Số 7 (2024)
Bài viết
-
Phân lập tác nhân gây bệnh héo rũ trên cây dưa lê tại tỉnh An Giang và đánh giá khả năng kháng nấm Fusarium spp. của một số giống cây trồng thuộc họ bầu bí
Abstract : 738 PDF: 0Với mục đích xác định chủng nấm gây bệnh héo rũ trên dưa lê và lựa chọn cây gốc ghép dưa lê kháng bệnh, nội dung nghiên cứu tập trung phân lập, tuyển chọn chủng nấm gây bệnh héo rũ, đánh giá khả năng kháng bệnh của một số cây trồng thuộc họ bầu bí. Kết quả nghiên cứu xác định chủng nấm A III.5.2 phân lập từ dưa lê ở huyện An Phú, tỉnh An Giang thuộc loài Fusarium oxysporum với chỉ số bệnh đạt 71,9% và tỷ lệ cây bị bệnh đạt 100% sau 15 ngày lây nhiễm trong điều kiện nhà lưới và mướp hương có khả năng kháng nấm Fusarium spp. gây bệnh héo rũ trên dưa lê với chỉ số bệnh và tỉ lệ bệnh lần lượt là 25% và 0%. Mướp hương có thể sử dụng làm gốc ghép dưa lê kháng bệnh héo rũ.
-
Ảnh hưởng của điều kiện trích ly đến hàm lượng polyphenol và hoạt tính kháng oxy hóa của dịch trích thân cây xạ vàng
Abstract : 738 PDF: 0Xạ vàng (Celastrus tonkinensis Pit.) là một loại thảo dược có nhiều tác dụng trong y học và tốt cho sức khỏe. Tuy nhiên, những nghiên cứu về loài cây này hiện nay còn khá hạn chế. Trong nghiên cứu này, thân cây xạ vàng khô được sử dụng làm nguyên liệu để trích ly các hợp chất phenolic với sự hỗ trợ của khuấy từ gia nhiệt. Các lát thân cây khô được rửa sạch rồi sấy ở 60ºoC đến khối lượng không đổi. Nguyên liệu khô được nghiền mịn rồi sàng qua rây và lấy các hạt có kích thước trong khoảng 106 - 250 μm. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình trích ly như loại dung môi, tỉ lệ nguyên liệu trên dung môi, thời gian và nhiệt độ trích ly đã được khảo sát. Hàm mục tiêu là hàm lượng polyphenol tổng (TPC) và các hoạt tính kháng oxy hóa (DPPH, ABTS, FRAP). Kết quả cho thấy, điều kiện trích ly tốt nhất khi sử dụng dung môi ethanol 70%, tỉ lệ nguyên liệu trên dung môi là 1 : 40, thời gian trích ly là 30 phút ở nhiệt độ 60oC. Hàm lượng polyphenol tổng và các hoạt tính kháng oxy hóa thu được ở điều kiện trên lần lượt là 5,088 μg GAE/mL (TPC), 36,195% (DPPH), 11,402% (ABTS) và 84,849 μg TE/mL (FRAP). Thân cây xạ vàng là một nguồn nguyên liệu tiềm năng, giàu các hợp chất có hoạt tính chống oxy hóa. Dịch trích có thể được cô đặc thành cao chiết, mở ra khả năng ứng dụng vào các sản phẩm dược mỹ phẩm.
-
Định lượng polyphenol toàn phần trong các chế phẩm Actisô bằng phương pháp Folin-Ciocalteu
Abstract : 1186 PDF: 0Trên thị trường Việt Nam và thế giới có rất nhiều chế phẩm bảo vệ gan từ cao chiết lá Actisô với nhiều dạng bào chế như viên nén, viên nang, viên bao đường,…Thành phần chính của cao chiết Actisô là các hợp chất phenol. Do đó, việc đánh giá hàm lượng polyphenol toàn phần trong các chế phẩm Actisô là cần thiết để có cái nhìn tổng thể về chất lượng của các chế phẩm này trên thị trường hiện nay. Cao lá Actisô được dùng làm nguyên liệu xây dựng quy trình định lượng polyphenol bằng phương pháp Folin-Ciocalteu. Phương pháp được thẩm định theo hướng dẫn của ICH. Quy trình định lượng được ứng dụng để xác định hàm lượng polyphenol toàn phần của 19 chế phẩm Actisô trong và ngoài nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy, phương pháp định lượng đạt tất cả các yêu cầu gồm khoảng tuyến tính là 7,5 - 120 µg/ml (R2 = 0,99), tính phù hợp hệ thống, độ chính xác liên ngày và trong ngày lần lượt có RSD là 1,14 và 1,61%, độ đúng đạt 96,82 - 99,27% (RSD = 1,68 - 2,35%). Hàm lượng polyphenol toàn phần trong các chế phẩm là 10,7 - 134,1 mg GAE/g. Do đó, quy trình định lượng đã đạt được các yêu cầu về thẩm định và có thể áp dụng để đánh giá hàm lượng phenol toàn phần trong các cao chiết cũng như các sản phẩm từ Actisô một cách chính xác. Các chế phẩm trên thị trường đã được phân tích và cho thấy chất lượng có sự khác biệt đáng kể.
-
Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung hỗn hợp vi lượng, thảo dược, men vi sinh và đạm thủy phân đến chất lượng tinh lợn Móng Cái, Duroc
Abstract : 373 PDF: 0Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung hỗn hợp vi lượng, thảo dược, men vi sinh, đạm thủy phân đến chất lượng tinh lợn Móng Cái, Duroc. Hai thí nghiệm được thực hiện gồm: (i) Đánh giá đặc tính sinh học của tinh dịch lợn đực giống thí nghiệm và (ii) Đánh giá hiệu quả của việc bổ sung hỗn hợp vi lượng, thảo dược, men vi sinh và đạm thủy phân trong khẩu phần ăn đến các chỉ tiêu chất lượng tinh của lợn đực giống. Ở thí nghiệm 1, 20 cá thể lợn đực giống Móng Cái và 20 cá thể đực giống Duroc (12 - 24 tháng tuổi) được khai thác tinh 2 lần/tuần, lặp lại 6 lần để đánh giá các chỉ tiêu chất lượng tinh nguyên. Ở thí nghiệm 2, lô đối chứng gồm 6 con đực giống lợn Móng Cái và 6 con đực giống lợn Duroc được áp dụng khẩu phần 100% cám công nghiệp, lô thí nghiệm gồm 10 cá thể thuộc mỗi giống được áp dụng khẩu phần ăn là khẩu phần cám công nghiệp được bổ sung vào mỗi kg cám hỗn hợp gồm: 5 g selen gluconat, 5 g kẽm gluconat, 13 g canxi gluconat, 1 g vitamin A, 1 g vitamin D, 2 g vitamin E, 3 g lysine, 2 g men vi sinh, 10 ml đạm thủy phân, 1 g thảo dược (Xuyên tâm liên), 50 g glucose, 3 g vitamin C. Các chỉ tiêu chất lượng tinh lợn được đánh giá sau 15 ngày cho ăn hỗn hợp này. Kết quả cho thấy, các chỉ tiêu chất lượng tinh nguyên của lợn đực giống Móng Cái và Duroc trong lô thí nghiệm gồm: Thể tích, nồng độ tinh trùng, hoạt lực tinh trùng, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình đạt trung bình lần lượt là 158,65 ml; 261,60 triệu tinh trùng/ml; 80,62%; 20,40% và 240,90 ml; 279,73 triệu tinh trùng/ml; 82,60; 19,24%. Trong đó, thể tích tinh tăng 17,7%, nồng độ tinh trùng tăng 11%, hoạt lực tinh trùng tăng 8%, giảm 10% tỷ lệ tinh trùng kỳ hình ở giống lợn Móng Cái và thể tích tinh tăng 15,5%, nồng độ tinh trùng tăng 22,1%, hoạt lực tinh trùng tăng 10% và giảm 7% tỷ lệ tinh trùng kỳ hình đối với lợn Duroc. Từ đó cho thấy, nên bổ sung các hỗn hợp vi lượng, thảo dược, men vi sinh, đạm thủy phân vào khẩu phần của lợn đực giống Móng Cái và Duroc với mức hàm lượng được thực hiện trong nghiên cứu này.
-
Nghiên cứu xác định thời điểm thu hoạch quả hồ tiêu thích hợp cho quá trình chế biến sản phẩm hồ tiêu đỏ
Abstract : 510 PDF: 0Cây hồ tiêu có tên khoa học là Piper nigri L, được trồng nhiều ở Việt Nam, đặc biệt là ở tỉnh Quảng Trị. Trong hồ tiêu thường có chứa các thành phần tạo mùi thơm, các thành phần tạo vị cay và các thành phần có hoạt tính sinh học. Các thành phần hóa học đặc trưng trong hồ tiêu là tinh dầu và alcaloid. Các thành phần này trong quả hồ tiêu thường thay đổi ở các thời điểm sinh trưởng khác nhau. Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định thời điểm thu hoạch quả hồ tiêu thích hợp cho quá trình chế biến sản phẩm hồ tiêu đỏ. Thí nghiệm được thực hiện là quả hồ tiêu thu hoạch ở các thời điểm 220 ngày, 225 ngày và 230 ngày kể từ khi đậu quả. Dựa vào sự biến đổi các chỉ tiêu cơ lý, chỉ tiêu dinh dưỡng và chỉ tiêu cảm quan cần chọn thời điểm thu hoạch quả hồ tiêu từ 225 - 230 ngày kể từ khi đậu quả để chế biến sản phẩm hồ tiêu đỏ. Do ở thời điểm này, quả hồ tiêu có khối lượng là 0,12 ± 0,01 g, đường kính 6,3 ± 0,1 mm, chiều cao 5,9 ± 0,1 mm, độ cứng 7,87 ± 0,21 kg/cm2, tỷ lệ vỏ 38,79 ± 0,09% và tỷ lệ hạt 61,21 ± 0,08%, hàm lượng alcaloid dao động từ 0,06 - 0,08%, hàm lượng tinh dầu dao động từ 2,78 - 2,92%. Quả hồ tiêu có màu sắc, mùi, vị và cấu trúc đặc trưng hấp dẫn hơn, màu đỏ đều hơn, vị cay sắc hơn, cấu trúc hạt giòn hơn thời điểm thu hoạch 220 ngày kể từ khi đậu quả.
-
Khảo sát đặc tính nguyên liệu hàu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas) được nuôi tại hai vùng nuôi phía Bắc của tỉnh Thanh Hóa
Abstract : 385 PDF: 0Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ thịt hàu Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng vì hàu có giá trị dinh dưỡng cao và nhiều tác dụng sinh học khác. Trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa có nhiều vùng nuôi hàu nhưng kết quả nghiên cứu về đặc điểm và thành phần sinh hóa của loài C. gigas chưa được công bố nhiều. Do đó, nghiên cứu này nhằm đánh giá đặc điểm nguyên liệu và một số thành phần dinh dưỡng (ẩm, protein, tro, lipit, amino acids và khoáng) trong thịt hàu C. gigas thu từ các trại nuôi trên địa bàn huyện Vạn Ninh (VN) và Ninh Hòa (NH), tỉnh Khánh Hòa qua 2 vụ nuôi (mùa khô và mùa mưa). Kết quả cho thấy, hàu nguyên con thành phẩm thu được loại có kích thước 10 - 13 con/kg (N2) chiếm ưu thế, loại 14 - 16 con/ kg (N3) và loại 8 - 10 con/kg (N1) có tỷ lệ thấp hơn N2 và biến động mạnh theo các tháng trong năm. Tỷ lệ thu hồi thịt giảm theo thứ tự N3 > N2 > N1 khi khảo sát cùng thời điểm thu mẫu. Thành phần dinh dưỡng của thịt hàu thu hoạch trong mùa khô có xu hướng cao hơn so với mùa mưa. Trong đó, protein là thành phần dinh dưỡng chính trong thịt, chiếm khoảng 12 ± 1,1% (mẫu thu vào mùa khô); 7 ± 1,5% (mẫu thu vào mùa mưa) và không có sự khác biệt (P > 0,05) giữa mẫu NH và VN. Hàm lượng lipit tổng số không có sự khác biệt đáng kể giữa các mẫu được lấy ở 2 vùng nuôi. Hàm lượng kẽm và selen của hàu từ 2 vùng nuôi khá cao, kẽm dao động ~70 và ~90,6 mg/kg; selen dao động ~0,2 và ~0,3 mg/kg trong mẫu thịt hàu, tương ứng với mùa mưa và mùa khô. Ngoài ra, hàu rất giàu axit amin thiết yếu, các thành phần axit amin cả 2 vùng thu được số liệu mùa khô cao hơn mùa mưa. Glutamate là thành phần chiếm ưu thế trong thịt hàu thu vào mùa mưa (~ 0,55 g/100 g) và cystine chiếm ưu thế khi phân tích mẫu hàu mùa khô (~1 g/100 g).
-
Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của tôm đất (Metapenaeus ensis) phân bố vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
Abstract : 476 PDF: 0Nghiên cứu xác định một số đặc điểm sinh học sinh sản của cá thể cái loài tôm đất (Metapenaeus ensis) phân bố ở vùng biển (bao gồm cả đầm phá) tỉnh Thừa Thiên Huế, được tiến hành thu mẫu từ tháng 7/2022 - 6/2023 tại các vùng biển thuộc xã Hải Dương, thị trấn Thuận An (thành phố Huế) và thị trấn Lăng Cô (huyện Phú Lộc), tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận, tôm đất cái thành thục lần đầu ở chiều dài toàn thân đạt 115,6 mm, chiều dài giáp đầu ngực 23,1 mm và khối lượng tương ứng đạt 17,3 g/cá thể. Sức sinh sản tuyệt đối dao động 96.075 - 195.636 trứng/cá thể cái và sức sinh sản tương đối 5.911 - 6.477 trứng/g. Hệ số thành thục sinh dục và tỷ lệ thành thục tôm cái đạt giá trị cao từ tháng 3 - 6, trong đó, cao nhất vào tháng 5 với tỷ lệ lần lượt đạt 5,12 và 34%.
-
Nghiên cứu phân vùng hiệu quả công nghệ khoan phụt măng sét xử lý thấm đê La Giang, tỉnh Hà Tĩnh
Abstract : 381 PDF: 0Bài báo trình bày khái quát đặc điểm công nghệ khoan phụt măng sét (CNKPMS) và khả năng áp dụng của công nghệ trong xử lý chống thấm công trình đê điều; nghiên cứu tổng hợp cấu trúc địa chất nền đê, thành phần cấp phối hạt và độ chặt của đất ở nền đê; phân tích khả năng lan truyền vữa phụt theo độ rỗng của môi trường đất thông qua chỉ tiêu cấp phối hạt Cu và độ chặt của đất (N30) theo thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn (SPT), tiến hành phân vùng áp dụng CNKPMS theo 5 mức hiệu quả (vùng hiệu quả cao, vùng hiệu quả trung bình, vùng hiệu quả thấp, vùng hiệu quả rất thấp và vùng không hiệu quả). Sử dụng phần mềm chuyên dụng Mapinfor và ArcGIS xây dựng sơ đồ phân vùng hiệu quả CNKPMS cho hệ thống đê La Giang, tỉnh Hà Tĩnh.
-
Đa dạng thành phần loài thú trên cạn ở một số đảo của Việt Nam
Abstract : 471 PDF: 0Việt Nam có 2.773 đảo ven bờ với tổng diện tích 1.720,8754 km2 không những có giá trị về phát triển kinh tế và du lịch sinh thái… mà còn chứa đựng nhiều giá trị đa dạng sinh học cần được khám phá. Các nghiên cứu gần đây về các loài thú đã cho thấy, giá trị đa dạng sinh học và các loài quý hiếm phân bố tại các đảo. Từ năm 2009 đến năm 2023, các nghiên cứu đã được thực hiện trên một số đảo, gồm: Cát Bà, Bạch Long Vĩ (thành phố Hải Phòng) và Bái Tử Long (tỉnh Quảng Ninh) (thuộc vịnh Bắc bộ); Cù Lao Chàm (tỉnh Quảng Nam), Hòn Tre (tỉnh Khánh Hòa), Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), Phú Quốc, Thổ Chu, Hòn Nghệ (tỉnh Kiên Giang) và Hòn Khoai (tỉnh Cà Mau). Kết quả khảo sát đã ghi nhận tổng số 98 loài thú (chiếm 42% tổng số loài hiện được ghi nhận ở Việt Nam) và phân loài thuộc 21 họ, 13 bộ. Trong số các loài ghi nhận, đảo Cát Bà (thành phố Hải Phòng) có số loài ghi nhận nhiều nhất: 54 loài. Tiếp đến là Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang): 43 loài, Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu): 28 loài, Bái Tử Long (tỉnh Quảng Ninh): 27 loài, Cù Lao Chàm (tỉnh Quảng Nam): 16 loài, Hòn Tre (tỉnh Khánh Hòa): 15 loài, Thổ Chu (tỉnh Kiên Giang): 8 loài, Bạch Long Vĩ (thành phố Hải Phòng): 5 loài và Hòn Nghệ (tỉnh Kiên Giang): 3 loài. Có 25 loài phổ biến được ghi nhận phân bố đều ở các đảo thuộc miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam. Khu hệ thú ở các đảo nghiên cứu mang tính đặc trưng theo vùng địa lý động vật với 25 loài quý, hiếm, đặc hữu và phân bố đặc trưng ở các đảo nghiên cứu.
-
Tuyển chọn một số loài thực vật bản địa đặc trưng đáp ứng tiêu chí cây xanh đô thị, có khả năng di thực trồng đường phố và công viên tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
Abstract : 521 PDF: 0Bài báo trình bày kết quả tuyển chọn một số loài thực vật bản địa đặc trưng đáp ứng được tiêu chí cây xanh đô thị, có khả năng di thực trồng tại công viên, đường phố tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng thông qua việc điều tra khảo sát thực địa, tham khảo ý kiến các chuyên gia và phương pháp phân tích đa tiêu chí (AHP-AHP cải tiến). Tại khu vực nghiên cứu, tiến hành điều tra khảo sát trên 4 tuyến chính, 24 tuyến phụ và các ô tiêu chuẩn (OTC), xây dựng được danh lục 27 loài cây bản địa đặc trưng thuộc 19 họ. Tham vấn ý kiến chuyên gia và phân tích đa tiêu chí, tuyển chọn được 10 loài thực vật bản địa triển vọng có khả năng di thực bao gồm: Thàn mát đen (Millettia nigrescens Gagn.); Dầu lá bóng (Dipterocarpus turbinatus C. F. Gaertn); Dành dành trung bộ (Dành dành thái) (Gardenia annamensis Pit.); Găng cao (Rothmannia eucodon (K. Schum.) Bremek.); Chò đen (Parashorea stellsta Kurz); Trà Việt Nam (Camellia vietnamensis Huang ex Hu); Thành ngạnh (Cratoxylum maingayi Dyer); Thàn mát trắng (Dalbergia duperreana Pierre); Trâm kiền kiền (Syzygium syzygioides (Miq.) Merr. et Per.); Trâm bồ đào (Syzygium jambos). Đây là cơ sở để đề xuất lựa chọn các loài cây, xây dựng các mô hình trồng thực tế tại các khu công viên và đường phố làm tăng thêm vẻ đẹp cảnh quan đô thị tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.








