Số 6 (2024)

					Xem Số 6 (2024)
Đã Xuất bản: 30-03-2024

Bài viết

  • Kết quả bình tuyển cây đầu dòng nguồn gen mít Dai ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam

    Abstract : 398 PDF: 0
    Lê Tuấn Phong, Nguyễn Thị Thu Hằng, Đoàn Minh Diệp, Nguyễn Thị Xuyến, Tống Xuân Hiệu
    3-13

    Mít Dai là nguồn gen mít đặc sản lâu đời của các tỉnh miền Bắc Việt Nam với phẩm chất quả tốt, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng. Tuy nhiên, hiện nay, diện tích trồng mít Dai địa phương ngày càng bị thu hẹp, nguồn gen bị xói mòn thậm chí có nguy cơ biến mất. Qua quá trình điều tra đánh giá, thành phố Hà Nội và tỉnh Phú Thọ có sự đa dạng nguồn gen mít Dai địa phương hàng đầu tại các tỉnh/thành phố miền Bắc, tiêu biểu về chất lượng quả, năng suất cũng như diện tích canh tác. Nhằm mục đích bảo tồn, khai thác phát triển hiệu quả nguồn gen mít Dai bản địa cần phải nghiên cứu, bình tuyển cây đầu dòng, chọn ra những cây mít chất lượng cao để tạo nguồn cung tốt đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất. Kết quả đã chọn được 7 cây mít Dai đầu dòng tại huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ và 9 cây mít Dai đầu dòng tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Các cây đầu dòng lâu đời được gieo bằng hạt, sinh trưởng khoẻ mạnh, lá màu xanh đậm hình trứng ngược, mũi nhọn. Hoa bắt đầu nở từ tháng 11 đến tháng 5 hàng năm. Quả mít chín rộ vào tháng 7, tháng 8. Chất lượng quả tốt, hàm lượng dinh dưỡng cao, vị ngọt, múi mềm, ráo múi, thơm, năng suất ổn định, hàm lượng chất khô (0Brix) trung bình cao trên 23% và được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh/thành phố cấp quyết định công nhận, đưa vào kế hoạch bảo tồn lâu dài nhằm khai thác nguồn thực liệu nhân giống mít Dai có hiệu quả.

    DOI: https://doi.org/10.71254/d9ypja95
  • Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc giống hoa huệ thơm Phúc Thọ, Hà Nội

    Abstract : 396 PDF: 0
    Nguyễn Văn Tiến, Đặng Văn Lãm, Nguyễn Thị Thu Hằng, Đặng Văn Đông
    14-24

    Nhằm cải thiện năng suất và chất lượng hoa trong sản xuất hoa huệ tại huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, năm 2022, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hoa, Cây cảnh đã nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách trồng và liều lượng phân bón, thuốc kích thích sinh trưởng, phân bón lá đến năng suất và chất lượng giống hoa huệ thơm. Kết quả cho thấy, trồng hoa huệ với khoảng cách 15 x 20 cm (25 cây/m2) kết hợp liều lượng phân bón 150 kg NPK + 30 kg urê/1.000 m2 giúp cho cây tăng trưởng mạnh (16,5 lá/cây, 6,5 cây/khóm) và năng suất, chất lượng hoa tốt nhất với tỉ lệ ra hoa hữu hiệu 93,6%, năng suất thực thu 21,6 cành/m2; sử dụng thuốc kích thích sinh trưởng Ademon super 22.43SL giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt với 17,0 lá/cây, 7,2 cây/khóm, tỉ lệ ra hoa hữu hiệu 96,8%, năng suất thực thu 22,1 cành/m2; sử dụng phân bón lá Đầu Trâu MK 701 (10-30-20 +TE) giúp cho cây hoa huệ đạt năng suất và chất lượng hoa cao nhất, với năng suất thực thu 21,8 cành/m2, chiều dài cành hoa lớn (105,5 cm), đường kính cành hoa to (1,2 cm).

    DOI: https://doi.org/10.71254/yf0mav92
  • Ảnh hưởng của vòm che thấp và lượng phân trùn quế đến sinh trưởng và năng suất của cây rau cải thìa (Brassica rapa subsp. Chinensis)

    Abstract : 448 PDF: 0
    Nguyễn Thị Loan, Nguyễn Ngọc Hưng
    25-34

    Nghiên cứu nhằm xác định lượng phân trùn quế phù hợp và sử dụng vòm che thấp bằng nilon trắng che phủ luống trồng (vòm che thấp) trên cây rau cải thìa tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Thí nghiệm đồng ruộng hai nhân tố bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với ba lần nhắc lại trong vụ xuân và vụ đông năm 2020. Nhân tố thứ nhất là vòm che thấp, gồm các công thức: M1 - để đất trống; M2 - sử dụng vòm che thấp. Nhân tố thứ hai là lượng phân trùn quế, gồm 4 mức: P0 - không bón; P1 - 6 tấn/ha; P2 - 9 tấn/ha; P3 - 12 tấn/ha. Kết quả cho thấy, sử dụng vòm che thấp làm tăng nhiệt độ và độ ẩm của không khí quanh cây trồng, kích thích sinh trưởng, tăng LAI, tích lũy chất khô, cho năng suất cao hơn so với khi không che phủ, đạt 17,61 tấn/ha trong vụ xuân và 14,92 tấn/ha trong vụ đông. Bón phân trùn quế ở mức 9 - 12 tấn/ha trong vụ xuân và bón 12 tấn/ha trong vụ đông cho chỉ số SPAD, chỉ số diện tích lá, khối lượng khô và năng suất thực thu cao nhất, đạt 18,28 - 19,28 tấn/ha trong vụ xuân và 16,73 tấn/ha trong vụ đông. Trong điều kiện vụ xuân và vụ đông tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, bón 12 tấn/ha phân trùn quế kết hợp sử dụng vòm che thấp cho sinh trưởng và năng suất thực thu cây rau cải thìa cao nhất, đạt lần lượt là 20,33 tấn/ha và 17,42 tấn/ha.

    DOI: https://doi.org/10.71254/hx9ymn14
  • Đánh giá hiệu quả các loại chế phẩm vi sinh, enzyme và nguyên liệu thủy phân đến chất lượng phân hữu cơ dạng lỏng

    Abstract : 333 PDF: 0
    Trần Thụy Ái Tâm, Huỳnh Thị Huế Trang
    35-42

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá khả năng thuỷ phân protein từ phụ phẩm cá nước ngọt, cá nước mặn cả biển, trùn quế và ốc bươu để thu dịch đạm dựa trên tác dụng của chế phẩm vi sinh Emzeo, men ủ cá và enzyme protease. Nội dung tập trung vào nghiên cứu khả năng thuỷ phân của các loại chế phẩm vi sinh có và không có kết hợp enzyme protease trên các nguồn nguyên liệu thuỷ phân như: Cá nước ngọt, cá biển, trùn quế và ốc bươu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong điều kiện ủ bình thường, thời gian thuỷ phân của nghiệm thức không bổ sung enzyme (36,08 ngày, 36,33 ngày) và nghiệm thức  có bổ sung enzyme protease (36,5 ngày, 37,0 ngày) không có sự khác biệt, do đó việc bổ sung enzyme protease không có tác dụng rút ngắn thời gian ủ. Hiệu quả thuỷ phân protein từ phụ phẩm cá nước ngọt (cá tra đã chết) và cá biển (cá đã chết) là tốt nhất không khác biệt, phần trăm dịch thuỷ phân là cao nhất nằm trong khoảng 84,75 - 87,15%, tổng số chất rắn hoà tan đạt cao nhất trong khoảng 19,315 - 19,607 mg/l, hàm lượng đạm tổng số là cao nhất 0,748 - 0,710%. Tuy nhiên, khi khảo sát hiệu quả của dịch thuỷ phân lên cây cải ngọt thì dịch thuỷ phân nghiệm thức cá nước ngọt cho hiệu quả tốt nhất và khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức còn lại về chiều cao cây đạt cao nhất 20,29 cm, chiều dài lá đạt tốt nhất 18,80 cm và khối lượng cây tươi là cao nhất 24,65 g/cây. Giữa các loại chế phẩm vi sinh sử dụng phần trăm dịch thuỷ phân (85,07 - 86,66%), hàm lượng đạm tổng số (0,501 - 0,508 g/ml), tổng số chất rắn hoà tan là cao nhất (14,503 - 15,797%), không có sự khác biệt về thống kê. Tuy nhiên, khi tiến hành khảo sát hiệu quả dịch thủy phân lên cây cải ngọt cũng cho thấy, dung dịch thuỷ phân sử dụng chế phẩm men ủ cá cho kết quả tốt nhất với chiều cao cây 20,33 cm, chiều dài lá 17,79 cm, khối lượng tươi của cây 19,97 g/cây là cao nhất và khác biệt với các nghiệm thức còn lại.

    DOI: https://doi.org/10.71254/370cke60
  • Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn nhân tạo đến một số đặc điểm sinh học của ruồi đục quả ổi (Bactrocera correcta Bezzi)

    Abstract : 366 PDF: 0
    Nguyễn Thị Thu Hương, Hồ Thị Thu Giang, Nguyễn Đức Tùng
    43-52

    Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá ảnh hưởng của 4 loại thức ăn nhân tạo đến sinh trưởng, phát triển của ruồi đục quả ổi (Bactrocera correcta Bezzi). Thí nghiệm được thực hiện theo phương pháp nuôi cá thể trong tủ định ôn ở nhiệt độ 280C, ẩm độ 70 - 80%, thời gian chiếu sáng 12 giờ/ngày với 4 loại thức ăn nhân tạo với thành phần chính là men bia (TA1), cám mì (TA2), cám gạo (TA3) và nhãn xay (TA4). Kết quả cho thấy, trưởng thành cái của ruồi đục quả ổi khi nuôi bằng TA2 (12,819 mg), TA3 (12,139 mg) có khối lượng lớn hơn rõ rệt so với khi nuôi bằng TA1 (11,948 mg), TA4 (11,335 mg). Ruồi đục quả ổi cái ăn thức ăn TA3 có vòng đời ngắn nhất (32,30 ngày), tiếp đó là TA2 (33,26 ngày). Số lượng trứng đẻ trong ngày và tổng số trứng đẻ của một trưởng thành cái khi nuôi bằng TA4 (lần lượt là 8,78 trứng/ngày và 319,43 trứng/ruồi cái) thấp hơn rõ rệt so với khi nuôi bằng 3 thức ăn còn lại. Hệ số nhân của một thế hệ Ro của ruồi đục quả khi nuôi sâu non bằng thức ăn TA2 (276,52) là cao nhất, tiếp theo là TA3 (270,86), TA1 (252,91) và thấp nhất là TA4 (182,52). Tỷ lệ tăng tự nhiên rm khi nuôi bằng TA3 cũng đạt cao nhất (0,136) so với khi nuôi bằng TA1 (0,131), TA2 (0,119) và TA4 (0,103). Kết quả nghiên cứu cho thấy, thức ăn phù hợp nhất cho ruồi đục quả ổi là thức ăn có thành phần chính là cám gạo TA3 và cám mì TA2.

    DOI: https://doi.org/10.71254/vf2cb687
  • Đặc điểm sinh học của ong Bracon hebetor (Hymenoptera: Braconidae) ký sinh trên ấu trùng sâu đầu đen hại dừa (Opisina arenosella)

    Abstract : 669 PDF: 0
    Lê Khắc Hoàng
    53-58

    Ong Bracon hebetor là loài thiên địch xuất hiện phổ biến ở các vườn dừa nhiễm sâu đầu đen tại tỉnh Bến Tre; là loài thiên địch tiềm năng trong kiểm soát sinh học sâu đầu đen. Nghiên cứu xác định đặc điểm sinh học của ong B. hebetor trên ấu trùng sâu đầu đen tuổi 6 được thực hiện tại Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện nhiệt độ 28 ± 2oC, ẩm độ 70 ± 5%, thời gian chiếu sáng 12 giờ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pha trứng ong B. hebetor có thời gian phát dục là 1,7 ± 0,45 ngày; pha ấu trùng trung bình 2,2 ±0,43 ngày. Giai đoạn tiền nhộng kéo dài trung bình 1,3 ± 0,45 ngày, pha nhộng ong B. hebetor có thời gian phát dục trung bình là 4,5 ± 0,51 ngày. Thời gian phát triển trung bình của trưởng thành ong B. hebetor đực là 9,9 ± 0,86 ngày và trưởng thành cái là 10,0 ± 0,92 ngày. Trưởng thành ong B. hebetor cái có thể đẻ từ 48 – 1.389 trứng, trung bình mỗi trưởng thành cái đẻ được 884 trứng. Tuổi thọ trung bình của trưởng thành B. hebetor đực là 16,9 ± 8,96 ngày, trưởng thành cái là 25,4 ± 9,98 ngày.

    DOI: https://doi.org/10.71254/g5wemm84
  • Nghiên cứu ảnh hưởng của dạng và tỉ lệ khoai lang tím bổ sung đến chất lượng của đậu hũ

    Abstract : 668 PDF: 0
    Trần Minh Phúc, Nguyễn Thị Thu Hương, Đỗ Thị Tuyết Nhung, Dương Thị Phượng Liên, Hà Thanh Toàn
    59-69

    Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá khả năng kết hợp khoai lang tím vào quy trình sản xuất đậu hũ truyền thống thông qua sự thay đổi hàm lượng các chất dinh dưỡng (độ ẩm, hàm lượng protein, hàm lượng lipid) và tính chất cơ lý (khả năng giữ nước, lực đàn hồi, hiệu suất thu hồi và màu sắc) của đậu hũ tím. Nghiên cứu đã khảo sát ảnh hưởng của dạng khoai (bột khoai, khoai hấp và dịch khoai), với tỉ lệ bổ sung (1,6; 2,4; 3,2; 4,0 gck) vào quy trình sản xuất đậu hũ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi bổ sung khoai lang tím ở dạng dịch khoai với tỉ lệ 3,2 gck sẽ phù hợp cho quy trình sản xuất sản phẩm đậu hũ đạt độ ẩm (75,88%), hàm lượng protein (13,02%), hàm lượng chất béo tổng (8,81%), khả năng giữ nước (4,75 g nước/g protein), hiệu suất thu hồi (180,49%), lực đàn hồi (11,55 N) và giá trị màu sắc L* (69,15), a* (10,01) và b* (1,10).

    DOI: https://doi.org/10.71254/bcawrs72
  • Nghiên cứu một số yếu tố công nghệ ảnh hưởng đến quá trình chế biến trà đen từ lá chè Truồi tại Phú Lộc, Thừa Thiên Huế

    Abstract : 800 PDF: 0
    Nguyễn Văn Huế, Nguyễn Quốc Sinh
    70-81

    Nghiên cứu chế biến trà đen từ lá chè Truồi thu hái theo truyền thống của người dân bản địa đã được thực hiện lần đầu tiên. Lá chè Truồi sau khi thu hái được rửa sạch, để ráo và bảo quản lạnh trong túi PE để tiến hành khảo sát và lựa chọn các thông số công nghệ phù hợp từ công đoạn làm héo đến công đoạn sấy dựa vào các chỉ tiêu như hàm lượng tanin, hàm lượng polyphenol, hàm lượng chất hòa tan, độ ẩm… cũng như các chỉ tiêu cảm quan của sản phẩm trà đen. Lá chè Truồi nguyên liệu sử dụng trong nghiên cứu này được lựa chọn từ lá thứ 3 đến lá thứ 5. Quá trình làm héo được tiến hành trong phòng thoáng khí ở nhiệt độ 30 - 35oC, độ ẩm 60 - 65% với thời gian làm héo thích hợp là 3 giờ, nguyên liệu lá chè có hàm lượng nước đạt 65,83%, hàm lượng tanin 21,05% chất khô (ck), hàm lượng chất khô hòa tan 41% ck và hàm lượng polyphenol 16,67% ck. Công đoạn vò chè được tiến hành trong thời gian 30 phút, độ dập tế bào đạt 86,33% và tỉ lệ vụn 5,40% phù hợp với 10TCN 458:2001. Lên men ở nhiệt độ 25 - 30oC, độ ẩm 85 - 90% trong thời gian 3 giờ trà đen thành phẩm có tỷ lệ TF/TR cao nhất (1/14). Sấy đối lưu ở nhiệt độ 90oC trong thời gian 90 phút đã được lựa chọn khi trà đen thành phẩm có độ ẩm dưới 5%, hàm lượng polyphenol đạt 14,44% ck, hàm lượng tanin đạt 14,31% ck. Sản phẩm trà đen từ nguyên liệu lá chè Truồi truyền thống có hương vị đặc trưng, mùi thơm trà tự nhiên, vị chát nhẹ, dịu ngọt hài hòa, đặc trưng cho sản phẩm. Nước pha trà đen có màu đỏ nâu đậm, có viền vàng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/a55rys91
  • Nghiên cứu ứng dụng công nghệ số GIS, viễn thám đánh giá khả năng phân bố cây Tam thất bắc (Panax notoginseng) cho vùng núi phía Bắc Việt Nam

    Abstract : 531 PDF: 0
    Trần Thị Mai Anh, Josef Eitzinger, Đỗ Thị Phương Thảo, Khương Mạnh Hà, Nguyễn Thế Hùng, Hoàng Hữu Chiến, Nguyễn Quang Thi, Nguyễn Huy Trung, Phạm Tuấn Anh, Dương Anh Quân
    82-92

    Tam thất bắc (Panax notoginseng) là loại cây dược liệu quý có nguồn gốc từ vùng núi phía Bắc của Việt Nam. Y học phương Đông sử dụng Tam thất bắc như là bài thuốc hỗ trợ điều trị nhiều vấn đề khác nhau, từ cải thiện tuần hoàn máu đến giảm stress và hỗ trợ tim mạch. Tuy nhiên, cây Tam thất bắc không có nhiều trong tự nhiên. Vì vậy, nghiên cứu đã ứng dụng công nghệ GIS số, viễn thám tích hợp ứng dụng machine learning và sử dụng NDVI (Chỉ số thực vật khác biệt chuẩn hóa) để phân loại ảnh vệ tinh Sentinel-2 nhằm xác định các vùng có khả năng phân bố cây Tam thất bắc, từ đó phát triển vùng trồng Tam thất bắc ở vùng miền núi phía Bắc Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Tam thất bắc phân bố rộng rãi ở các huyện Văn Bàn, Bát Xát, tỉnh Lào Cai và nhiều huyện miền núi cao của tỉnh Hà Giang, Cao Bằng với độ chính xác tổng thể là 89,2%, thống kê Kappa với thuật toán Random Forest tổng thể đạt 0,93%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/vch7rk86
  • Cung ứng gỗ rừng trồng sản xuất cho chế biến gỗ và sản phẩm gỗ trong bối cảnh thực thi Hiệp định EVFTA và gỗ hợp pháp ở Việt Nam

    Abstract : 370 PDF: 0
    Nguyễn Bá Ngãi, Lê Trọng Hùng
    93-100

    Chế biến gỗ và sản phẩm gỗ ở Việt Nam đang phát triển mạnh, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường nội địa và xuất khẩu. Do đó, nhu cầu gỗ nguyên liệu cho chế biến là rất lớn trong giai đoạn hiện nay. Câu hỏi đặt ra là gỗ rừng trồng sản xuất trong nước có khả năng đáp ứng nhu cầu cho chế biến ở mức độ nào? Những vấn đề gì đang tồn tại và giải pháp nào để tăng khả năng cung ứng gỗ rừng trồng sản xuất bảo đảm hợp pháp cho chế biến gỗ và sản phẩm gỗ? Từ tổng quan trên phạm vi cả nước và nghiên cứu thực trạng tại một số tỉnh trồng rừng sản xuất, đã cho thấy, gỗ nguyên liệu chưa đáp ứng đủ nhu cầu cho chế biến; tính hợp pháp và một số hạn chế khác của gỗ nguyên liệu được khai thác từ rừng trồng sản xuất trong nước cho chế biến trong bối cảnh thực hiện Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EU (EVFTA). Nghiên cứu cũng đã xác định được khoảng trống giữa nhu cầu và khả năng cung ứng gỗ nguyên liệu về số lượng, chất lượng; khoảng trống về bảo đảm gỗ hợp pháp từ nguồn cung gỗ rừng trồng sản xuất của hộ gia đình (HGĐ); đề xuất 3 nhóm giải pháp về tăng khả năng cung ứng gỗ nguyên liệu từ rừng trồng sản xuất, bảo đảm gỗ hợp pháp và khuyến nghị chính sách.

    DOI: https://doi.org/10.71254/4bgsxj11