Số 7 (2025)
Bài viết
-
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP CANH TÁC BƯỞI DA XANH BỀN VỮNG TẠI TỈNH BẾN TRE
Abstract : 892 PDF: 0Bưởi da xanh là cây trồng chủ lực của tỉnh Bến Tre với diện tích canh tác tăng trở lại trong thời gian gần đây. Mục tiêu nghiên cứu là xác định hiện trạng kỹ thuật canh tác và đề xuất hướng giải pháp canh tác bưởi da xanh. Dựa trên phương pháp phỏng vấn trực tiếp, 90 nông hộ ở 3 huyện được phỏng vấn về kỹ thuật canh tác, hiện trạng sử dụng phân bón, tình hình dịch bệnh trên cây bưởi da xanh. Kết quả cho thấy, 78,9% nông hộ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi xâm nhập mặn. Người trồng bưởi đã có kinh nghiệm trong sản xuất bưởi da xanh, với kỹ thuật thiết kế mô hay liếp, tưới tiêu nước và quản lý cỏ phù hợp. Tuy nhiên, phân bón chưa được sử dụng cân đối, ít sử dụng phân hữu cơ, hữu cơ vi sinh và chế phẩm vi sinh. Lượng phân vô cơ N, P2O5 và K2O trung bình lần lượt là 1,07, 0,818 và 0,704 kg/cây/năm, hữu cơ là 9,73 kg/cây/năm, khoảng 20% nông hộ không bón phân hữu cơ hằng năm trên cây bưởi da xanh. Mặt khác, nông hộ có quan tâm đến quản lý dịch hại theo hướng sinh học và đa phần nông hộ không dùng hóa chất để xử lý ra hoa. Năng suất trung bình của bưởi da xanh mỗi năm là 71,7 kg/cây. Phân tích SWOT cho thấy, mở rộng sản xuất thành vùng chuyên canh quy mô lớn phục vụ xuất khẩu thị trường châu Âu và châu Mỹ trong trường hợp khắc phục được ảnh hưởng bất lợi của xâm nhập mặn. Cần tăng cường sử dụng nguồn dinh dưỡng dưới dạng sinh học như chế phẩm vi sinh hay phân hữu cơ vi sinh.
-
NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG CỦA CÁC NGUỒN GEN CHÈ (Camellia sisnesis (L.) O. Kuntze) THU THẬP TẠI MỘT SỐ TỈNH BẮC MIỀN TRUNG
Abstract : 296 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện với 31 mẫu giống chè được thu thập từ 4 tỉnh Bắc miền Trung là: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị trong năm 2023 nhằm đánh giá các đặc điểm hình thái và mối quan hệ di truyền. Các tính trạng được mô tả dựa vào QCVN 01-124:2013/BNNPTNT và IPGRI (Viện Tài nguyên Di truyền thực vật Quốc tế), sử dụng 8 mồi của chỉ thị RAPD để đánh giá đa dạng di truyền. Kết quả cho thấy, các mẫu thu thập hầu hết đều có sự sai khác về hình thái. Phân tích thành phần chính cho thấy, 8 thành phần chính đầu tiên của 22 tính trạng có giá trị riêng lớn hơn 1, trong đó hai thành phần chính đầu tiên chiếm 30,92% tổng phương sai. Một số tính trạng như: Sắc tố búp, thân cành, cỡ lá có sự đóng góp lớn tạo sự khác biệt, đây là những đặc điểm quan trọng trong mô tả hình thái cây chè. Phân tích mối quan hệ di truyền của các mẫu giống chè thu thập được chia thành 3 nhóm, trong đó nhóm I và nhóm II chiếm ưu thế, hiện diện các mẫu thu được ở cả 4 tỉnh. Điều này thể hiện đa số các mẫu giống chè thu thập có quan hệ di truyền gần gũi với nhau. Kết quả nghiên cứu đóng góp vào việc đánh giá nguồn gen cây chè ở khu vực Bắc miền Trung.
-
TUYỂN CHỌN VI KHUẨN KHÔNG LƯU HUỲNH MÀU TÍA KHÁNG MẶN VÀ ARSEN
Abstract : 488 PDF: 0Ô nhiễm arsen (As) cũng như xâm nhập mặn đang trở thành vấn đề môi trường và sức khỏe cộng đồng ở một số nơi ở đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu đánh giá các chủng vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía (PNSB) có khả năng sinh trưởng trong môi trường mặn và nhiễm As để có thể ứng dụng hạn chế tác hại của mặn và As. Nghiên cứu thực hiện các thí nghiệm đánh giá sinh trưởng của các chủng PNSB trong điều kiện: (1) nhiễm mặn 1% Na+, (2) độc chất As3+ 110 ppm, (3) độc chất As5+ 200 ppm, (4) khả năng sản sinh Exo Polymerric (EPS) và sinh khối. Trong điều kiện mặn, các chủng PNSB sinh trưởng mạnh là S29, W10, W14, W15, W22, W25, W29, W31, W4.3, W44, W47 (0,94 - 1,53 mg/L). Trong môi trường có độc chất As3+ các chủng PNSB W14, W15, W25, W31, W 4, W4.3, W47 tăng trưởng mạnh (2,36 - 2,74 mg/L). PNSB sinh trưởng kém trong môi trường có độc chất As5+. Các chủng PNSB có khả năng tạo EPS trong khỏang 0,95 - 3,08 mg/L. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chủng PNSB có khả năng ứng dụng trong các chiến lược giảm thiểu ô nhiễm As và nhiễm mặn.
-
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN MÓCVÀ GIUN ĐŨA TRÊN ĐƯỜNG TIÊU HOÁ CHÓ TẠI DỊCH VỤ THÚ Y 586, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Abstract : 355 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10/2024 đến tháng 2/2025 nhằm xác định tỷ lệ nhiễm giun móc và giun đũa trên đường tiêu hoá trên tất cả các con chó ở các lứa tuổi khác nhau bằng phương pháp phù nổi của Willis tại Dịch vụ thú y 586, thành phố Cần Thơ. Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm giun móc và giun đũa là 60,51% trên tổng số chó khảo sát 671 con. Chó ở độ tuổi dưới 6 tháng tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất là 76,44%, chó từ 6 - 12 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm bệnh là 69,66% và chó trên 12 tháng tỷ lệ nhiễm bệnh là 33,49%. Chó được nuôi nhốt tỷ lệ nhiễm bệnh là 40,91%, thấp hơn nhiều so với chó nuôi thả (65,31%). Chó giống ngoại tỷ lệ nhiễm nhiễm bệnh là 48,33%, thấp hơn nhiều so với chó giống nội (77,30%). Không có sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm bệnh ở chó đực (62,39%) và chó cái (58,44%). Chó nhiễm giun móc, giun đũa và đồng nhiễm ghép giữa giun móc và giun đũa chủ yếu ở cường độ thấp (+). Tóm lại, khả năng nhiễm giun móc và giun đũa bị ảnh hưởng bởi giống, độ tuổi, phương thức nuôi nhưng không bị ảnh hưởng bởi yếu tố giới tính.
-
NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN CHIẾT XUẤT VÀ TẠO BỘT TỪ LÁ CÂY SƠN CÚC BA THÙY (Sphagneticola trilobata (L.) Pruski.)
Abstract : 297 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát các điều kiện thích hợp để trích ly các hợp chất polyphenol từ lá cây Sơn cúc ba thùy (Sphagneticola trilobata (L.) Pruski.) và đề xuất quy trình sản xuất sản phẩm bột giàu polyphenol. Các yếu tố khảo sát gồm: Kích thước nguyên liệu, nồng độ ethanol, tỉ lệ nguyên liệu/dung môi, nhiệt độ, thời gian chiết, kích thước mẫu và pH dung môi. Kết quả cho thấy, điều kiện thích hợp là ethanol 50°C, pH 6,3, tỉ lệ nguyên liệu/dung môi 1: 50 (w/v), nhiệt độ 70°C, thời gian 30 phút, kích thước 0,125 mm. Hàm lượng polyphenol đạt 36,139 ± 0,378 mg GAE/g mẫu, hiệu suất thu hồi 74,94%. Bột sản phẩm có độ hòa tan tốt, màu xanh đồng nhất, mùi thơm đặc trưng, hiệu suất thu hồi polyphenol đạt 68,70%.
-
NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT CAO CHIẾT GIÀU POLYSACCHARIDES TỪ NẤM LINH CHI BẰNG PHƯƠNG PHÁP ENZYME CÓ HỖ TRỢ SIÊU ÂM QUY MÔ PILOT
Abstract : 761 PDF: 0Kế thừa các kết quả nghiên cứu ở quy mô thí nghiệm, đã nghiên cứu và lựa chọn được các yếu tố công nghệ cho sản xuất cao chiết giàu polysaccharides từ nấm linh chi, quy mô 300 lít nguyên liệu/mẻ. Điều kiện thích hợp cho chiết xuất nấm linh chi là: Nấm được nghiền nhỏ với kích thước 1 - 2 cm x 0,5 - 1 cm, tỷ lệ nguyên liệu nấm/dung môi là 1 : 20, bổ sung 0,5% enzym celluclast, tiến hành siêu âm ở cường độ 600 W trong thời gian 35 phút ở nhiệt độ 50oC, tiếp tục ủ ở 50oC trong 115 phút. Thu hồi cao chiết giàu polysaccharides từ nấm linh chi bằng phương pháp cô chân không dịch chiết đến hàm lượng chất rắn hòa tan đạt 1,6oBrix, nhiệt độ cô đặc 60oC, áp suất 700 mmHg, thời gian cô đặc khoảng 4,5 giờ. Tạo sản phẩm cao chiết dạng bột từ nấm linh chi bằng phương pháp sấy thăng hoa với tỷ lệ chất mang thích hợp là maltodextrin 3%, chiều dày vật liệu sấy là 1 cm. Nguyên liệu được cấp đông ở nhiệt độ -300C trong 6 giờ, sấy thăng hoa với áp suất 30 – 60 Pa, nhiệt độ giàn ngưng -60oC, thời gian sấy 40 giờ. Sản phẩm cao chiết khô được nghiền bột mịn, có độ ẩm 4,5%, phù hợp với yêu cầu chất lượng của bột cao khô trong Dược điển Việt Nam V (< 5%); hàm lượng polysaccharides đạt 4,105 g/100 g (4,1%), chỉ tiêu an toàn thực phẩm đạt theo quy định trong Dược điển Việt Nam V và Quyết định 46/2007/QĐ-BYT ngày 19/12/2007 của Bộ Y tế. Sản phẩm có dạng bột khô, tơi, màu nâu xám, mùi thơm đặc trưng của nấm linh chi.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ NƯỚNG ĐẾN ĐỘNG HỌC BIẾN ĐỔI HÀM LƯỢNG ANTHOCYANIN VÀ CHẤT LƯỢNG BÁNH KHOAI MỠ TÍM (Dioscorea alata) NƯỚNG
Abstract : 685 PDF: 0Khoai mỡ tím (Dioscorea alata) chứa nhiều sắc tố tự nhiên anthocyanin có tính chống oxy hóa, hạn chế tiểu đường và ung thư ruột kết. Bên cạnh đó, khoai mỡ tím còn chứa nhiều chất nhầy là prebiotic và có khả năng giữ ẩm cao. Khoai mỡ tím được sử dụng để chế biến bánh nướng với giá trị dinh dưỡng và cảm quan. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá mức độ ảnh hưởng của nhiệt độ nướng (150, 160, và 170 oC) và thời gian nướng (20, 25, 30 phút) đến chất lượng bánh khoai mỡ tím nướng (độ ẩm, hoạt độ nước, độ cứng, độ gắng kết, hàm lượng anthocyanin, giá trị màu sắc L*, a*, b*, Ho và cảm quan). Bên cạnh 27 mẫu bánh khoai mỡ nướng được phân tích các chỉ tiêu hóa lý và anthocyanin, mẫu đối chứng (không nướng) cũng được xác định hàm lượng anthocyanin để đánh giá động học theo mô hình phản ứng bậc nhất và Arrhenius. Kết quả cho thấy, khi nướng ở nhiệt độ 170°C trong 20 phút, bánh khoai mỡ tím đạt điểm cảm quan cao nhất với màu tím đẹp, và hương vị thơm ngon. Bánh có lớp vỏ giòn và phần ruột mềm, ẩm với độ ẩm khoảng 26 - 27% và hàm lượng anthocyanin cao nhất (7,52 mg%). Mô hình phản ứng bậc nhất có thể dự đoán hàm lượng anthocyanin còn lại trong bánh khoai mỡ khi nướng ở nhiệt độ theo thời gian nướng. Mô hình Arrhenius được sử dụng để tính toán năng lượng kích hoạt cho quá trình phân hủy anthocyanin trong quá trình nướng, với giá trị năng lượng kích hoạt là 49,48 kJ/mol. Hàm lượng anthocyanin có quan hệ nghịch chiều mạnh với nhiệt độ nướng nhưng quan hệ thuận chiều mạnh với độ ẩm bánh. Kết quả nghiên cứu không chỉ cung cấp dữ liệu khoa học về sự biến đổi anthocyanin trong quá trình nướng mà còn gợi mở tiềm năng phát triển các sản phẩm bánh nướng từ khoai mỡ tím, góp phần đa dạng hóa sản phẩm thực phẩm giàu chất chống oxy hóa trên thị trường.
-
NGHIÊN CỨU PHỤ PHẨM QUẢ CÀ PHÊ: THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRONG CHẾ BIẾN THỰC PHẨM
Abstract : 609 PDF: 0Cà phê là một trong những đồ uống phổ biến nhất trên thế giới. Tùy theo từng quy trình chế biến khác nhau mà tạo thành các phụ phẩm khác nhau. Nhìn chung các phụ phẩm như: Thịt quả, vỏ quả, vỏ trấu, vỏ lụa đều có chứa nhiều hợp chất có lợi cho sức khỏe như chất xơ, polyphenol, caffeine. Tuy nhiên, hiện nay trong nước nguồn nguyên liệu phụ phẩm này hiện vẫn chưa được khai thác sử dụng nhiều và thường bị thải bỏ. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy, các nguồn phụ phẩm từ quy trình chế biến cà phê là nguyên liệu thích hợp cho sản xuất đồ uống (trà cascara, rượu vang, nectar), enzyme (cellulase, tannase, pectinase), trích ly các chất kháng oxy hóa (caffeine, chlorogenic acid, anthocyanin), nguồn cung cấp dồi dào chất xơ,
-
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI CỦA NÔNG HỘ TRONG VIỆC GIẢM THIỂU RÁC THẢI NHỰA TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
Abstract : 508 PDF: 0Nghiên cứu này nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của nông hộ trong việc giảm thiểu rác thải nhựa trong sản xuất nông nghiệp tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Nghiên cứu sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương bé nhất riêng phần (PLS - SEM) với phần mềm SmartPLS 4.0 trên bộ dữ liệu 412 nông hộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự thay đổi về hành vi của nông hộ trong việc giảm thiểu rác thải nhựa trong sản xuất nông nghiệp được giải thích bởi các nhân tố ý định và truyền thông là 44,9%. Đồng thời, ý định giảm thiểu rác thải nhựa của nông hộ trong sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng của các nhân tố nhận thức kiểm soát hành vi, tài chính, truyền thông và thái độ. Bên cạnh đó, ý định giảm thiểu rác thải nhựa cũng chịu tác động gián tiếp của nhân tố kiến thức. Mặt khác, thái độ chịu ảnh hưởng tích cực từ nhân tố kiến thức, nhận thức môi trường và nhận thức sức khỏe.
-
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH SỬ ĐẤT HẰNG NĂM TẠI THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2021 - 2024
Abstract : 335 PDF: 0Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất (KHSDĐ) hằng năm tại thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp: Điều tra thứ cấp, sơ cấp; đánh giá theo thang đo Likert, đánh giá theo thời gian và theo chỉ tiêu sử dụng đất. Kết quả nghiên cứu cho thấy, KHSDĐ hằng năm thường được phê duyệt chậm hơn so với quy định của pháp luật và thường phải điều chỉnh, bổ sung trong năm. Trong 84 chỉ tiêu sử dụng đất đánh giá, có 87,5% đạt mức thực hiện rất tốt; 13,46 ở mức tốt; 1,92% ở mức trung bình, kém và 3,75% ở mức rất kém. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 1/8 tiêu chí được đánh giá ở mức rất tốt, 6/8 tiêu chí ở mức tốt và 1/8 tiêu chí ở mức trung bình. Để nâng cao hiệu quả thực hiện KHSDĐ hằng năm, cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp sau: Về quản lý; huy động nguồn lực; tuyên truyền phổ biến pháp luật; xây dựng cơ sở dữ liệu tổng thể.








