Số 5 (2022)
Bài viết
-
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN MẶN TỚI SỐ LƯỢNG, CHIỀU DÀI, CHIỀU RỘNG VÀ SỰ ĐÓNG MỞ KHÍ KHỔNG Ở MỘT SỐ GIỐNG LÚA
Abstract : 1 PDF: 0Để làm sáng tỏ phản ứng của khí khổng dưới điều kiện stress mặn phục vụ cho công tác chọn giống thích ứng với biến đổi khí hậu. Kết quả nghiên cứu ghi nhận được dưới ảnh hưởng của điều kiện mặn, khí khổng các giống lúa kháng và nhiễm biểu hiện phản ứng khác nhau. Về số lượng khí khổng (SLKK) dưới điều kiện mặn 6‰, các giống nhiễm có xu hướng giảm > 50% SLKK. Một số giống kháng như: Pokkali, Đốc Phụng, OM7, OM44 có SLKK gần như không đổi, các giống kháng còn lại có SLKK giảm với tỷ lệ rất thấp. Môi trường mặn làm thay đổi kích thước khí khổng (KTKK) (như tăng hoặc giảm về chiều dài và chiều rộng). SLKK tương quan nghịch với chiều dài khí khổng (CDKK) (SLKK giảm thì CDKK tăng). Về phản ứng đóng/mở của khí khổng dưới ảnh hưởng của mặn 6‰, ở các giống kháng được ghi nhận khí khổng duy trì trạng thái mở, giống nhiễm khí khổng vẫn đóng. Kết quả trên cho thấy, stress mặn làm ảnh hưởng đến cơ sở sinh lý của tế bào khí khổng và phản ứng đối nghịch của các giống kháng và nhiễm.
-
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG DI THỰC CỦA MẪU GIỐNG ĐAN SÂM HOA TRẮNG (Salvia miltiorrhiza Bungei) NHẬP NỘI TẠI LỘC BÌNH, LẠNG SƠN
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu đánh giá khả năng di thực của mẫu giống Đan sâm hoa trắng (Salvia miltiorrhiza Bungei) nhập nội tại Lộc Bình, Lạng Sơn nhằm mục tiêu đánh giá được khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng dược liệu của mẫu Đan sâm hoa trắng. Thí nghiệm được bố trí tuần tự không nhắc lại với tổng diện tích thí nghiệm là 120 m2. Kết quả đánh giá cho thấy, khối lượng trung bình củ khô/cây là 42,42 g/cây, chiều dài củ đạt 22,01 cm, đường kính củ đạt 0,39 cm. Năng suất củ trung bình đạt 4.818,09 kg/ha. Với điều kiện phân tích áp dụng thu được hình ảnh sắc ký đồ HPLC với các pic của tanshinon IIA (tR = 24,08 phút) sắc nhọn, cân đối, rõ ràng trên nền mẫu dược liệu Đan sâm hoa trắng. Số đĩa lý thuyết của cột lớn hơn 2.000, đạt yêu cầu theo qui định trong dược điển Việt Nam V. Kết quả xây dựng đường chuẩn tanshinon IIA Y = (61.285)X + 4.768,6, R2= 0,9995, hàm lượng tanshinon IIA đạt 0,22%. Cao hơn so với dược điển Việt Nam V năm 2017, dược điển Trung Quốc và dược điển Hồng Kong không ít hơn 0,12% - 0,20%. Như vậy có thể thấy, có thể phát triển trồng dược liệu Đan sâm hoa trắng tại Lộc Bình, Lạng Sơn.
-
KẾT QUẢ TUYỂN CHỌN GIỐNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG, CÔNG THỨC PHÂN BÓN ĐẾN GIỐNG ĐẬU TƯƠNG ĐT32 TRỒNG XEN TRONG VƯỜN BƯỞI DIỄN GIAI ĐOẠN KIẾN THIẾT CƠ BẢN TẠI VIỆT YÊN, BẮC GIANG
Abstract : 1 PDF: 1Với mục tiêu tuyển chọn được giống đậu tương trồng xen trong vườn bưởi Diễn giai đoạn kiến thiết cơ bản trong vụ đông năm 2017, vụ xuân năm 2018 và xác định được ảnh hưởng của mật độ trồng và công thức phân bón đến giống đậu tương ĐT32 trồng xen trong vụ đông năm 2019 cho thấy: (1) Xác định được 2 giống đậu tương triển vọng là ĐT32 và ĐT51 có thời gian sinh trưởng 85 ngày trong vụ đông năm 2017, 87 ngày - 88 ngày trong vụ xuân năm 2018; có chỉ số diện tích lá, khối lượng chất khô, số lượng nốt sần hữu hiệu, số quả chắc/cây, số quả 3 hạt/cây đạt cao nhất; năng suất hạt thực thu đạt cao nhất 2,03 tấn/ha - 2,04 tấn/ha, cao hơn giống đối chứng ĐT84 (đối chứng) từ 0,60 tấn/ha - 0,61 tấn/ha. (2) Mật độ và công thức phân bón có ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng, số cành cấp 1, chỉ số diện tích lá, khối lượng chất khô, số lượng nốt sần hữu hiệu, số quả chắc/cây của giống đậu tương ĐT32 trong vụ đông năm 2019; năng suất hạt thực thu đạt cao nhất 3,54 tấn/ha - 3,87 tấn/ha/vụ ở công thức M3P2 và M3P3, năng suất hạt thực thu đạt thấp nhất 1,51 tấn/ha - 1,70 tấn/ha/vụ ở các công thức M1P1, M1P2 và M1P3. Cho lãi thuần đạt cao nhất 50,11 triệu đồng/ha/vụ ở công thức M3P3 có tỷ suất lợi nhuận bằng 4,29.
-
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG PHỤ PHẨM TRONG QUÁ TRÌNH TÁCH SỢI BẸ CHUỐI, LÁ DỨA LÀM PHÂN HỮU CƠ
Abstract : 0 PDF: 1Với mục đích hoàn thiện quy trình khai thác sợi bẹ chuối và lá dứa để sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, trong nghiên cứu này các phế phụ phẩm sau khi tách sợi bẹ chuối và lá dứa giàu các bon hữu cơ (OC đạt 45,33% phụ phẩm sợi chuối và 42,27% phụ phẩm lá dứa, hàm lượng nitơ lần lượt đạt 1,08% và 1,17%, P2O5 đạt 0,25% và 0,13%, K2O đạt 2,03% và 7,28%) đã được phối trộn với chế phẩm Trichoderma (chứa Trichoderma, Bacillus subtilis, Streptomyces, Azotobacter) và phân chuồng. Sau ủ hiếu khí 40 ngày và đảo trộn, phân hữu cơ được đánh giá các chỉ tiêu đạt chuẩn theo quy định tại TCVN 7185: 2002. Rau cải được trồng ở các nghiệm thức có bổ sung phân hữu cơ thành phẩm cho thấy, hạt cải đều nảy mầm sau 3 ngày, tỉ lệ nảy mầm đạt 96% - 97%. Rau mầm lên đều, mật độ dày và rau xanh, mập hơn so với rau được trồng ở nghiệm thức đối chứng có bổ sung phân bón trên thị trường.
-
ĐÁNH GIÁ CÁC TRƯỜNG HỢP GÃY XƯƠNG VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ TRÊN CHÓ TẠI TỈNH ĐỒNG NAI
Abstract : 3 PDF: 1Khảo sát 536 cá thể chó nghi bị gãy xương được thực hiện từ tháng 01/2021 đến tháng 7/2021 tại phòng khám thú y ở Đồng Nai bằng phương pháp khám lâm sàng và chụp X - quang. Kết quả cho thấy, 11,01% số chó nuôi bị gãy xương. Tỷ lệ gãy xương trên chó không phụ thuộc vào giới tính đực hay cái. Tỷ lệ gãy xương ở chó nội cao hơn chó ngoại (67,80% và 32,20%), tỷ lệ chó gãy xương ở lứa tuổi < 12 tháng cao nhất (66,10%), tiếp đến là chó ở lứa tuổi 12 tháng đến 36 tháng (25,42%) và thấp nhất là chó ở lứa tuổi trên 36 tháng (8,48%). Tỷ lệ chó bị gãy xương ở chi sau cao hơn chi trước (74,58%; 20,34%) và tỷ lệ chó bị gãy xương ở phần thân xương (74,58%) cao hơn phần đầu và cổ xương (25,42%). Tỷ lệ chó bị gãy xương kín (94,92%) cao hơn gãy xương hở (5,08%). Tỷ lệ chó bị gãy ngang xương nhiều nhất (54,24%), kế đến là gãy chéo (32,20%) và thấp nhất là gãy vụn hay gãy nhiều đoạn (13,56%). Hiệu quả điều trị khỏi của các phương pháp điều trị gãy xương là 76,27%, thời gian thực hiện phẫu thuật phương pháp bó bột là nhanh nhất (9 phút), phương pháp tấm nẹp có thời gian lành da và đi lại được ngắn nhất.
-
NGHIÊN CỨU TRÍCH LY ANTHOCYANIN TRONG CÁM GẠO CẨM TRỒNG TẠI CAI LẬY (TIỀN GIANG) BẰNG PHƯƠNG PHÁP HỖ TRỢ SÓNG SIÊU ÂM
Abstract : 1 PDF: 0Anthocyanin được trích ly bằng phương pháp có hỗ trợ của siêu âm (UAE) từ nguồn nguyên liệu cám gạo tẻ cẩm Cai Lậy. Đây là một kỹ thuật hiệu quả để trích xuất các hợp chất có hoạt tính sinh học nhạy cảm với nhiệt. Kết quả thực nghiệm của quá trình trích ly cho thấy pH thích hợp sử dụng là 2,0; nồng độ dung môi ethanol tốt nhất là 45%, nhiệt độ siêu âm 35°C, thời gian siêu âm 60 phút. Dịch chiết thu nhận ở các điều kiện trích ly trên có hàm lượng anthocyanin đạt cao nhất là 44 mg/100 g.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CHẤT HỖ TRỢ LÀM SẠCH TRONG QUÁ TRÌNH TÁCH TINH BỘT ĐẾN SỰ THAY ĐỔI CẤU TRÚC VÀ KHẢ NĂNG KHÁNG TIÊU HÓA CỦA TINH BỘT ĐẬU XANH
Abstract : 1 PDF: 1Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định sự thay đổi về hàm lượng amyloza, cấu trúc phân tử và khả năng kháng tiêu hóa của tinh bột đậu xanh có sử dụng các chất hỗ trợ làm sạch trong quá trình tách tinh bột bằng phương pháp nghiền ướt. Ba loại dung dịch gồm Na2SO3 0,2%; NaOH 0,1% và NaHSO3 0,15% được bổ sung vào công đoạn ngâm huyền phù tinh bột trước khi lắng, rửa và sấy khô tinh bột. Mẫu tinh bột tách bằng nước không dùng chất hỗ trợ cũng được thực hiện làm mẫu đối chứng. Kết quả cho thấy, dung dịch ngâm bằng NaOH 0,1% có ảnh hưởng lớn đến hàm lượng amyloza, tỷ lệ phân bố chuỗi trong amylopectin, mô hình nhiễu xạ tia X, cấu trúc phân tử tầm ngắn phân tích bằng FT - IR và hàm lượng tinh bột kháng tiêu hóa. Mẫu tinh bột sử dụng chất hỗ trợ Na2SO3 0,2% có kết quả khác biệt so với mẫu đối chứng ở tất cả các chỉ tiêu xác định ngoại trừ hàm lượng tinh bột kháng. Không có sự khác biệt về các chỉ tiêu phân tích được tìm thấy trong mẫu dùng dung dịch NaHSO3 0,15% so với mẫu đối chứng. Các mẫu khảo sát đều thể hiện cấu trúc kết tinh dạng A. Như vậy, việc dùng dung dịch ngâm NaOH 0,1% và Na2SO3 0,2% trong quá trình tách và làm sạch tinh bột đậu xanh có ảnh hưởng đáng kể đến cấu trúc phân tử của tinh bột đậu xanh, trong khi đó cấu trúc này không bị ảnh hưởng khi tách bằng dung dịch NaHSO3 0,15%.
-
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ TỐI ƯU MÁY Ủ PHÂN GÀ DẠNG BỒN ĐỨNG UP - 20
Abstract : 1 PDF: 0Mục tiêu của nghiên cứu là xác định các thông số tối ưu cho mô hình máy ủ phân gà dạng bồn đứng năng suất 2 m3/ngày. Máy hoạt động theo nguyên lý lên men tự nhiên dạng thẳng đứng, bằng cách sử dụng hệ vi sinh có sẵn trong phân gà. Máy ủ chỉ sử dụng phân gà tươi làm nguyên liệu đầu vào và không cần sử dụng thêm các phế phụ phẩm khác. Máy ủ đặc biệt sử dụng nhiệt của quá trình lên men chất hữu cơ mà không cần điện trở gia nhiệt. Trên cơ sở mô hình máy đã được thiết kế và chế tạo, tiến hành xác định các thông số độc lập ảnh hưởng đến các chỉ tiêu chất lượng và kinh tế kỹ thuật của máy. Các thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn bằng phương pháp quy hoạch thực nghiệm đa yếu tố. Kết quả thực nghiệm đa yếu tố gồm lưu lượng không khí V và tốc độ quay của trục khuấy n. Kết quả tối ưu xác định được lưu lượng không khí V = 7,76 m3/phút, tốc độ quay trục khuấy n = 0,032 vòng/phút, tương ứng với độ ẩm tối ưu là Wmin= 29,3% và chi phí điện năng riêng Armin = 5,97 kWh/m3 ở năng suất Q = 2 m3/ngày.
-
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NƯỚC SINH HOẠT TẠI HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng sử dụng và chất lượng nước sinh hoạt tại huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội theo tiêu chuẩn xây dựng nông thôn mới. Các phương pháp tổng quan tài liệu, điều tra xã hội học, lấy mẫu, phân tích mẫu được sử dụng để đánh giá các nguồn nước cấp cũng như chất lượng nước sinh hoạt. Mối quan hệ của các chỉ tiêu chất lượng nước được đánh giá bằng kỹ thuật phân tích thống kê tương quan Pearson. Kết quả điều tra phỏng vấn cho thấy, 92/100 hộ sử dụng giếng khoan, còn lại là nguồn nước mưa và giếng đào để phục vụ mục đích sinh hoạt. Số liệu từ cơ quan quản lý cho thấy, tỷ lệ sử dụng nước sạch từ các trạm cấp nước của toàn huyện Mỹ Đức ở mức thấp đạt 7,1%. Có 6/20 mẫu nước sinh hoạt không đáp ứng đủ điều kiện về chất lượng theo QCVN 02: 2009/BYT. Nước bị ô nhiễm bởi các thông số: mùi vị, sắt tổng số, amoni, chỉ số pecmanganat. Kết quả đánh giá tương quan cho thấy, thông số amoni tương quan chặt chẽ với sắt tổng số (r = 0,98) và Coliform (r = 0,89). Nghiên cứu cũng đã đề xuất 4 nhóm giải pháp nâng cao chất lượng nước sinh hoạt tại huyện Mỹ Đức.
-
BỔ SUNG LOÀI CÂY THUỐC BẠI TƯỢNG NHỊ ĐƠN (Patrinia monandra C. B. Clarke) CHO KHU HỆ THỰC VẬT VIỆT NAM
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu này đã ghi nhận bổ sung loài Bại tượng nhị đơn (Patrinia monandra C. B. Clarke) cho khu hệ thực vật Việt Nam và Danh lục cây thuốc Việt Nam. Qua đó mở rộng vùng phân bố trên thế giới của loài về phía Nam tới cao nguyên Sìn Hồ (Lai Châu, Việt Nam). Đặc điểm hình thái của loài Bại tượng nhị đơn đã được mô tả kèm dữ liệu hình ảnh chi tiết. Bại tượng nhị đơn phân biệt với các loài khác cùng chi đã được ghi nhận tại Việt Nam ở các đặc điểm đặc trưng như: Lá bắc lớn hình dải đến hình mác, chóp nhọn đến có mũi; lá bắc con phát triển thành cánh mỏng ở quả, cuống hoa có lông mềm phủ dày; hoa màu vàng đến vàng nhạt ít khi trắng, có từ 1 nhị đến 4 nhị. Khóa định loại các loài thuộc chi Bại tượng (Patrinia Juss.) ở Việt Nam đã được xây dựng giúp phân biệt các loài trong chi.
-
THÀNH PHẦN LOÀI, PHÂN BỐ, SỐ LƯỢNG CÁ THỂ VÀ NHỮNG MỐI ĐE DỌA CHỦ YẾU ĐẾN CÁC LOÀI CHIM NƯỚC CƯ TRÚ TRONG KHUÔN VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG - LÂM BẮC GIANG
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12/2017 đến tháng 12/2020 nhằm xác định thành phần loài, phân bố và số lượng cá thể của các loài chim nước chủ yếu cư trú trong khuôn viên Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận sự có mặt của 15 loài chim nước thuộc 6 họ, 4 bộ. Các loài chim nước phân bố tại nhiều khu vực khác nhau trong khuôn viên Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang trên diện tích khoảng 4,7 ha, trong đó khoảng 1,7 ha là khu vực cư trú tập trung bao gồm hai đảo, dọc ven hồ đầu nhà A1 (Nhà hiệu bộ) và khu nhà B1 (Nhà thư viện). Nghiên cứu này cũng xác định số lượng cá thể của 4 loài chim nước chính là: Cò trắng, Cò bợ, Vạc, Diệc xám; đồng thời đã chỉ ra những mối đe dọa chủ yếu đến các loài chim tại đây.
-
THỰC TRẠNG CÁC LOẠI HÌNH THOÁI HÓA ĐẤT TẠI TỈNH CÀ MAU
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu cho thấy, trên địa bàn tỉnh Cà Mau có 4 loại hình thoái hóa đất chính, đó là: đất bị suy giảm độ phì, khô hạn, mặn hóa và phèn hóa. Kết quả đánh giá thực trạng thoái hóa đất trên tổng diện tích điều tra là 429.123 ha (bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác) có 317.281 ha đất bị thoái hóa (chiếm 73,94% diện tích điều tra); trong đó thoái hóa mức nặng là 186.168 ha, thoái hóa mức trung bình là 34.333 ha và thoái hóa mức nhẹ là 96.780 ha. Nguyên nhân chính gây nên hiện tượng thoái hóa đất trên địa bàn tỉnh Cà Mau bao gồm: nguyên nhân tự nhiên (do ảnh hưởng của điều kiện thủy văn, địa hình, khí hậu và biến đổi khí hậu) và nguyên nhân do con người (do công tác quản lý, sử dụng đất; quy hoạch, phát triển và vận hành hệ thống thủy lợi; áp lực sử dụng đất do tăng trưởng kinh tế và gia tăng dân số). Kết quả quá trình nghiên cứu là căn cứ quan trọng để đề xuất các giải pháp bảo vệ, cải tạo, giảm thiểu thoái hóa đất và xây dựng định hướng quản lý, sử dụng đất bền vững trên phạm vi toàn tỉnh Cà Mau.
-
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH SẢN XUẤT LÚA ĐS1 CỦA NÔNG HỘ TẠI HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sản xuất lúa ĐS1, giống lúa có khả năng thích nghi, phát triển tốt và đạt được năng suất cao cho nông hộ sản xuất lúa tại huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang; từ đó đưa ra giải pháp mở rộng sản xuất lúa cho địa phương. Nghiên cứu đã sử dụng một số phương pháp phân tích như: Thống kê mô tả, so sánh, phân tích kinh tế và phương pháp hồi quy logit. Kết quả khảo sát và phân tích số liệu từ 150 nông hộ, bao gồm 75 nông hộ trồng lúa thường và 75 nông hộ trồng lúa ĐS1 cho thấy, mô hình trồng giống lúa ĐS1 đã góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập và cải thiện đời sống của nông hộ trên một đơn vị diện tích đất. Lợi nhuận của nông hộ sản xuất lúa ĐS1 tăng 5.204.000 đồng/ha/vụ so với lúa thường, giá thành sản xuất giảm 189 đồng/kg lúa. Kinh nghiệm sản xuất lúa, trình độ học vấn và hiểu biết của nông hộ về quy hoạch sản xuất lúa, tập huấn khuyến nông, kỳ vọng giá lúa ĐS1, kỳ vọng năng suất lúa ĐS1 và tiêu thụ sản phẩm là các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định sản xuất lúa ĐS1 của nông hộ. Do đó cần có các giải pháp về quy hoạch vùng sản xuất lúa sử dụng giống lúa ĐS1, tập huấn khuyến nông, nâng cao năng suất lúa ĐS1 và tiêu thụ sản phẩm.
-
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA VIỆC TRỒNG CAM SÀNH CỦA NÔNG HỘ TẠI TỈNH HẬU GIANG
Abstract : 1 PDF: 0Mục tiêu của nghiên cứu này là phân tích hiệu quả tài chính của việc trồng cam sành của nông hộ ở tỉnh Hậu Giang. Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp 209 nông hộ trồng cam sành theo phương pháp chọn mẫu hạn ngạch. Phương pháp phân tích chi phí - doanh thu (cost – return analysis) được sử dụng để phân tích hiệu quả tài chính của việc trồng cam sành của nông hộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình sản xuất cam sành ở tỉnh Hậu Giang đạt hiệu quả về tài chính. Lợi nhuận bình quân của nông hộ trồng cam sành là 30.055,53 nghìn đồng/1.000 m2. Tỷ suất doanh thu/chi phí là 3,57 lần, tỷ suất lợi nhuận/doanh thu là 0,72 lần và tỷ suất lợi nhuận/chi phí là 2,57 lần. Thời gian hòa vốn của nông hộ trồng cam sành ở tỉnh Hậu Giang là 2,63 năm.
-
HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP ỨNG PHÓ VỚI DỊCH BỆNH COVID - 19 VÀ GIẢI PHÁP HỖ TRỢ
Abstract : 1 PDF: 1Dịch bệnh Covid - 19 ảnh hưởng tiêu cực lên sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của dịch bệnh Covid - 19 lên hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu dựa trên mẫu điều tra 272 HTXNN thuộc 56 tỉnh, thành đại diện cho các vùng, các lĩnh vực sản xuất nông, lâm, thủy sản của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các HTXNN bị dịch bệnh Covid - 19 gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều khía cạnh sản xuất kinh doanh như làm tăng giá vật tư, dịch vụ đầu vào trong khi làm giảm giá bán sản phẩm, giảm khối lượng sản phẩm tiêu thụ. HTXNN cũng gặp khó khăn trong việc triển khai kế hoạch sản xuất kinh doanh và phải giảm quy mô sản xuất, giảm số lượng lao động sử dụng, dẫn đến các HTXNN bị giảm doanh thu và giảm trung bình lợi nhuận năm 2021 khoảng 32,4% so với năm 2020. Các HTXNN đã áp dụng rất nhiều biện pháp để ứng phó với dịch bệnh Covid - 19 trong đó phần lớn là tập trung vào các giải pháp để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm. Nhiều HTXNN cũng nhận được hỗ trợ từ các cơ quan nhà nước trong việc kết nối, tiêu thụ sản phẩm. Một số giải pháp được đề xuất để hỗ trợ HTXNN phát triển trong bối cảnh bình thường mới.








