Số 10 (2024)
Bài viết
-
ĐÁNH GIÁ NGUỒN GEN NGÔ SIÊU NGỌT TRẮNG, TÍM, ĐEN PHỤC VỤ CHỌN TẠO GIỐNG NGÔ ĐẶC SẢN
Abstract : 600 PDF: 0Nghiên cứu tiến hành đánh giá kiểu hình và tiềm năng phát triển giống của 109 nguồn gen ngô siêu ngọt chia thành 4 nhóm trong vụ đông năm 2022 tại thành phố Hà Nội, dựa trên 20 tính trạng nông sinh học nhằm chọn lọc dòng ngô siêu ngọt ưu tú phục vụ chọn tạo giống ngô đặc sản. Kết quả cho thấy, các dòng ngô siêu ngọt sinh trưởng, phát triển tốt với thời gian sinh trưởng trung bình trong khoảng 81,5 - 85,2 ngày, năng suất cá thể trung bình biến động từ 21,8 - 27,8 g/cây, chỉ số độ ngọt trung bình dao động từ 17,4 - 19,6 oBrix và độ dày vỏ hạt trung bình trong khoảng 44,3 - 63,9 µm. Chọn lọc dựa trên kiểu hình bằng chỉ số chọn lọc kiểu gen đa tính trạng (MGIDI) đã chọn được 30 dòng ngô siêu ngọt (10 dòng siêu ngọt trắng, 10 dòng siêu ngọt tím và 10 dòng siêu ngọt đen) ưu tú. Nghiên cứu đã cung cấp nguồn vật liệu ngô siêu ngọt trắng, tím, đen ưu tú là cơ sở để lai tạo giống ngô siêu ngọt mới, đa dạng về màu sắc và chủng loại tại Việt Nam.
-
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CỦA CÁ DÌA (Siganus guttatus Bloch, 1787) Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ BẰNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN ĐƠN VỊ HÌNH HỌC
Abstract : 545 PDF: 0Cá dìa (Siganus guttatus Bloch, 1787) là một loài cá vây tia thuộc họ Siganidae có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao đối với sản xuất và nuôi trồng thủy sản nên có triển vọng cho nghề nuôi cá ở Việt Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng. Do vùng đầm phá Tam Giang có địa hình đáy và hình dạng bờ vực đa dạng nên dòng chảy ở khu vực này rất phức tạp. Vì vậy, trong nghiên cứu này, đã thu thập và so sánh các đặc điểm hình thái bằng phương pháp tiếp cận đơn vị hình học của các nhóm cá được thu tại hai địa điểm là Sam Chuồn và Hương Phong thuộc đầm phá Tam Giang, tỉnh Thừa Thiên Huế nhằm đánh giá sự ảnh hưởng của dòng chảy lên sự đa dạng hình thái giữa các nhóm cá thể. Trên cơ sở phân tích đơn vị hình học của 27 điểm mốc từ 55 mẫu cá dìa thu ở khu vực nghiên cứu, kết quả chỉ ra rằng, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm cá thể đực và cái (p > 0,05). Tuy nhiên, nếu xét về yếu tố vị trí, kết quả phân tích chỉ ra rằng, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm cá thể được thu thập tại các địa điểm khác nhau (p < 0,05).
-
CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU CÂY TRỒNG VÙNG ĐỒNG BẰNG ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI SUY GIẢM NGUỒN NƯỚC TẠI TỈNH AN GIANG
Abstract : 474 PDF: 0Tỉnh An Giang có nguồn tài nguyên nước thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, nhưng hiện nay nguồn nước đang có nhiều biến động. Nghiên cứu tập trung khảo sát hiện trạng chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại vùng đồng bằng của tỉnh An Giang và những yếu tố tác động đến quá trình chuyển đổi. Nghiên cứu sự thay đổi điều kiện nguồn nước được xác định thông qua yếu tố tổng lượng nước về đồng bằng và mực nước nội đồng giai đoạn 1996 - 2020, số liệu được thu thập tại 7 trạm đại diện mực nước nội đồng tỉnh An Giang và được xử lý bằng phương pháp kiểm định hồi quy tuyến tính và phân tích Mankendall-SenSlope và Pettit. Sự chuyển đổi mô hình sản xuất được thu thập khảo sát bằng phương pháp phỏng vấn người am hiểu (KIP), phỏng vấn nhóm và 120 nông hộ. Kết quả cho thấy, đã có sự suy giảm mực nước tổng lượng nước về tỉnh An Giang và mực nước nội đồng. Nghiên cứu chuyển đổi từ trồng lúa sang cây trồng cạn (rau màu, cây ăn trái) đã và đang được thực hiện ở hai huyện An Phú và Châu Phú. Tại huyện Châu Phú, chuyển đổi từ lúa sang cây ăn trái (CAT) chiếm tỷ lệ 76,19% và huyện An Phú 38,03%. Lợi nhuận trồng màu cao hơn lúa 85,71%, năng suất lúa giảm 27,02% và thiếu nước canh tác (trồng màu thường yêu cầu ít nước hơn trồng lúa) 23,08%, đây là những nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Để phát triển cần chú ý hỗ trợ kỹ thuật giúp nông hộ áp dụng tốt hơn với mô hình mới và quan trọng là gia tăng liên kết giữa nông dân với các nhóm liên quan trong chuỗi giá trị, từ đó nông dân có được lợi nhuận cao hơn, tham gia nhiều hơn vào quá trình sản xuất, nhằm đảm bảo thu nhập ổn định cho nông hộ tại khu vực đồng bằng tỉnh An Giang.
-
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ĐẤT TRỒNG RỪNG GIỔI ĂN HẠT (Michelia tonkinensis) BẰNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH THỨ BẬC MỜ TẠI HUYỆN KON PLÔNG, TỈNH KON TUM
Abstract : 359 PDF: 0Giổi ăn hạt là loài cây thân gỗ đa mục đích vừa cho gỗ và cho hạt đem lại giá trị kinh tế cao. Trong vài năm trở lại đây, trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum đã có các mô hình trồng Giổi ăn hạt thuần loài và trồng xen với cây công nghiệp hoặc cây nông nghiệp (cà phê, sắn). Tuy nhiên, việc phát triển các mô hình này đều dựa trên kinh nghiệm thực tiễn của các địa phương đã trồng thành công loài cây này nên việc đánh giá đánh giá mức độ thích hợp làm cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển loài Giổi ăn hạt nhằm góp phần nâng cao chất lượng rừng từ các mô hình trồng cây lâm nghiệp đa mục đích ở địa phương. Bằng kỹ thuật GIS và phương pháp phân tích thứ bậc mờ với 4 nhóm nhân tố sinh thái chính (khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình và trạng thái thực bì) với 7 nhân tố sinh thái phụ (lượng mưa, nhiệt độ, độ dày tầng đất, loại đất, độ cao, độ dốc và loại hình sử dụng đất và rừng) để đánh giá mức độ thích hợp của loài Giổi ăn hạt ở các tiểu vùng sinh thái khác nhau. Tiềm năng đất trồng rừng Giổi ăn hạt trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum được phân thành 4 mức độ: Rất phù hợp, phù hợp, ít phù hợp và không phù hợp. Diện tích đất rất phù hợp cho trồng rừng Giổi ăn hạt là rất thấp, chỉ chiếm 1,60%, trong khi đó diện tích ít phù hợp chiếm tỷ lệ lớn nhất (74,14%); diện tích nằm ở mức độ phù hợp và không phù hợp gần như tương đương nhau, lần lượt là 10,00 và 14,26%.
-
XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐƠN VỊ ĐẤT ĐAI TẠI TỈNH ĐẮK LẮK
Abstract : 688 PDF: 0Mục đích nghiên cứu là xây dựng bản đồ đơn vị đất đai phục vụ đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp. Khu vực nghiên cứu là tỉnh Đắk Lắk, với tổng diện tích đất khảo sát là 1.189.057 ha. Sử dụng phầm mềm ArcGIS để xây dựng 6 bản đồ đơn tính cho 6 chỉ tiêu phân cấp gồm: Loại đất, độ dốc, thành phần cơ giới, độ dày tầng đất, lượng mưa và chế độ tưới. Bản đồ đơn vị đất đai được xây dựng trên cơ sở chồng xếp 6 bản đồ đơn tính. Kết quả cho thấy, khu vực nghiên cứu có 146 đơn vị đất đai với 2.041 khoanh đất, trong đó có tới 1.534 khoanh đất có diện tích từ 300 ha trở lên, 245 khoanh đất có diện tích >500 ha. Diện tích các khoanh đất khá lớn là điều kiện thuận lợi khi lựa chọn và phát triển vùng chuyên canh cây trồng. Trong vùng nghiên cứu của tỉnh Đắk Lắk có tới gần 800.000 ha có các tính chất đất đai thuận lợi cho phát triển cây trồng nông nghiệp như độ dốc <15°, tầng dày >70 cm, thành phần cơ giới trung bình tới nặng, độ cao tuyệt đối <1.000 m. Tuy nhiên, diện tích được tưới thấp, chỉ có 296.597 ha; đây là hạn chế lớn nhất của tỉnh trong phát triển nông nghiệp.
-
NGHIÊN CỨU VI NHÂN GIỐNG CÂY LƯỢC VÀNG (CALLISIA FRAGRANS LINDL.) VÀ SỰ TÍCH LŨY OLEANOLIC AXIT TRONG MÔ NUÔI CẤY
Abstract : 518 PDF: 0Cây Lược vàng là một trong những nguồn dược liệu để chữa trị các bệnh như: Nhiễm trùng, thoái hóa khớp, bỏng... Cây có chứa các hoạt chất có giá trị trong việc ức chế sự phát triển các tế bào ung thư, giúp tăng sức đề kháng tế bào và kích thích quá trình tái sinh tế bào. Vì vậy, cần thiết nghiên cứu nhằm bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu quý vùng nhiệt đới. Nghiên cứu xây dựng quy trình vi nhân giống in vitro cây lược vàng và phân tích hoạt chất oleanolic axit tích lũy. Chồi nảy mầm từ đốt thân cây thực sinh được sử dụng làm mẫu nuôi cấy. Trên môi trường MS có bổ sung 2 mg/l BA, cho tỷ lệ tái sinh chồi từ đốt thân là 82%. Nuôi cấy tạo cụm chồi trên môi trường có bổ sung 1 mg/l BA + 0,5 mg/l NAA cho 1,46 chồi/mẫu. Nhân nhanh chồi trên môi trường có bổ sung 1 mg/l BA + 0,5 mg/l IBA cho 5,87 chồi/mẫu sau 4 tuần nuôi cấy. Chồi được nuôi cấy tạo rễ trên môi trường có bổ sung 0,5 mg/l IBA có số rễ trung bình đạt 30 rễ/chồi, chiều dài rễ trung bình 3 cm trong 4 tuần nuôi cấy. Thuần hóa chồi trên giá thể đất sạch có tỉ lệ cây sống cao, sinh trưởng tốt, chiều cao cây đạt hơn 15 cm sau 2 tháng chăm sóc. Môi trường cơ bản MS có bổ sung kết hợp 2 mg/l 2,4D + 1 mg/l kinetin cho kết quả tạo mô sẹo tốt nhất, đạt tỷ lệ 76% sau 18 ngày nuôi cấy. Mô sẹo được cấy truyền trên môi trường MS có bổ sung 1 mg/l 2,4D + 0,5 mg/l kinetin cho ra chỉ số sinh trưởng đạt 4,49. Phân tích hoạt chất cho thấy, có sự tích tụ saponin trong mô sẹo và chồi in vitro
-
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÁC CHỦNG VI KHUẨN QUANG DƯỠNG KHÔNG LƯU HUỲNH MÀU TÍA HÒA TAN KALI TỚI SỰ NẢY MẦM CỦA HẠT NGÔ VÀ LÚA
Abstract : 523 PDF: 0Thí nghiệm được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá hiệu quả của các chủng vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía hòa tan kali tới sự nảy mầm của hạt ngô và lúa. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với các chủng vi khuẩn hòa tan kali, Cereibacter sphaeroides M-Sl-09, Rhodopseudomonas thermotolerans M-So-11, Rhodospeudomonas palustris M-So-14 và hỗn hợp 3 chủng vi khuẩn lần lượt ở các tỷ lệ pha loãng (mL/mL) 1: 500, 1: 1.000, 1: 1.500, 1: 2.000, 1: 2.500 và 1: 3.000, với 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 1 đĩa petri chứa 10 hạt ngô hay lúa. Kết quả cho thấy, các chủng vi khuẩn C. sphaeroides M-Sl-09, R. thermotolerans M-So-11 và R. palustris M-So-14 không gây độc đối với hạt ngô và lúa ở giai đoạn nảy mầm. Trong đó, tỷ lệ pha loãng 1: 2.500 ở cả 3 chủng vi khuẩn đơn C. sphaeroides M-Sl-09, R. thermotolerans M-So-11 và R. palustris M-So-14 và hỗn hợp 3 chủng không gây độc tính mà còn hiệu quả tốt nhất tới chỉ số sức sống của mầm, với giá trị lần lượt là 17,5, 12,0, 12,6 và 8,72% so với đối chứng, chỉ đạt 5,47% đối với hạt ngô và 9,60, 9,78, 10,0 và 11,7 so với đối chứng, chỉ đạt 7,31% đối với hạt lúa. Đồng thời, tỷ lệ pha loãng 1: 2.500 cũng góp phần cải thiện chỉ số tăng sức sống của mầm ngô tương ứng với 219,1; 102,7; 129,7; 59,2% và mầm lúa tương ứng với 31,4; 33,8; 37,3 59,8% đối với từng chủng đơn M-Sl-09, M-So-11, M-So-14 và hỗn hợp 3 chủng.
-
KHẢ NĂNG CỐ ĐỊNH ĐẠM CỦA VI KHUẨN VÙNG RỄ VÀ NỐT SẦN CÂY HỌ ĐẬU Ở TỈNH TRÀ VINH
Abstract : 844 PDF: 0Hiện nay, nhu cầu về phân bón ngày càng tăng cao, việc sử dụng một lượng lớn phân hóa học trong nông nghiệp là rất lãng phí. Đặc biệt, hiệu suất cây hấp thu phân đạm thấp và phần còn lại sẽ thoát ra môi trường gây ô nhiễm môi trường. Việc sử dụng vi khuẩn cố định đạm trong nông nghiệp là một trong những giải pháp thay thế được quan tâm hiện nay. Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân lập đánh giá, so sánh khả năng cố định đạm của các dòng vi khuẩn vùng rễ và vi khuẩn nốt sần. Từ 6 mẫu đất vùng rễ và 2 mẫu nốt sần cây họ đậu ở tỉnh Trà Vinh, đã phân lập được 10 dòng vi khuẩn vùng rễ trên môi trường Burk không đạm và phân lập được 7 dòng vi khuẩn nốt sần trên môi trường YEMA. Khảo sát 10 dòng vi khuẩn vùng rễ bằng phương pháp Indolphenol blue cho kết quả hàm lượng đạm NH4+ trung bình từ 0,296 - 0,812 mg/l, trong đó cao nhất là dòng N1 (0,562 mg/l), N7 (0,547 mg/l), N10 (0,812 mg/l) và được chọn để thực hiện thí nghiệm trong nhà lưới trên cây rau muống. Kết quả thí nghiệm trong nhà lưới cho thấy, khi bổ sung dòng vi khuẩn N1, chiều cao cây, khối lượng rễ, khối lượng tươi và khô của thân lá có khác biệt ý nghĩa so với khi bổ sung dòng vi khuẩn N7 và dòng N10. Khảo sát 7 dòng vi khuẩn nốt sần trên cây đậu xanh trong điều kiện nhà lưới cho thấy khác biệt ý nghĩa so với các nghiệm thức đối chứng. Trong đó, nghiệm thức có chủng dòng vi khuẩn R1.5 cho kết quả số nốt sần gấp 1,98 lần so với nghiệm thức không bổ sung vi khuẩn và gấp 2,04 lần so với nghiệm thức bón phân hóa học.
-
ẢNH HƯỞNG MỘT SỐ YẾU TỐ TỚI KHẢ NĂNG CHIẾT XUẤT TRITERPENOID TỪ NẤM VÂN CHI (Trametes versicolor) CÓ HỖ TRỢ SÓNG SIÊU ÂM
Abstract : 543 PDF: 0Nấm Vân chi (Trametes versicolor) là loài nấm dược liệu được sử dụng như dược phẩm tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ và bổ trợ điều trị cho các bệnh nhân ung thư. Hệ sợi và quả thể nấm Vân chi chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học như: Polysaccharide, glucans, phenolic, flavonol, coumarin, isoflavonoid, triterpenoid và sterol. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu chiết xuất triterpenoid tổng số (TTE) từ nấm Vân chi bằng hệ thống chiết siêu âm tần số 20 kHz. Kết quả cho thấy, các điều kiện thích hợp chiết xuất TTE là: Tỷ lệ ethanol 75%/nguyên liệu là 9/1 (v/w), cường độ siêu âm 50 w/cm2, nhiệt độ 50ºC, thời gian chiết 12 phút, cho hàm lượng TTE cao gấp 6,13 lần so với đối chứng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tiềm năng ứng dụng sóng siêu âm trong chiết xuất TTE từ nấm Vân chi mang lại hiệu quả hơn so với phương pháp chiết xuất thông thường không sử dụng sóng siêu âm, rút ngắn thời gian chiết xuất và hàm lượng TTE thu được cao hơn.
-
NGHIÊN CỨU XÁC LẬP ĐIỀU KIỆN LÊN MEN TẠO ĐỒ UỐNG TỪ DỊCH THỦY PHÂN BÃ ĐẬU NÀNH
Abstract : 686 PDF: 0Dịch thủy phân bã đậu nành dưới tác dụng của các chế phẩm enzyme đã được xác nhận có sự gia tăng đáng kể lượng chất hòa tan, thuận lợi cho chuyển hóa của vi sinh vật. Kết quả nghiên cứu đã xác lập được các điều kiện nhiệt độ, tỷ lệ tiếp giống, hàm lượng đường và thời gian lên men dịch thủy phân bã khi sử dụng đồng thời 2 chủng nấm men Saccharomyces cerevisiae var. boulardii CNCM I-745 và Saccharomyces cerevisiae 7012 nhằm tạo đồ uống lên men có chứa nấm men probiotic. Kết quả cho thấy, 30oC là nhiệt độ phù hợp trong điều kiện lên men kết hợp 2 chủng nấm men; hàm lượng saccharose bổ sung 1,5%; tỷ lệ tiếp giống ban đầu của probiotic S. boulardii CNCM I-745 là 6 log CFU/ml và tỷ lệ tiếp giống của S. cerevisiae 7012 không quá 5 log CFU/ml; thời gian lên men 24 giờ. Với điều kiện này, dịch sau lên men đã đạt được các thành phần mong muốn như mật độ nấm men probiotic sau lên men đạt 7,7 log CFU/ml; độ cồn không quá 1,2% v/v; chứa một số thành phần bay hơi có tác dụng tạo mùi thơm cho sản phẩm trong đó 2-phenylethanol được tạo ra đáng kể, chiếm 40% trong tổng lượng chất dễ bay hơi của dịch lên men.








