùn hoạt tính đã được nuôi cấy VSV ổn định. Kết quả thí nghiệm cho thấy, hiệu suất xử lý TSS, chất hữu cơ và chất dinh dưỡng của 2 mô hình tương đương nhau. Hiệu suất loại bỏ COD và BOD5 đạt khoảng 80% và NH4+ đạt khoảng 90%. Mô hình cấp vi bóng khí bằng ống venturi kết hợp bộ trộn có hiệu suất loại bỏ TSS thấp hơn kiểu sục khí truyền thống. Nhìn chung, nồng độ trung bình của TSS, COD, BOD5, NH4+-N, NO3--N, PO43- trong nước thải sau xử lý lần lượt là 26,7 ± 4,2 mg/L và 18,3 ± 5,8 mg/L, 36,7 ± 15,5 mg/L và 34,3 ± 11,5 mg/L, 24,0 ± 6,5 mg/L và 21,1 ± 5,1 mg/L, 1,4 ± 0,11 mg/L và 1,26 ± 0,05 mg/L, 6,26 ± 0,74 mg/L và 6,07 ± 1,44 mg/L, 2,9 ± 0,3 mg/L 3,0 ± 0,37 mg/L đều đạt quy chuẩn xả thải loại A theo QCVN 14:2008/BTNMT. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, ống venturi kết hợp với bộ trộn để cấp oxy vào hệ thống bùn hoạt tính xử lý nước thải.
-
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG PHÒNG HỘ CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG CỦA RỪNG TRỒNG TRẨU (Vernicia montana Lour.) HỖN LOÀI TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ
Abstract : 315 PDF: 0Kết quả nghiên cứu rừng trồng Trẩu hỗn loài ở tỉnh Quảng Trị (Rừng trồng hỗn loài Trẩu, Thông nhựa, 20 tuổi; Trẩu, Thông nhựa, Sao đen, 20 tuổi; Trẩu, Sau sau, 10 tuổi; Trẩu, Sao đen, 10 tuổi; Trẩu, Lim xanh, Sao đen, 5 tuổi; Trẩu, Sao đen, 5 tuổi) bước đầu đã xác định rừng trồng hỗn loài Trẩu, Thông nhựa; Trẩu, Sau sau; Trẩu, Lim xanh, Sao đen có khả năng phòng hộ, cải thiện môi trường đất và không khí tốt. Theo đó, rừng trồng Trẩu hỗn loài (5 tuổi) có chỉ số cấu trúc tổng hợp của thảm thực vật rừng (Z) = 172,7% và đạt cao nhất ở rừng trồng Trẩu hỗn loài (20 tuổi), với Z = 297,8%. Nhiệt độ đất dưới tán rừng được cải thiện từ 1,4 - 2,5oC; độ ẩm đất được cải thiện từ 11,9 - 19,7%; các chỉ tiêu hoá tính đất được cải thiện là: Độ pH từ 1,88 - 2,02; hàm lượng mùn từ 2,01 - 2,95%; hàm lượng đạm dễ tiêu từ 1,53 - 2,24 mg/100 g đất; hàm lượng lân dễ tiêu từ 37,41 - 77,46 mg/100 g đất; hàm lượng kali dễ tiêu từ 75,8 - 85,91 mg/100 g đất. Nhiệt độ không khí dưới tán rừng được cải thiện từ 3,4 – 6oC; độ ẩm không khí được cải thiện từ 5 - 11,2%. Kết quả nghiên cứu làm cơ sở lựa chọn rừng trồng Trẩu hỗn loài phù hợp phát triển cho tỉnh Quảng Trị.








