Số 19 (2021)

					Xem Số 19 (2021)
Đã Xuất bản: 15-10-2021

Bài viết

  • SỰ ĐA DẠNG CỦA VI KHUẨN TRONG TỰ NHIÊN VÀ SỬ DỤNG CHO CANH TÁC MÔI TRƯỜNG LỢI KHUẨN

    Abstract : 8 PDF: 7
    Saburo Matsui ; Phan Đình Cương (Biên dịch viên)
    3-9

    Bài viết mô tả sự đa dạng và phong phú của vi khuẩn trong các điều kiện khác nhau trong tự nhiên, như vi sinh vật đường ruột ở người, lợi khuẩn cho người, vi khuẩn trong nước thải, lên men methane, bùn hoạt tính và vi khuẩn trong quá trình ủ phân hữu cơ ở nhiệt độ cao. Các vi khuẩn có lợi trong tự nhiên có thể được sử dụng phục vụ cho hướng phát triển nông nghiệp bền vững, bao gồm: sản xuất phân bón hữu cơ chất lượng cao bằng phương pháp ủ ở nhiệt độ cao với nguyên liệu như phân súc vật, phụ phẩm chế biến thực phẩm, rác thải, tàn dư  thực vật sau thu hoạch và bùn thải sinh hoạt. Phương pháp này tạo ra sản phẩm phân bón hữu có chứa các vi khuẩn có lợi là một biện pháp hiệu quả trong phương thức canh tác môi trường lợi khuẩn để phục vụ phát triển nông nghiệp hữu cơ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/nkt2h979
  • CHẤT THẢI NÔNG NGHIỆP VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG KINH TẾ TUẦN HOÀN

    Abstract : 10 PDF: 6
    Mai Văn Trịnh
    10-15

    Mục tiêu của nghiên cứu là tính toán tiềm năng cung cấp dinh dưỡng cây trồng từ chất thải chăn nuôi và phụ phẩm trồng trọt. Từ hiện trạng sản xuất nông nghiệp trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi đã tính được lượng chất thải với hàm lượng các chất dinh dưỡng N, P, K trong đó cần thiết cho cây trồng. Kết quả nghiên cứu cho thấy hằng năm từ phụ phẩm trồng trọt có thể sản xuất được lượng phân bón tương đương với 43,4 triệu tấn hữu cơ, 1,86 triệu tấn đạm urê, 1,68 triệu tấn supe lân đơn và 2,23 triệu tấn kali sunfat. Từ chất thải chăn nuôi có thể sản xuất lượng phân bón tương đương với 42 triệu tấn hữu cơ nguyên chất, 1,2 triệu tấn đạm urê, 3,1 triệu tấn supe lân đơn và 2,4 triệu tấn kali sunfat. Chất thải từ cả 2 lĩnh vực có thể cung cấp cho sản xuất lượng phân bón tương đương với 85,4 triệu tấn hữu cơ, 3,06 triệu tấn đạm urê, 4,78 triệu tấn supe lân đơn và 4,63 triệu tấn kali sunfat. Tuy nhiên hiện trạng sử dụng các loại chất thải này ở mức rất thấp, vừa không tận dụng được nguồn tài nguyên, vừa phát thải ra và gây ô nhiễm môi trường. Việc tăng cường tuần hoàn tái sử dụng lại các loại chất thải này cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa 2 lĩnh vực, kết hợp với chính sách của Nhà nước làm thông thoáng và tăng thu nhập từ chất thải và phụ phẩm trong các trang trại thì mới khắc phục, hạn chế được tình trạng ô nhiễm, đáp ứng nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp theo hướng kinh tế tuần hoàn và tiến đến một nền nông nghiệp bền vững.

    DOI: https://doi.org/10.71254/9sd4g548
  • XÁC ĐỊNH DẤU VẾT CÁC BON CHO ĐƠN VỊ SẢN PHẨM LÚA GẠO TRONG CÁC PHƯƠNG THỨC CANH TÁC LÚA THÔNG MINH Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 8 PDF: 7
    Bùi Thị Phương Loan, Vũ Tấn Phương, Đỗ Thanh Định, Cao Hương Giang, Lục Thị Thanh Thêm
    16-25

    Canh tác lúa đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời canh tác lúa cũng là nguồn gây phát thải khí nhà kính lớn. Dấu vết các bon của sản phẩm lúa gạo cho biết lượng khí thải nhà kính được sản xuất hoặc tiêu thụ trong vòng đời của sản phẩm lúa gạo. Việc định lượng dấu vết các bon cho một đơn vị sản phẩm lúa gạo của các phương thức canh tác lúa khác nhau như: truyền thống, 1P5G, 3G3T, AWD tại đồng bằng sông Cửu Long sẽ giúp xác định các phương thức quản lý nào hiệu quả để giảm phát thải khí nhà kính trong canh tác lúa. Kết quả nghiên cứu tại các tỉnh/thành: Cần Thơ, Sóc Trăng, Kiên Giang, Long An theo các phương thức canh tác truyền thống (TT), 1P5G (1 phải 5 giảm), 3G3T (3 giảm 3 tăng), AWD (tưới khô ướt xen kẽ) cho thấy dấu vết các bon theo đơn vị sản phẩm, trong vụ đông xuân 1,24 kg CO2e/kg thóc (TT), 0,97 kg CO2e/kg thóc (1P5G); 0,89 kg CO2e/kg thóc (3G3T) và 0,91 kg CO2e/kg thóc (AWD) và vụ hè thu lần lượt là: 1,67 kg CO2e/kg thóc (TT), 1,26 kg CO2e/kg thóc (1P5G), 1,2 kg CO2e/kg thóc (3G3T) và 1,09 kg CO2e/kg thóc (AWD). Từ tính toán dấu vết các bon các sản phẩm lúa gạo có thể thấy: phát thải mê tan từ canh tác lúa chiếm tỷ trọng lớn nhất từ 34-49,7%, tiếp đến là sản xuất phân bón và đốt rơm rạ tại đồng ruộng, chính vì vậy đề xuất các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính ưu tiên trong vòng đời sản xuất lúa gạo tại đồng bằng sông Cửu Long cần tập trung mở rộng việc áp dụng các phương thức canh tác lúa 1P5G, 3G3T, AWD, quản lý phế phụ phẩm, giảm lượng đạm hợp lý, sử dụng phân tổng hợp, chậm tan và các loại giống ngắn ngày, đồng thời áp dụng các chính sách khuyến khích người nông dân thay đổi tập quán sản xuất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/czgnpx16
  • PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN VI KHUẨN NỘI SINH CỐ ĐỊNH ĐẠM VÀ TỔNG HỢP IAA TỪ RỄ CÂY CAM SÀNH TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

    Abstract : 6 PDF: 4
    Nguyễn Quốc Khương, Trần Ngọc Hữu, Lưu Thị Yến Nhi, Lê Vĩnh Thúc, Đặng Hữu Ân, Trần Chí Nhân, Lê Tiến Đạt, Lý Ngọc Thanh Xuân
    26-31

    Hiện nay, sử dụng chế phẩm vi sinh hay phân hữu cơ vi sinh là xu hướng phát triển của nền nông nghiệp bền vững vì giảm tác động bất lợi của phân hóa học gây ra. Bài báo trình bày kết quả tuyển chọn những dòng vi khuẩn nội sinh rễ cây cam sành có khả năng chịu được môi trường chua, cố định đạm và tổng hợp IAA. Mười mẫu rễ cây cam sành được thu ở các vườn trồng cam sành từ ba đến bốn năm tuổi tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Kết quả phân lập được 36 dòng vi khuẩn nội sinh rễ cây cam sành. Trong đó, ba dòng vi khuẩn CT-L-8T, CT-L-8V và CT-L-4A phát triển tốt trong điều kiện môi trường chua (pH 4,5), có khả năng cố định đạm (3,31 – 4,18 mg NH4+ L-1) và tổng hợp IAA (18,1 – 22,4 mg IAA L-1). Đây là những dòng vi khuẩn có tiềm năng cao trong sản xuất phân bón, phục vụ nông nghiệp bền vững.

    DOI: https://doi.org/10.71254/dye0v031
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT GIỮ ẨM AMS-1, CHẤT KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG KẾT HỢP VỚI PHÂN VI LƯỢNG VÀ PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SẢN XUẤT NA RẢI VỤ TẠI HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN

    Abstract : 8 PDF: 5
    Nguyễn Quốc Hùng, Lê Thị Mỹ Hà
    32-41

    Nhằm cải thiện chất lượng và nâng cao năng suất trong sản xuất na rải vụ tại huyện Chi Lăng, Lạng Sơn, nghiên cứu sử dụng chất giữ ẩm AMS-1, chất kích thích sinh trưởng kết hợp với phân vi lượng và phân bón lá đã được thực hiện tại huyện Chi Lăng trên cây na dai 7-8 năm tuổi trong 2 năm 2018-2019. Thí nghiệm sử dụng chất giữ ẩm AMS-1 được thực hiện trên đất không chủ động nước tưới với 4 công thức: 60 gam, 80 gam, 100 gam AMS-1/cây và đối chứng không sử dụng AMS-1; thí nghiệm sử dụng chất kích thích sinh trưởng kết hợp với phân vi lượng và phân bón lá được thực hiện với 4 công thức: Atonik + Bortrac, Atonik + phân bón lá Đầu Trâu, Atonik + CaBo và công thức đối chứng phun nước lã. Kết quả nghiên cứu thu được cho thấy, sử dụng mức bón chất giữ ẩm AMS-1 liều lượng 100 gam/cây 7-8 năm tuổi cho năng suất thực thu đạt 20,1-20,4 kg/cây, tương ứng 10,1-10,2 tấn/ha, cao hơn 43,7-48,5% so với năng suất của công thức đối chứng không sử dụng chất giữ ẩm AMS-1. Sử dụng Atonik + phân bón lá Đầu Trâu đã cho số quả thu hoạch, năng suất thực thu cao nhất, đạt 20,8 - 21,0 kg/cây, tương đương 10,4 - 10,5 tấn/ha, cao hơn có ý nghĩa so với công thức đối chứng; độ brix quả đạt 21,9 - 23%, cao hơn so với ở công thức đối chứng và mẫu mã quả đẹp hơn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/66182y54
  • ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠI PHÂN HỮU CƠ ĐẾN ĐẶC TÍNH ĐẤT VÀ HẤP THU DINH DƯỠNG N, P, K CỦA CÂY QUÝT ĐƯỜNG TRÊN ĐẤT PHÈN TẠI XÃ LONG TRỊ, THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

    Abstract : 15 PDF: 11
    Lý Ngọc Thanh Xuân, Trần Đan Trường, Lê Vĩnh Thúc, Trần Ngọc Hữu, Nguyễn Hồng Huế, Trần Chí Nhân, Nguyễn Quốc Khương
    42-49

    Mục tiêu nghiên cứu là xác định hiệu quả của một số loại phân hữu cơ đến đặc tính đất phèn và hấp thu dinh dưỡng N, P, K của cây quýt đường. Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên bao gồm tám nghiệm thức, với ba lần lặp lại tại xã Long Trị, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Trong đó, nghiệm thức (i) bón phân theo nông dân, (ii) bón vôi, (iii) bón phân hữu cơ, (iv) phân hữu cơ khoáng, (v) phân hữu cơ vi sinh chứa hỗn hợp các dòng vi khuẩn Burkholderia spp., (vi) nghiệm thức iii và vôi, (vii) nghiệm thức iv và vôi, (viii) nghiệm thức v và vôi. Kết quả cho thấy bón vôi kết hợp riêng lẻ với phân hữu cơ, phân hữu cơ khoáng, phân hữu cơ vi sinh giúp cải thiện hàm lượng đạm hữu dụng và lân dễ tiêu trong đất, với giá trị 18,5-24,0 mg NH4+ kg-1 so với 14,5 mg NH4+ kg-1 và 61,2-68,5 mg P kg-1 so với 21,1 mg P kg-1. Ngoài ra, bón phân hữu cơ, hữu cơ khoáng, hữu cơ vi sinh chứa hỗn hợp các dòng vi khuẩn Burkholderia spp., vôi kết hợp phân hữu cơ, vôi kết hợp phân hữu cơ khoáng hoặc vôi kết hợp hữu cơ vi sinh chứa hỗn hợp các dòng vi khuẩn Burkholderia spp. đã tăng sinh khối thịt trái khô, tổng hấp thu đạm, lân và kali so với đối chứng, với 57,2-122,4%, 57,5-152,7%, 55,2-124,1% và 47,9-177,1% so với đối chứng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/nw5p8t42
  • NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT PHÂN HỮU CƠ VI SINH DẠNG VIÊN NÉN TỪ PHÂN GÀ

    Abstract : 9 PDF: 10
    Đinh Hồng Duyên, Đỗ Tất Thuỷ, Nguyễn Tú Điệp, Nguyễn Xuân Hoà, Phan Quốc Hưng
    50-56

    Với mục đích sản xuất phân hữu cơ vi sinh (HCVS) dạng viên nén từ phân gà, mười đống ủ thí nghiệm đã được tiến hành tại xã Ngọc Quan, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Bố trí thí nghiệm ủ phân gà với 3 loại nguyên liệu hữu cơ (than bùn, trấu hun, mùn cưa) theo nguyên tắc ủ đống bán yếm khí có phủ bạt, lặp lại 3 lần, mỗi đống ủ 0,2 tấn, gồm 10 công thức: CT1 (Đối chứng) - nguyên liệu ủ chỉ có phân gà, CT2 (40% than bùn + 60% phân gà), CT3 (30% than bùn + 70% phân gà), CT4 (20% than bùn + 80% phân gà), CT5 (40% trấu hun + 60% phân gà), CT6 (30% trấu hun + 70% phân gà), CT7 (20% trấu hun + 80% phân gà), CT8 (40% mùn cưa + 60% phân gà), CT9 (30% mùn cưa + 70% phân gà), CT10 (20% mùn cưa + 80% phân gà). Kết quả sản xuất phân HCVS dạng viên nén cho thấy: (1) phân HCVS dạng viên nén đạt QCVN 01-189:2019/BNNPTNT và có hiệu suất ép tạo viên lớn hơn 85% là: khi ủ phân gà với than bùn ở tỷ lệ 20% (CT4), 30% (CT3), 40% (CT2) với hiệu suất ép tạo viên lớn nhất đạt 94,24% đến 95%. Khi ủ phân gà với trấu hun ở tỷ lệ 30% (CT6), 20% (CT7) với hiệu suất ép tạo viên nén là 88,88% và 90%. Ủ phân gà với mùn cưa ở tỷ lệ 20% (CT10) với hiệu suất ép tạo viên đạt 85%; (2) phân HCVS dạng viên nén không đạt QCVN 01-189:2019/BNNPTNT và có hiệu suất ép tạo viên nhỏ hơn 85% khi phân gà không trộn và ủ với các nguyên liệu hữu cơ (CT1), hàm lượng chất hữu cơ (OM) trong phân viên nén là 13,45% không đạt QCVN. Khi ủ phân gà với trấu hun 40% (CT5) hiệu suất ép tạo viên thấp nhất 65%. Ủ phân gà với mùn cưa 40% (CT8) và 30% (CT9) có hiệu suất ép tạo viên đạt tương ứng là 75% và 77,8%. Kết quả thử nghiệm khả năng bung nở của phân HCVS dạng viên nén cho thấy 10 loại phân viên nén bung nở dễ dàng khi gặp nước, phân viên có mùn cưa bung nở nhanh; phân viên nén có than bùn hoặc trấu hun thì bung nở từ từ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/e2t4kx58
  • NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH KHẢM LÁ TRONG TẬP ĐOÀN GIỐNG SẮN (MANIHOT ESCULENTA CRANTZ) PHỤC VỤ CÔNG TÁC CHỌN TẠO GIỐNG MỚI

    Abstract : 12 PDF: 10
    Nguyễn Anh Vũ, Lê Ngọc Tuấn, Nguyễn Hùng, Đỗ Thị Trang, Nguyễn Thị Hạnh, Phạm Thị Hương, Mai Đức Chung, Nguyễn Văn Đồng, Motoaki Seki, Hiroki Tokunaga, Nguyễn Hữu Phong, Lê Thị Kiều Trang, Nguyễn Văn Hồng, Phạm Xuân Hội, Lê Huy Hàm
    57-63

    Sử dụng công nghệ in vitro tạo vật liệu ban đầu trong đánh giá tính kháng khảm lá, năng suất và hàm lượng tinh bột của tập đoàn 232 dòng/giống sắn, bao gồm 55 dòng nhập nội từ Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT), 100 dòng sắn thu thập ở Việt Nam và 77 dòng chiếu xạ từ hạt sắn giống KM94 tại các vùng áp lực bệnh khảm lá sắn tự nhiên ở Tây Ninh phục vụ sản xuất. Kết quả nghiên cứu thu được 9 dòng sắn có khả năng chống chịu khảm tốt với mức độ biểu hiện nhẹ (1-2 điểm) theo thang điểm của Hahn và cộng sự (1980); trong đó, nổi bật là dòng C-33 không chỉ có tính kháng khảm mà năng suất và hàm lượng tinh bột đều ở mức cho phép. Ngoài ra, quá trình đánh giá cũng chọn ra được 10 dòng sắn triển vọng có hàm lượng tinh bột khá (> 24%) và năng suất cao (> 3,7 kg/gốc). Đây là các dòng sắn tiềm năng, là nguồn vật liệu quan trọng để tiến hành chọn tạo được các giống sắn kháng bệnh khảm lá, có năng suất và chất lượng tốt, góp phần đẩy lùi bệnh khảm lá sắn ở Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/9xkp0g51
  • ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG HỌC, ẢNH HƯỞNG MÔI TRƯỜNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA GIỐNG NGÔ NẾP TÍM VNUA141 VÀ GIỐNG NGÔ NẾP TRẮNG VNUA69 TẠI HẢI DƯƠNG

    Abstract : 14 PDF: 11
    Phạm Quang Tuân, Vũ Thị Bích Hạnh, Nguyễn Văn Hà, Nguyễn Thị Nguyệt Anh, Trần Thị Thanh Hà, Dương Thị Loan, Hoàng Thị Thùy, Nguyễn Văn Mười, Vũ Văn Liết, Nguyễn Trung Đức
    64-75

    Thí nghiệm được thiết kế theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với ba lần nhắc lại trên tất cả các điểm và thời vụ. Kết quả nghiên cứu cho thấy năng suất bắp tươi (NSBT) của giống VNUA141 trung bình cả ba vụ đạt 11,11 tấn/ha cao hơn so với giống đối chứng Fancy111 (10,85 tấn/ha) ở mức có ý nghĩa thống kê. Giống VNUA69 có NSBT trung bình cả ba vụ đạt 12,72 tấn/ha cao hơn có ý nghĩa thống kê so với giống đối chứng HN88 (11,76 tấn/ha). Trung bình cả ba vụ, giống VNUA141 có hiệu quả kinh tế (HQKT) đạt 35,27 triệu đồng/ha cao hơn đối chứng Fancy111 (30,40 triệu đồng/ha) ở mức có ý nghĩa thống kê. Giống VNUA69 có HQKT trung bình cả ba vụ đạt 42,94 triệu đồng/ha cao hơn có ý nghĩa thống kê so với giống đối chứng HN88 (37,75 triệu đồng/ha). Kết quả mô hình AMMI cho thấy giống, thời vụ và sự tương tác giữa giống x thời vụ có tác động đáng kể đến NSBT của các giống thí nghiệm. Ảnh hưởng của giống chiếm tỷ lệ lớn hơn trong tổng bình phương phương sai so với ảnh hưởng của thời vụ và tương tác giống x thời vụ. HQKT của một giống ngô nếp phụ thuộc lớn vào thời vụ trồng và sau đó là bản chất của giống canh tác. Giống VNUA141 và VNUA69 biểu hiện tiềm năng năng suất và hiệu quả kinh tế ổn định tại tất cả các điểm và mùa vụ tại Hải Dương cho thấy ưu thế của các giống ngô nếp chọn tạo trong nước có tính ổn định và thích nghi cao.

    DOI: https://doi.org/10.71254/hkqs0b24
  • ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA TẬP ĐOÀN CẢI MÈO (Brassica juncea L.) ĐỊA PHƯƠNG Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM

    Abstract : 7 PDF: 5
    Lê Thị Thu Trang, Hoàng Thị Huệ, Lã Tuấn Nghĩa, Hoàng Trọng Cảnh
    76-85

    Nghiên cứu tiến hành đánh giá đặc điểm nông sinh học của 30 mẫu giống cải mèo địa phương thu thập từ các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Kết quả cho thấy, 30 mẫu giống cải mèo có các tính trạng màu sắc thân mầm, màu sắc lá, góc lá, dạng phiến lá, mép lá, sự xẻ thùy lá, mụn phồng phiến lá biểu hiện sự đa dạng từ 3-5 cấp độ khác nhau. Các mẫu giống cải mèo nghiên cứu có tổng thời gian sinh trưởng dao động từ 43 - 47 ngày. Giống cải mèo (SĐK 15188) và Phắc cát mèo (SĐK 21667) có tốc độ tăng trưởng nhanh và có chiều cao cao nhất (46,28 - 49,92 cm). Các giống có số lá nhiều nhất là SĐK 13641(18,27 lá/cây) và SĐK 13657 (18,09 lá/cây). Năng suất thực thu (NSTT) của các giống dao động từ 17,02 - 34,14 tấn/ha, trong đó có 18 mẫu giống có NSTT < 25 tấn/ha, 5 mẫu giống có NSTT từ 25-30 tấn/ha và 7 mẫu giống có NSTT trên > 30 tấn/ha. Có 6 loài sâu (bọ nhảy sọc cong, rệp xám, sâu xám, sâu khoang, sâu xanh bướm trắng, sâu tơ) và bệnh đốm vòng thường xuyên xuất hiện gây hại trên các giống cải mèo nghiên cứu trong vụ đông. Các giống cải mèo có hàm lượng chất khô dao động từ 6,57 - 10,51%, hàm lượng đường tổng số dao động từ 0,65 - 1,29%, hàm lượng vitamin C dao động từ 23,14 - 46,01 mg/100 g và dư lượng nitrat dao động từ 104,8 - 409,5 mg/kg. Kết quả nghiên cứu đã chọn lọc được 3 giống triển vọng là SĐK13641, SĐK16431, SĐK21698 có năng suất cao (tương ứng: 31,19 tấn/ha, 34,14 tấn/ha và 32,42 tấn/ha), không đắng, giòn, hàm lượng vitamin C cao (>41 mg/100 g). Các giống này đều là nguồn gen có tiềm năng phát triển tại các địa phương ở miền Bắc Việt Nam, đem lại lợi ích cho người sản xuất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/qwhp6a69
  • KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ VÀ THỜI GIAN TRONG QUÁ TRÌNH LÊN MEN VÀ SẤY ĐẾN CHẤT LƯỢNG HẠT CA CAO TRỒNG TẠI ĐẮK LẮK

    Abstract : 9 PDF: 6
    Lâm Thị Việt Hà, Phan Thị Bích Trâm, Trương Trọng Ngôn, Hà Thanh Toàn
    86-95

    Đề tài khảo sát sự thay đổi độ chua hạt (pH), hàm lượng axit, hàm lượng axit béo tự do (FFA) trong quá trình lên men hạt, đồng thời khảo sát điều kiện tối ưu của yếu tố nhiệt độ và thời gian trong quá trình sấy hạt ca cao trồng tại Eukar, Đắk Lắk. Lên men và sấy hạt là hai quá trình rất quan trọng ngay sau quá trình lên men hạt ca cao. Lên men giúp tiền sinh hương thơm ngon của các sản phẩm ca cao. Quá trình sấy giúp giảm vị đắng chát và tiền tố tạo màu nâu ca cao của các sản phẩm sô cô la, là quá trình quan trọng giúp bảo quản hạt khô. Khảo sát nhiệt độ lên men 40oC, 45oC, 50oC, 55oC trong thời gian từ 0 ngày đến 7 ngày. Kết quả ghi nhận hạt ca cao đạt chất lượng tốt nhất trong điều kiện lên men nhiệt độ 40oC trong thời gian 6 ngày, pH 5,93, hàm lượng FFAs ở mức thấp 0,30%. Kết quả tối ưu của quá trình lên men sử dụng cho nghiên cứu tiếp theo, quá trình sấy hạt. Nhiệt độ sấy thay đổi 4 mức 40oC, 45oC, 50oC, 55oC đến khi hạt đạt độ ẩm 5-7%. Các chỉ tiêu phân tích bằng phương pháp chuẩn AOAC, TCVN 7519 : 2005. Kết quả nhiệt độ sấy 50oC trong thời gian 21 giờ, hạt đạt giá trị pH 6,15; hàm lượng axit 0,82%, hàm lượng axit béo tự do cho phép 1,08%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/fpx19041
  • ỨNG DỤNG CỦA CHỈ THỊ SNP TRONG NGHIÊN CỨU DI TRUYỀN CHỌN GIỐNG THỦY SẢN

    Abstract : 8 PDF: 7
    Lưu Thị Hà Giang, Nguyễn Quốc Vương, Kim Thị Phương Oanh, Vũ Văn In
    96-104

    Nghiên cứu gen và di truyền là phương pháp hữu ích hỗ trợ tăng năng suất và chất lượng sản phẩm thủy sản. Phân tích đa hình nucleotide đơn (SNP) là công nghệ gen mới với các ứng dụng rộng rãi và quan trọng trong nuôi trồng thủy sản. SNP có thể được sử dụng để xây dựng bản đồ liên kết di truyền, tìm ra các vị trí gen liên kết với tính trạng số lượng (QTL), đánh giá chọn giống dựa vào hệ gen và chọn giống dựa vào chỉ thị phân tử. Công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới giúp nhanh chóng phát triển các SNP liên kết và không liên kết với các tính trạng, tăng hiệu quả của các chương trình chọn giống thủy sản. Các nghiên cứu và ứng dụng thành công của SNP trong di truyền chọn giống thủy sản được tổng quan trong bài báo này.

    DOI: https://doi.org/10.71254/4758tx73
  • CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA TRỨNG VÀ ẤU TRÙNG SÁN LÁ GAN NHỎ (OPISTHORCHIIDAE) Ở NGOÀI MÔI TRƯỜNG VÀ TRONG VẬT CHỦ TRUNG GIAN

    Abstract : 11 PDF: 11
    Nguyễn Văn Thoại, Nguyễn Đức Tân, Huỳnh Vũ Vỹ, Vũ Khắc Hùng, Vũ Hữu Trường
    105-109

    Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy trong môi trường nước tự nhiên, trứng sán lá gan nhỏ (O. viverrini, C. sinensis) phát triển thành ấu trùng (miracidium), nhưng trứng không nở ra ấu trùng. Vật chủ trung gian thứ nhất (ốc Bithynia siamensis) ăn phải trứng, miracidium phát triển qua các giai đoạn sporocyst, redia và cuối cùng là cercaria. Sporocyst non chứa nhiều tế bào mầm, có điểm mắt. Sporocyst thành thục có lớp vỏ mỏng, bên trong chứa nhiều redia. Redia thành thục có miệng, hầu, ruột. Cercaria thoát ra từ redia, sống trong gan của ốc, sau đó di chuyển ra môi trường, bơi lội tự do trong nước. Cercaria chứa nhiều sắc tố màu nâu, có giác miệng, giác bụng, 2 điểm mắt, một cái đuôi. Thời gian mầm bệnh sán lá gan nhỏ phát triển trên ốc mất khoảng 55-62 ngày. Cercaria xâm nhập vào vật chủ trung gian thứ 2 (cá trắm, cá mè, cá diếc), phát triển đến giai đoạn gây nhiễm, sau đó rụng đuôi, tạo thành dạng nang kén nằm ở trong cơ vật chủ. Thời gian cercaria từ khi xâm nhiễm vào cá đến khi hình thành metacercaria từ 25-40 ngày.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tyw8wm92
  • THÀNH PHẦN LOÀI SAN HÔ THUỘC BỘ SAN HÔ CỨNG TẠI ĐẢO NAM YẾT, QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM

    Abstract : 13 PDF: 11
    Nguyễn Tâm Thành, Đỗ Hữu Quyết, Trần Văn Đạt, Nguyễn Tài Tú, Phùng Văn Giỏi, Tkachenko K. K
    110-115

    Đảo Nam Yết, quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa. Các rạn san hô khu vực biển đảo Nam Yết đa dạng và phong phú về thành phần loài. Đây là khu vực đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất thành lập khu bảo tồn biển. Kết quả nghiên cứu khảo sát điều tra thành phần loài san hô thuộc bộ san hô cứng tại đảo Nam Yết thuộc quần đảo Trường Sa từ năm 2018 - 2021 đã thành lập được danh mục loài  gồm 162 loài thuộc 17 họ. Trong đó, số lượng loài hiếm gặp tại quần đảo Trường Sa bắt gặp tại đảo Nam Yết là 15 loài thuộc 6 họ. Đây là cơ sở để đề xuất biện pháp quản lý và sử dụng bền vững các rạn san hô tại Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/sk2rpp59
  • BIẾN DỊ VỀ SINH TRƯỞNG VÀ SẢN LƯỢNG HẠT CỦA CÁC DÒNG VÔ TÍNH MẮC CA (MACADAMIA) TẠI HÒA BÌNH VÀ LAI CHÂU

    Abstract : 12 PDF: 13
    Phạm Thu Hà, Nguyễn Đức Kiên, Phan Đức Chỉnh
    116-124

    Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá được biến dị về sinh trưởng và năng suất hạt của các dòng Mắc ca (Macadamia) tại 2 địa điểm ở vùng Tây Bắc. Nghiên cứu được tiến hành trên 2 khảo nghiệm dòng vô tính tại Lạc Thủy (Hòa Bình) và Tân Uyên (Lai Châu) gồm 21 dòng vô tính, được bố trí theo khối ngẫu nhiêu đầy đủ, 3 cây/công thức với 4 lần lặp. Kết quả nghiên cứu chưa ghi nhận có sự phân hóa rõ về các tính trạng đường kính, chiều cao, đường kính tán cây của các dòng Mắc ca khảo nghiệm tại Tân Uyên ở tuổi 5, 6 và 7; tại Lạc Thủy ở tuổi 6, 7 và 8; nhưng tính trạng năng suất hạt có sự phân hóa rõ rệt ở cả 2 khảo nghiệm ở tất cả các thời điểm theo dõi. Tại Lạc Thủy, thứ tự xếp hạng về năng suất hạt bình quân giữa các dòng có sự đồng nhất rất lớn ở giai đoạn tuổi 6 và tuổi 7, trong đó, các dòng cho năng suất cao và ổn định như dòng A38, 842 và 246, dao động từ 6,8 - 7,3 kg/cây. Tại Tân Uyên năng suất hạt tăng ổn định theo tuổi và thứ tự xếp hạng các dòng không thay đổi nhiều ở các tuổi khác nhau, dòng A38 cho năng suất hạt vượt trội nhất so với các dòng còn lại ở tất cả các tuổi, bình quân đạt 3,4 kg/cây (tuổi 5), tăng lên 4,5 kg/cây (tuổi 6) và đạt 7,0 kg/cây (tuổi 7). Kết quả đánh giá cũng cho thấy việc đánh giá năng suất hạt Mắc ca qua các năm là rất cần thiết để xác định được chính xác tiềm năng của giống.

    DOI: https://doi.org/10.71254/v0fcze85
  • ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VÀ SINH TRƯỞNG CỦA CÁC DÒNG VÔ TÍNH LOÀI QUAO (Dolichandrone spathacea (L. f.) K. Schum) 9 THÁNG TUỔI Ở SƯU TẬP NGUỒN GEN KẾT HỢP KHẢO NGHIỆM DÒNG VÔ TÍNH TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ

    Abstract : 6 PDF: 8
    Phan Tiến Dủng, Nguyễn Văn Minh, Hoàng Huy Tuấn, Đặng Thái Dương, Phạm Cường, Đặng Thái Hoàng
    125-133

    Quao (Dolichandrone spathacea (L. f.) K. Schum) là loài cây đa mục mục đích có giá trị cao. Hiện nay chưa có các vườn khảo nghiệm giống nhằm chọn lọc giống để xây dựng vườn giống và cung cấp giống tốt cho công tác trồng rừng loài cây này. Vì vậy, đánh giá khả năng thích ứng và sinh trưởng nhằm lựa chọn các dòng cây trội cung cấp giống tốt cho sản xuất là rất cần thiết. Dùng tiêu chuẩn c052 để đánh giá tỷ lệ sống của các dòng Quao giai đoạn 9 tháng tuổi là có tỷ lệ sống như nhau và dao động từ 78,33% cho đến 95%. Dùng Duncan test để phân nhóm về sinh trưởng đường kính đã chọn được 33 dòng với D0  từ 1,5 cm đến 1,67 cm và phân nhóm về chiều cao đã chọn được 25 dòng thuộc nhóm có sinh trưởng cao nhất với Hvn từ 52,11 cm đến 54,67 cm. Đánh giá sinh trưởng đường kính và chiều cao các giá trị Sig  ở các nhóm đều lớn hơn 0,05 chứng tỏ không có sự sai khác về sinh trưởng của các dòng trong 1 nhóm. Kết quả phân tích, tổng hợp dựa vào 3 chỉ tiêu: tỷ lệ sống, chiều cao vút ngọn, đường kính gốc đã chọn được 19 dòng Quao ưu tú có tỷ lệ sống, sinh tưởng đường kính và chiều cao được phân nhóm, xếp hạng cao nhất ở vườn sưu tập nguồn gen kết hợp khảo nghiệm dòng vô tính tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 9 tháng tuổi gồm: Doli.TTH1, Doli.TTH2, Doli.TTH4, Doli.TTH10, Doli.TTH13, Doli.TTH14, Doli.TTH15, Doli.TTH16, Doli.TTH23, Doli.TTH25, Doli.TTH28, Doli.TTH29, Doli.TTH30, Doli.TTH31, Doli.TTH41, Doli.TTH42, Doli.TTH43, Doli.TTH45, Doli.TTH46.

    DOI: https://doi.org/10.71254/xsmvq722
  • THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN RỪNG TRỒNG SẢN XUẤT CỦA CÁC NÔNG HỘ Ở HUYỆN M’DRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK

    Abstract : 11 PDF: 12
    Ngô Thế Sơn, Nguyễn Thanh Phương, Phạm Văn Trường, H’Na Sơ Rơ Niê, Hà Thị Phương Thảo
    134-141

    Bài báo này giới thiệu kết quả nghiên cứu về thực trạng phát triển rừng trồng sản xuất của các nông hộ ở huyện M’Drắk. Bằng phương pháp phân tích có sự tham gia, phương pháp thống kê kinh tế để phân tích các số liệu được thu thập từ Uỷ ban Nhân dân huyện M’Drắk và khảo sát hộ gia đình tại 3 xã Cư Króa, Cư San và Ea Trang để làm nổi bật hiện trạng trồng rừng sản xuất của các nông hộ tại huyện M’Drắk. Kết quả nghiên cứu cho thấy, diện tích rừng trồng của các nông hộ trên địa bàn huyện M’Drắk năm 2019 là 5.783,1 ha, chiếm khoảng 43% so với tổng diện tích rừng trồng toàn huyện. Diện tích rừng trồng bình quân/hộ dao động từ 2,99 ha đến 4,24 ha, bình quân là 3,73 ha/hộ. Diện tích đất trồng rừng của các nông hộ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới đạt 31,1%. Nguồn lực của nông hộ trồng rừng trên địa bàn huyện còn tương đối hạn chế. Đa số người tham gia trồng rừng của các nông hộ có trình độ văn hoá ở cấp tiểu học và trung học cơ sở, trong đó khoảng 58% số người ở độ tuổi 35 - 55 tuổi. Vốn đầu tư cho trồng rừng khoảng 27,5 triệu đồng/hộ/năm. Loài cây trồng rừng của các nông hộ chủ yếu là keo lai. Cây giống trồng rừng chủ yếu là do người dân tự mua từ các nhà phân phối trung gian, không rõ nguồn gốc cây giống đem trồng. Sản lượng rừng trồng của các hộ ở huyện M’Drắk bình quân đạt 77,02 - 89,93 m3/ha, bình quân là 80,87 m3/ha). Giá trị gia tăng bình quân từ mỗi ha rừng trồng 47,46 triệu đồng. Đa số hộ trồng rừng (37,5% - 82,14%) có nhu cầu hợp tác với nhau để nâng cao hiệu quả kinh tế trong trồng rừng sản xuất tại huyện M’Drắk. Vì vậy, việc thúc đẩy hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất lâm nghiệp tại địa phương này trong thời gian tới cần được quan tâm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zxk84k21
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA HỘ NUÔI TÔM NƯỚC LỢ TẠI TỈNH BẾN TRE

    Abstract : 13 PDF: 10
    Võ Thái Hiệp, Đặng Thanh Hà, Nguyễn Ngọc Thùy
    142-149

    Nghiên cứu nhằm phân tích ảnh hưởng của các biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu đến hiệu quả kinh tế của hai nhóm hộ nuôi tôm sú quảng canh cải tiến (TSQCCT) và tôm thẻ chân trắng thâm canh (TTCTTC) tại tỉnh Bến Tre. Các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu bao gồm điều chỉnh lịch thời vụ, điều chỉnh kỹ thuật, đa dạng hóa sản xuất và phòng ngừa rủi ro. Hiệu quả kinh tế được ước lượng từ hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên Cobb - Douglas, dựa trên số liệu sơ cấp được thu thập từ 92 hộ nuôi tôm sú quảng canh cải tiến và 170 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh. Hiệu quả kinh tế bình quân của các hộ chỉ ở mức trung bình thấp (TSQCCT là 51,11% và TTCTTC là 40,99%) và có sự chênh lệch lớn giữa các hộ. Kết quả kiểm định trung bình mẫu độc lập và hồi quy Tobit cho thấy hộ nuôi tôm áp dụng các biện pháp điều chỉnh lịch thời vụ, điều chỉnh kỹ thuật và phòng ngừa rủi ro sẽ góp phần tăng hiệu quả kinh tế. Nhưng áp dụng biện pháp đa dạng hóa sản xuất có thể làm giảm hiệu quả kinh tế nuôi tôm do phân bổ nguồn lực sản xuất chưa hợp lý.

    DOI: https://doi.org/10.71254/b3wbf534
  • CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ỨNG DỤNG KỸ THUẬT TƯỚI ƯỚT KHÔ XEN KẼ (AWD) TRONG CANH TÁC LÚA TẠI THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG

    Abstract : 13 PDF: 9
    Trần Văn Liêm, Nguyễn Ngọc Thùy
    150-160

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng kỹ thuật tưới ướt khô xen kẽ (Alternate Wetting và Drying - AWD) trong sản xuất lúa của các nông hộ tại thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. Thông qua điều tra khảo sát 200 hộ sản xuất lúa, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính để xác định các nhân tố có khả năng ảnh hưởng đến việc ứng dụng kỹ thuật AWD của nông hộ trên địa bàn. Kết quả cho thấy có 6 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng kỹ thuật AWD bao gồm: i) Điều kiện ứng dụng và khả năng kiểm soát AWD; ii) Ảnh hưởng của cán bộ khuyến nông; iii) Nhận thức lợi ích của AWD đối với môi trường, iv) Ảnh hưởng của người thân, bạn bè; v) Nhận thức tầm quan trọng của AWD; vi) Nhận thức tính dễ ứng dụng AWD. Qua phân tích hồi quy, nghiên cứu cho thấy nhóm nhân tố ảnh hưởng của cán bộ khuyến nông có tác động mạnh nhất đến quyết định hộ ứng dụng kỹ thuật AWD của nông hộ, tiếp đến là nhóm nhân tố về nhận thức lợi ích của AWD đối với môi trường và thấp nhất là nhóm nhân tố về điều kiện ứng dụng và khả năng kiểm soát khi ứng dụng kỹ thuật AWD.

    DOI: https://doi.org/10.71254/j81t9c48
  • PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở ĐÔ THỊ THỨ CẤP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

    Abstract : 13 PDF: 11
    Lê Tuấn Định, Phan Đình Binh, Vũ Thị Thanh Thủy
    161-170

    Nghiên cứu nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường quyền sử dụng đất (QSDĐ) ở đô thị thứ cấp thông qua cung, cầu trên địa bàn thành phố Hà Nội. Nghiên cứu thực hiện điều tra, xác định các nhóm yếu tố ảnh hưởng thông qua xin ý kiến chuyên gia; điều tra 300 hộ gia đình, cá nhân trên các tuyến đường, sau đó kiểm định độ tin cậy, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và chạy mô hình hồi quy tuyến tính. Kết quả nghiên cứu đã xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến cung QSDĐ ở đô thị thứ cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội: biến Kinh tế - hạ tầng (KH) có ảnh hưởng lớn nhất với tỷ lệ 33,92%, biến Chính sách Nhà nước ảnh hưởng (CS) 26,45%; biến Đầu vào (DV) với tỷ lệ 23,07%; biến Kỳ vọng và cung hàng hóa quyền sử dụng đất trên thị trường (KV) với tỷ lệ 16,56%; và xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến cầu QSDĐ ở đô thị thứ cấp: biến Tâm lý, thị hiếu (TL) có ảnh hưởng lớn nhất với tỷ lệ đóng góp 31,02%, tiếp theo là biến Chính sách Nhà nước (NN) với tỷ lệ 26,22%; biến Dân số, lao động, việc làm (DS) với tỷ lệ 23,10% và thấp nhất là biến Thị trường kinh tế (TT) với tỷ lệ đóng góp 19,66%. Các nhà quản lý có thể đưa ra các biện pháp tác động đến kinh tế hạ tầng thông qua quyết định khu vực đầu tư xây dựng hạ tầng để đảm bảo điều kiện phát triển kinh tế, từ đó thu hút người lao động đến làm việc và sinh sống, kích thích và cân bằng cung cầu. Về cầu QSDĐ ở đô thị thứ cấp, nhà quản lý tác động đến tâm lý, thị hiếu thông qua công tác kiểm soát chặt chẽ, xử lý nghiêm những đối tượng đầu cơ trục lợi; ngoài ra, cần công khai thông tin về quy hoạch, tình trạng thửa đất, giá đất để người dân nắm được thông tin chính xác trước khi đầu tư.

    DOI: https://doi.org/10.71254/rg885647