Số 10 (2022)
Bài viết
-
NGHIÊN CỨU TÍNH KHÁNG BỆNH BẠC LÁ CỦA CÁC DÒNG LÚA BẮC THƠM 7 ĐỘT BIẾN PROMOTER OsSWEET14
Abstract : 0 PDF: 0Vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae (Xoo) gây bệnh bạc lá trên lúa thông qua cơ chế hoạt hóa một số gen mã hoá protein vận chuyển đường của cây chủ, bao gồm cả OsSWEET14 nhờ protein tiết loại III TAL (transcription activator-like). Gây đột biến chính xác vị trí tương tác với protein TAL trên promoter của OsSWEET14 bằng các công cụ chỉnh sửa gen như CRSIPR/Cas9 (clustered regularly interspaced short palindromic repeats/CRISPR-associated protein-9 nuclease) là một trong những hướng nghiên cứu rất tiềm năng để cải tiến tính kháng bạc lá của các giống lúa. Gần đây, đã tạo được một số dòng lúa Bắc thơm 7 (BT7) chỉnh sửa gen mang đột biến đồng hợp trên promoter OsSWEET14. Trong nghiên cứu này, các dòng lúa BT7 chỉnh sửa gen tiếp tục được phân tích kiểu hình để đánh giá ảnh hưởng của các đột biến. Trong điều kiện nhà lưới, tất cả các dòng lúa BT7 chỉnh sửa gen đều có các chỉ tiêu nông học khác biệt không đáng kể so với dòng lúa đối chứng không chỉnh sửa gen, bao gồm thời gian sinh trưởng (102 - 106 ngày), chiều cao cây (100 - 107 cm), số nhánh (6 - 9 nhánh), số hạt chắc trên bông (81 - 89 hạt), năng suất cá thể (18 - 19 g/cây) và hàm lượng amylose trong nội nhũ (14 - 15%). Ba dòng lúa 1.12.07, 1.15.21 và 3.01.19 không thay đổi mức độ biểu hiện OsSWEET14 khi được lây nhiễm nhân tạo với 3 isolate Xoo đại diện VXO_11, VXO_60 và VXO_96. Cả 3 dòng lúa này đều thể hiện tính kháng rõ rệt với VXO_11 và kháng nhẹ với VXO_96. Kết quả này là tiền đề cho nghiên cứu phát triển giống lúa BT7 kháng bạc lá phổ rộng trong tương lai.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP CẮT TỈA ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT QUẢ GIỐNG CAM SÀNH BỐ HẠ TRỒNG TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu về ảnh hưởng của phương pháp cắt tỉa đến sinh trưởng và năng suất quả giống cam sành Bố Hạ được tiến hành trên vườn cam 4 năm tuổi trồng tại Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Cắt tỉa có tác dụng điều tiết sinh trưởng của các đợt lộc và nâng cao năng suất quả giống cam sành Bố Hạ. Năm cây sai quả (năm 2019, năm được mùa), cả hai phương pháp cắt tỉa đều có vai trò điều chỉnh tỷ lệ lộc xuân, yếu tố mang tính quyết định đến năng suất năm hiện tại và làm tăng tỷ lệ lộc thu, yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến năng suất năm tiếp theo của cây cam, trong đó CT1 (Phương pháp cắt tỉa của Viện Nghiên cứu Rau quả) cho năng suất cao nhất (17,7 kg/cây, so với 13,6 kg/cây ở công thức đối chứng (CT3). Năm cây ra ít quả (năm 2020, năm mất mùa) cả hai phương pháp cắt tỉa cũng có tác dụng tương tự, làm tăng tỷ lệ lộc xuân và lộc thu, qua đó nâng cao năng suất quả, trong đó, CT2 (cắt tỉa theo phương pháp khai tâm) cho năng suất cao nhất (8,4 kg/cây so với 5,8 kg/cây ở công thức đối chứng không cắt tỉa.. Từ kết quả nghiên cứu này, đã đưa ra khuyến cáo: Áp dụng phương pháp cắt tỉa của Viện Nghiên cứu Rau quả cho những năm cây ra sai quả và phương pháp cắt tỉa khai tâm cho những năm cây ra ít quả.
-
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CHỈ THỊ PHÂN TỬ ISSR (INTER-SIMPLE SEQUENCE REPEAT) ĐỂ ĐÁNH GIÁ SỰ ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA CÂY CHÔM CHÔM (Nephelium lappaceum L.)
Abstract : 0 PDF: 0Cây chôm chôm (Nephelium lappaceum L.) là loại cây ăn quả nhiệt đới có hương vị thơm ngon, giàu vitamin và khoáng chất. Nghiên cứu này đã sử dụng 3 mồi ISSR 03, ISSR 22 và ISSR 31 để đánh giá sự đa dạng di truyền của 15 mẫu giống chôm chôm. Kết quả điện di cho thấy, mồi ISSR 03 có 7 băng đa hình (chiếm 77,7%) trên 9 băng được khuếch đại; mồi ISSR 22 có 4 băng đa hình, chiếm 50% tổng số băng được khuếch đại và mồi ISSR 31 có 5 băng đa hình (chiếm 71,42%) trên tổng 7 băng được khuếch đại. Tổng hợp kết quả phân tích đa hình đã thu được 24 băng ADN được khuếch đại, trong đó có 16 băng đa hình, chiếm 66,6% tổng số băng khuếch đại. Kết quả xây dựng giản đồ phân nhánh UPGMA với 3 chỉ thị ISSR cho thấy, mức độ tương đồng của các mẫu dao động trong phạm vi 0,75 - 0,96, cho thấy sự tương đồng di truyền khá cao giữa các mẫu giống nghiên cứu. Phân tích kết hợp cả 3 chỉ thị ISSR 03, ISSR 22 và ISSR 31 có thể giúp phân biệt được các mẫu giống chôm chôm trong nghiên cứu. Kết quả của nghiên cứu này góp phần khẳng định thêm ý nghĩa của chỉ thị ISSR trong nghiên cứu đa dạng di truyền, nhận biết giống cây trồng nói chung và cây chôm chôm nói riêng tại Việt Nam.
-
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG KHÁNG MẶN CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU NÀNH TRIỂN VỌNG
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá khả năng chống chịu mặn NaCl của 4 giống đậu nành Ankur, MTĐ 885-1, AGS 314 và HL 09-10. Cây được trồng trong dung dịch dinh dưỡng 1/2 Hoagland có bổ sung NaCl ở 3 nghiệm thức mặn 120, 160, 200 mM và nghiệm thức đối chứng 0 mM NaCl. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức 2 nhân tố (nồng độ mặn và giống) hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại. Các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh khối, chỉ số cháy lá và chỉ tiêu sinh hóa như hàm lượng diệp lục và proline trong lá được đánh giá ở 2 thời điểm xử lý mặn 21 và 28 ngày sau khi gieo (NSKG). Mặn NaCl làm giảm sinh trưởng, sinh khối và hàm lượng diệp lục trong lá, nhưng làm tăng chỉ số cháy lá và hàm lượng proline trong lá. Giống Ankur có chỉ số chống chịu mặn STI cao nhất, kế đến là MTĐ 885-1 và HL 09-10. Có thể nghiên cứu và đánh giá thêm Ankur, MTĐ 885-1, HL 09-10 trong môi trường đất nhiễm mặn hoặc tưới mặn để khẳng định khả năng chịu mặn và tính khả thi của các giống này trong điều kiện xâm nhiễm mặn hiện nay.
-
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA GA3, GA7, MELATONIN VÀ MỘT SỐ VITAMIN ĐẾN QUÁ TRÌNH NẢY MẦM CỦA HẠT GIỐNG CẢI XANH (Brassica juncea (L.) Czern)
Abstract : 0 PDF: 0Trong canh tác cây trồng hiện đại, sự đồng nhất về sinh trưởng, sự đảm bảo về mật độ và khả năng phát triển nhanh sau khi mọc mầm của cây trồng là vô cùng quan trọng. Để đáp ứng tốt hơn đối với nhu cầu này, các biện pháp xử lý nảy mầm, đặc biệt là công nghệ bao màng hạt giống (seed coating) có những đóng góp đáng kể, giúp cho sự phát triển của cây con được thuận lợi. Nghiên cứu này được thực hiện thông qua các thí nghiệm xử lý hạt cải xanh trước khi gieo bằng Gibberellin GA3 và GA7, Melatonin và một số loại vitamin. Tất cả các thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiễn, đơn yếu tố với 3 lần lặp lại. Kết quả thí nghiệm đối với nhóm các chất điều hòa sinh trưởng trên hạt cải xanh cho thấy, khi bổ sung chất điều hòa sinh trưởng thì tỷ lệ nảy mầm đều đạt ở mức độ cao hơn so với nghiệm thức đối chứng. Hạt cải xanh được xử lý với GA3 nồng độ 10 ppm cho tỷ lệ nảy mầm và chiều cao cây đạt cao nhất, lần lượt là 97,51% và 9,35 cm. Bên cạnh đó, hạt cải xanh được xử lý với vitamin B1 ở nồng độ 10 ppm cũng cho tỷ lệ nảy mầm cao hơn đối chứng và đạt 93,33%. Hiệu quả thúc đẩy nảy mầm này có thể trở thành cơ sở tạo ra lớp màng bao hạt giống trong kỹ thuật bao phủ hạt giống.
-
KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG NẤM Colletotrichum sp. GÂY BỆNH THÁN THƯ HẠI HẠT SEN CỦA MỘT SỐ CHỦNG XẠ KHUẨN
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu “Khả năng đối kháng nấm Colletotrichum sp. gây bệnh thán thư hại hạt sen của các chủng xạ khuẩn” được thực hiện nhằm mục tiêu tìm ra chủng xạ khuẩn có khả năng đối kháng cao với nấm Colletotrichum sp. gây bệnh thán thư hại hạt sen. Kết quả đánh giá hoạt tính đối kháng cho thấy, 4 chủng xạ khuẩn ký hiệu BT - VL9, HB - BL10, BT - VL7, CĐ - CT3 đều có hoạt tính đối kháng nấm Colletotrichum sp., trong đó chủng BT - VL9 có bán kính vòng vô khuẩn cao nhất là 9,5 mm và hiệu suất đối kháng đạt 67,80% sau 7 ngày nuôi cấy. Kết quả nghiên cứu khả năng ức chế mọc mầm bào tử nấm Colletotrichum sp. xác định 4 chủng xạ khuẩn có tác dụng giảm tỷ lệ mọc mầm bào tử nấm và sử dụng chủng BT - VL9 cho tỷ lệ bào tử nấm mọc mầm thấp nhất là 7,733% sau 48 giờ nuôi cấy. Cả 4 chủng xạ khuẩn nghiên cứu đều có khả năng hạn chế sinh trưởng, phát triển của nấm Colletotrichum sp. và chủng BT - VL9 có log mật độ nấm thấp nhất là 6,012 bào tử/ml sau 7 ngày nuôi cấy.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA VI KHUẨN CỐ ĐỊNH ĐẠM VÀ CÁC MỨC BÓN PHÂN ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ HẤP THU ĐẠM CỦA CÂY BẮP (Zea mays L.)
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu ảnh hưởng của vi khuẩn (VK) cố định đạm và các mức bón phân đạm đến sinh trưởng, năng suất và sự hấp thu đạm của cây bắp trong chậu và ngoài đồng. (1) Thí nghiệm trong chậu được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, hai nhân tố gồm 4 mức độ phân đạm vô cơ: 0%, 50%, 75% và 100% N và hai chủng VK AGVRB07 và AGVRB28; (2) Thí nghiệm bố trí trên ruộng gồm VK AGVRB28 và 4 mức độ đạm (0% N, 50% N, 75% N) với 4 lần lặp lại. Kết quả thí nghiệm trong chậu cho thấy, nghiệm thức có bổ sung VK AGVRB28 và bón 75% lượng đạm cho năng suất hạt cao nhất (100,7 g/chậu) cũng như năng suất trái (182,2 g/trái). Kết quả đánh giá thí nghiệm ngoài đồng cho thấy, ở các nghiệm thức có bổ sung AGVRB28 kết hợp với bón 75% và bón 50% lượng đạm đạt năng suất cao (15.225 kg/ha và 14.553 kg/ha) và không khác biệt ý nghĩa thống kê so với đối chứng bón 100%N (15.286 kg/ha). Khả năng hấp thụ đạm của hạt, thân và lá không bị ảnh hưởng khi có bổ sung VK AGVRB28. Dựa trên kết quả có thể kết luận rằng bổ sung VK cố định đạm AGVRB28 có thể giảm lượng đạm vô cơ từ 35-70 kg N/ha (25-50% so với đối chứng) nhưng vẫn đạt sinh trưởng, năng suất cây bắp.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ RA HOA Ở HỒNG CORAIL GELEE VÀ PAS DE DEUX (Rosa sp.) TẠI LONG XUYÊN, AN GIANG
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm chọn ra loại phân bón lá và phân bón gốc thích hợp để hồng Corail Gelee và Pas De Deux (Rosa sp.) sinh trưởng và ra hoa tốt tại Long Xuyên, An Giang. Kết quả cho thấy, sau 12 tuần trồng, phân bón lá N3M 1 g/L phù hợp đối với hồng Corail Gelee, cho chiều cao 76,1 cm, đường kính tán 30,6 cm; 2,4 chồi, tỷ lệ ra hoa là 93,3%. Phân bón lá Atonik 0,5 mL/L phù hợp cho hồng Pas De Deux, với chiều cao 50,8 cm, đường kính tán 23,4 cm, 1,7 chồi, tỷ lệ ra hoa 94,5%; phân bón gốc Đầu Trâu 16 -16 - 8 + TE 25 g/lần bón phù hợp cho sinh trưởng và ra hoa của hồng Corail Gelee, cho chiều cao 76,9 cm, đường kính tán 38,3 cm, 4,2 chồi, tỷ lệ ra hoa là 94,1%; phân bón gốc Đầu Trâu đa năng 17 - 12 - 7 + TE 25 g/lần bón phù hợp nhất đối với hồng Pas De Deux, cho chiều cao 51,3 cm, đường kính tán 31,2 cm, 4,8 chồi, tỷ lệ ra hoa 88,8%.
-
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TÍNH CHẤT ĐẤT TRỒNG RAU MÀU TẠI TỈNH PHÚ THỌ
Abstract : 0 PDF: 0Đã sử dụng các phương pháp như kế thừa số liệu thứ cấp, điều tra nhanh nông thôn (PRA), lấy mẫu, phân tích các tính chất đất để đánh giá tình hình sản xuất rau, màu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Kết quả cho thấy, trong sản xuất rau, màu trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2015-2020 diện tích gieo trồng, năng suất cũng như sản lượng có sự biến động nhưng xu hướng tăng là rõ rệt. Đã hình thành một số vùng canh tác tập trung với diện tích lớn, như ngô ở Thanh Sơn, Cẩm Khê, Đoan Hùng, Phù Ninh, Thanh Ba, Yên Lập diện tích xấp xỉ 1.700 ha đến 2000 ha/huyện. Trong canh tác người dân chú trọng đầu tư thâm canh, tuy nhiên, đối với ngô, rau thường bón ít phân hữu cơ, chủ yếu bón phân vô cơ (đặc biệt đối với rau). Phân hữu cơ thường được bón 6-7 tấn/ha; phân hỗn hợp NPK 5-10-3 khoảng 550-700 kg/ha. Mức độ bón phân không đồng đều, một số hộ dân không bón phân hữu cơ cho ngô, bón ít cho rau. Tính chất lý, hóa đất trồng rau tốt hơn đất trồng ngô. Đất trồng rau khu vực nghiên cứu có pH ở mức chua đến trung tính (4,32 đến 7,12). Hàm lượng chất dinh dưỡng tổng số ở mức nghèo đến trung bình (chất hữu cơ ở mức 0,50% - 1,26%, lân tổng số 0,03 - 0,38%, kali tổng số 0,49-1,94%); hàm lượng dinh dưỡng dễ tiêu ở mức giàu (lân dễ tiêu trung bình 13,5 mg/100 g đất và kali dễ tiêu trung bình 39,15 mg/100 g đất). Đất trồng ngô có hàm lượng dinh dưỡng tổng số ở mức nghèo đến trung bình, chất hữu cơ cao nhất chỉ đạt 0,67%, lân 0,29%, kali 1,97%. Hàm lượng dinh dưỡng dễ tiêu ở mức giàu, trong đó lân dễ tiêu cao nhất 17,65 mg/100 g, kali dễ tiêu 69,46 mg/100 g. Ô nhiễm kim loại nặng ở đất trồng rau và ngô ở dạng cục bộ. Cần lưu ý một số mẫu đất có hàm lượng đồng, asen khá cao nên cần có các giải pháp canh tác hay xử lý phù hợp.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA VI KHUẨN QUANG DƯỠNG KHÔNG LƯU HUỲNH MÀU TÍA CỐ ĐỊNH ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ ĐỘ PHÌ NHIÊU ĐẤT TRỒNG HÀNH TÍM (Allium ascalonicum L.)
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng của vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía (PNSB) cố định đạm Rhodopseudomonas palustris và mức giảm phân bón đạm thích hợp đến sinh trưởng, năng suất và độ phì nhiêu đất trồng hành tím. Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên hai nhân tố, trong đó, nhân tố 1 là các mức bón phân đạm (0, 50, 75 và 100% theo khuyến cáo), nhân tố 2 là vi khuẩn PNSB có khả năng cố định đạm (không bổ sung vi khuẩn, dòng vi khuẩn R. palustris VNW64, hỗn hợp bốn dòng vi khuẩn R. palustris TLS06, VNW02, VNW64 và VNS89), với 3 lần lặp lại. Kết quả cho thấy chiều cao cây, số tép trên chậu, đường kính tép và chiều cao tép ở nghiệm thức bón 100% N theo khuyến cáo cao hơn nghiệm thức không bón đạm. Bổ sung hỗn hợp bốn dòng vi khuẩn R. palustris đã làm tăng chiều cao cây, số lá trên cây, số tép trên chậu, đường kính tép, chiều cao tép, hàm lượng đạm hữu dụng và năng suất củ hành tím so với không bổ sung vi khuẩn. Kết hợp mức bón 100, 75 hoặc 50% N theo khuyến cáo và bổ sung dòng R. palustris VNW64 hoặc bốn dòng R. palustris TLS06, VNW02, VNW64 và VNS89 đạt năng suất cao hơn so với bón 100% theo khuyến cáo không bổ sung vi khuẩn, 13,2-14,2 hoặc 16,5-19,4 so với 11,2 g/chậu. Bổ sung các dòng vi khuẩn PNSB R. palustris TLS06, VNW02, VNW64 và VNS89 giảm 25-50% phân đạm vô cơ, nhưng vẫn đảm bảo năng suất củ hành tím.
-
NGHIÊN CỨU TỐI ƯU HÓA TRÍCH LY POLYPHENOL TỔNG, FLAVONOID TỔNG TỪ HOA ĐẬU BIẾC (Clitoria ternatea) BẰNG MA TRẬN PLACKETT-BRURMAN VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁP ỨNG BỀ MẶT BOX-BEHNKEN
Abstract : 0 PDF: 0Mục tiêu của nghiên cứu là tìm ra giá trị tối ưu của các yếu tố tác động trực tiếp đến hàm lượng polyphenol tổng và flavonoid tổng được trích ly từ hoa Đậu biếc (Clitoria ternatea). Trên cơ sở thử nghiệm đa yếu tố, nghiên cứu đã xác định 6 yếu tố thí nghiệm được sàng lọc bằng ma trận Plackett-Brurman là tần số siêu âm (kHz), nhiệt độ (oC), giá trị pH, thời gian trích ly (phút), nồng độ ethanol (%) và tỷ lệ dung môi/nguyên liệu (v/w). Kết quả thí nghiệm cho thấy 3 yếu tố tác động mạnh nhất đến hàm lượng polyphenol tổng là tần số siêu âm, pH và thời gian trích ly. Đối với flavonoid tổng, 3 yếu tố động mạnh nhất là pH, nồng độ ethanol và tỷ lệ dung môi/nguyên liệu. Thí nghiệm được thực hiện với 3 yếu tố theo phương pháp đáp ứng bề mặt Box-Behnken để xác định các giá trị tối ưu. Kết quả, hàm lượng polyphenol tổng được trích ly tối ưu ở tần số siêu âm mixed-frequencies (328 kHz), pH 6,67 và thời gian là 163 phút. Đối với flavonoid tổng tối ưu ở các giá trị là pH 7,0, nồng độ ethanol 68% và tỷ lệ dung môi/nguyên liệu là 1,5. Kiểm định thực tế mô hình tối ưu hóa trích ly hàm lượng polphenol tổng và flavonoid tổng có kết quả lần lượt là 64,42 ± 0,38 mg/g và 56,06 ± 0,48 mg/g đều tương đương với dự đoán của mô hình.
-
TỐI ƯU HÓA QUÁ TRÌNH THU NHẬN CHẤT MÀU BETACYANIN TỪ THỊT QUẢ THANH LONG BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRÍCH LY CÓ HỖ TRỢ SIÊU ÂM
Abstract : 0 PDF: 0Thanh long ruột đỏ (Hylocereus polyrhizus) là loại trái cây chứa nhiều betacyanin – một loại chất màu tự nhiên có màu sắc từ đỏ đến tím. Mục tiêu của nghiên cứu này là ứng dụng phương pháp bề mặt đáp ứng nhằm tối ưu hóa quá trình trích ly chất màu betacyanin có hỗ trợ siêu âm từ trái thanh long ruột đỏ với 2 thông số là thời gian và công suất siêu âm. Mối quan hệ giữa điều kiện trích ly và hàm lượng betacyanin thu nhận được tương thích ý nghĩa với một mô hình hồi quy bậc 2 có hệ số xác định R2 bằng 0,99. Hàm lượng betacyanin thu nhận ước lượng cao nhất bằng 15,59 mg/100 g ở điều kiện tối ưu là thời gian 10,2 phút và công suất 262,5 W (35% của 750 W). Không có sự khác biệt ý nghĩa giữa điều kiện tối ưu dự đoán và điều kiện tối ưu được xác minh bằng thực nghiệm (p > 0,05).
-
MỘT SỐ ĐẶC TÍNH CỦA TYROSINASE TỪ VỎ BAO NẤM RƠM VIỆT NAM
Abstract : 0 PDF: 0Tyrosinase có vai trò quan trọng trong sự biến màu của các sản phẩm nấm, nhưng các đặc tính của enzym này trên các mô ở bề mặt, nơi quyết định tính chất cảm quan của nấm rơm (Volvariella volvacea) sau thu hoạch vẫn chưa được biết đến. Trong nghiên cứu này, tyrosinase từ vỏ bao của giống nấm rơm được trồng khá phổ biến tại Việt Nam, thường gọi là giống Thần Nông, ở giai đoạn hình trứng đã được tinh chế bằng quy trình kết hợp kết tủa ammonium sulfat 60-80% độ bão hòa, sắc ký kỵ nước Butyl Sepharose 4 Fast Flow và sắc ký lọc gel Sephadex G -50, với độ sạch tăng gấp 16,4 lần so với ban đầu. Từ kết quả phân tích zymogram và SDS-PAGE, enzym này có thể là oligomer có khối lượng phân tử khoảng 110 kDa, với các dưới đơn vị có khối lượng xấp xỉ 22 kDa. Tyrosinase từ vỏ bao nấm rơm hoạt động tối ưu ở nhiệt độ 45°C và pH 6,8, bền trong khoảng pH hẹp từ 6,8 đến 8,0 và ở nhiệt độ dưới 30°C. Km và Vmax của enzym với cơ chất L-DOPA lần lượt là 0,82 mM và 0,056 μM/s. Ở cùng nồng độ 1 mM, các ion sắt (II), đồng (II) hoạt hóa mạnh, natri benzoat và kali sorbat hoạt hóa nhẹ tyrosinase. Trái lại, EDTA, nisin và đặc biệt là canxi ức chế mạnh enzym ở nồng độ 1 mM.
-
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ẢNH HƯỞNG TỚI NGUỒN LỢI HẢI SẢN Ở VÙNG BIỂN VEN BỜ VÀ VÙNG LỘNG CỦA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Abstract : 0 PDF: 0Kết quả nghiên cứu năm 2020 - 2021 ở vùng biển ven bờ và vùng lộng của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về hiện trạng hoạt động khai thác cho thấy, áp lực khai thác ảnh hưởng tới nguồn lợi hải sản nhìn chung đang ở mức cao. Các loài đang bị áp lực khai thác ở mức rất cao là cá bạc má, cá mối thường, cá phèn khoai; các loài bị áp lực khai thác ở mức cao là cá nục sồ, cá lượng, cá trác ngắn và mực ống ấn độ. Kết quả điều tra cũng đã xác định được kích thước tối thiểu cho phép khai thác đối với 19 loài, trong đó có 5 loài cá nổi nhỏ, 6 loài cá đáy, 3 loài cá rạn, 2 loài mực và 3 loài giáp xác. Tỉ lệ cá con trong sản lượng khai thác cao nhất là nghề te xiệp - chiếm 100%, tiếp theo là nghề pha xúc - 74%, các nghề lưới kéo đáy, lưới vây, lưới rê, nghề chụp, vó mành, lú và rập bẫy chiếm từ 49 - 67%, thấp nhất là nghề câu đạt 27% tổng sản lượng khai thác. Hiện trạng khai thác tại các bãi đẻ, bãi ương nuôi tự nhiên trong thời gian sinh sản vẫn diễn ra trên vùng biển tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
-
THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP SẢN XUẤT VÀ LIÊN KẾT TRONG TIÊU THỤ MƯỚP ĐẮNG CỦA NÔNG HỘ TẠI HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu thực hiện nhằm đánh giá thực trạng sản xuất và liên kết trong tiêu thụ mướp đắng của nông hộ tại huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Ba phương pháp chính được sử dụng để thu thập thông tin bao gồm: Phỏng vấn người am hiểu (n=12) và các tác nhân (n=8); thảo luận nhóm (n=2 nhóm); phỏng vấn nông hộ (n=60). Kết quả nghiên cứu cho thấy, mướp đắng là loại cây đang được trồng phổ biến ở huyện Gio Linh, đem lại nguồn thu nhập khá tốt cho nông hộ. Mạng lưới tiêu thụ mướp đắng ở địa phương còn đơn giản, chưa có kênh tiêu thụ với giá cả ổn định. Các kênh tiêu thụ thường do nông hộ chủ động liên kết, chủ yếu qua kênh thương lái. Sản phẩm được bán trực tiếp chưa có ký kết bán thông qua hợp đồng với hợp tác xã (HTX), doanh nghiệp. Sản xuất và tiêu thụ mướp đắng còn phụ thuộc lớn vào nhiều yếu tố như rủi ro thời tiết khí hậu, nhu cầu thị trường, giá cả, kinh nghiệm và năng lực áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật. Vì vậy, trong những năm tới, chính quyền địa phương cần có các chính sách khuyến khích hỗ trợ, đầu tư phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cho nông hộ từ sản xuất mướp đắng.








